Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

BÀ MẸ NUÔI CỦA PHÙNG QUÁN (II)

Bà Mùi kể lại chuyện diễn ra trên ủy ban cho Phùng Quán nghe. Quán hỏi bà:
- Người ta có hỏi mẹ về chuyện trình báo hộ khẩu không?

- Người ta hỏi làm gì, họ biết tỏng ra rồi là nhà mình có trình báo đầy đủ. Trước khi người ta gọi mẹ lên ủy ban, họ đã đi hỏi xóm hỏi làng, dò la từ đứa trẻ con. Việc gì người ta cũng biết rõ mười mươi đầu cua tai nheo cả đấy.

- Thế người ta có hỏi gì về nhà con thứ bảy chủ nhật về đây chơi với mẹ con mình không. Con nghĩ từ nay vợ con ở lại tối thứ bảy ta cũng nên trình báo, mẹ ạ!

- Anh chẳng phải cẩn thận đến mức đó, vợ chồng ăn ở với nhau là lẽ thường tình. Ngủ có một tối, ở có một ngày, không việc gì phải bẩm báo cả. Vợ anh là cô giáo cấp ba chứ có phải hạng đầu đường xó chợ đâu. Làng này là làng “tôn sư trọng đạo,” anh cứ cứ tin ở tôi. Ấy là tôi nói vậy, còn anh muốn trình báo thì tùy...

Phùng Quán ngồi thừ ra. Ngẫm thân phận mình, thân phận bè bạn, thân phận nhân dân... sao mà cay đắng quá.

- Con nghĩ không việc gì mà mẹ phải làm ầm lên, nước mắt ngắn, nước mắt dài với cán bộ ủy ban.

Cụ Trưởng Giơi chậc lưỡi:
- Tôi phải bù lu bù loa lâu như thế cho họ kiềng cái mặt tôi ra. Tôi già rồi, thân cô thế cô, không làm vậy để cho chúng nó bắt nạt à. Bắt nạt một lần, được thể chúng nó lấn tới bắt nạt liền tù tì là mình thua. Hôm trước ngồi trong bếp nấu cơm, nghe lỏm anh đọc cái truyện gì ấy cho vợ anh nghe. Tôi cũng thích cái đoạn thằng bé người quê anh, mới mười ba mười bốn tuổi mà khôn đáo để. Cái thằng bé hoạt động trong đội thiếu niên gì đó, bị Tây bắt bỏ tù, tra tấn. Tây đánh một nó la mười. Tây đánh mười nó la trăm. Tây vừa vung roi chưa kịp đánh, nó đã la làng. Tôi thích cái câu văn của anh “người ta mạnh đòn, mình phải mạnh miệng.” Ấy đấy, thằng bé ấy nó cũng giống tính tôi đấy. Hay là tính tôi giống tính nó cũng được. Mình ít chữ thì phải mạnh miệng cho chúng nó kệch mình ra.

Phùng Quán suýt phì cười:
- Ðó là chuyện giữa Tây với ta, chứ ủy ban là ta, mẹ là ta, việc gì phải làm như thế!

Bà Trưởng Giơi cả cười:
- Ðúng anh là cái ngữ suốt ngày ru rú ở nhà, công danh hai chữ lờ đờ, bế con cho vợ để nhờ miếng ăn nên chẳng biết cái gì sất. Anh cứ ra chợ mà xem mấy bà bán hàng rong đối chọi với mấy ông quản lý thị trường. Quản lý thị trường vừa mới đặt nhẹ tay vào đôi quang gánh là các bà ấy giật ra ngay, xông tới xô cho quản lý thị trường ngã dúi ngã dụi. Thế là anh quản lý thị trường đứng dậy phủi bụi, lầu bầu mấy câu rồi cắp đít bỏ đi. Bà hàng rong nào mà dại dột thưa bẩm tử tế là nó rút sổ ra ghi biên lai phạt liền. Anh thấy chưa, ra với đời là phải biết làm bà chằng, nặc nô, chứ hiền lành chỉ có thiệt. Ấy là tôi nói vậy.
Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Nói đến đó bà cụ xách rổ rau đi ra hồ Tây. Phùng Quán quá rành rẽ tính nết của cụ, nói chuyện bao giờ cũng phải vận lục bát. Có khi lục bát mở đầu câu chuyện. Nói dăm ba câu phải trái lại vận dụng ca dao hò vè. Kết thúc câu chuyện bao giờ cũng bằng câu lục bát răn dạy việc đời. Cấm có câu nào cụ nói trật... chủ đề.

Mỗi lần có bè bạn đến chơi, Quán thường đưa quyển sổ ghi chép ra đọc cho nghe những câu vè, những câu nói lối, những câu ca dao... mà mẹ nuôi của anh hay đưa ra vận dụng vào các câu chuyện, thường là rất đúng chỗ, rất hợp cảnh, hợp người của diễn biến sự việc. Phùng Quán bảo: mẹ nuôi của tao là nhà sưu tập, nhà sáng tác vĩ đại, một đại diện cho các tác giả văn học dân gian Việt Nam. Mà đúng, cụ Trưởng Giơi thường nhặt những câu tục ngữ, ca dao ở ngoài chợ, ngoài đường. Nhặt để chơi, để nhớ, để vận dụng vào các câu chuyện giữa bà con lối xóm, giữa bà con họ hàng, giữa hai mẹ con với nhau. Ai thích thì thuộc, chứ trong thâm tâm cụ không có ý phổ biến những câu này. Phần lớn những câu đó là do cụ sáng tác tức thì, cụ vận không bao giờ trật.

Như hôm nọ, anh chàng Xuân Lê đến chơi. Cụ biết anh ta vừa vợ đi ngoại tình, vui chuyện, cụ trao đổi dăm câu điều hơn lẽ thiệt, khuyên bảo chàng Lê đừng buồn vì cái sự đời diễn ra như thế. Kết thúc câu chuyện cụ đọc ngay:Khi xưa ngọc ở tay ta/ Vì ta chểnh mảng ngọc sa tay người/ Ai ơi được ngọc chớ cười/ Ta nuôi không tốt để người khác nuôi. Xuân Lê bảo với Phùng Quán: “Nhà này có hai nhà thơ, nhà thơ quốc doanh là cậu, nhà thơ dân gian là cụ, quốc doanh nhất định thua dân gian. Cái gì văn học thành văn tránh né, không dám đả động đến thì dân gian làm ngay: Mỗi người làm việc bằng hai/Ðể cho chủ nhiệm mua đài mua xe/ Mỗi người làm việc bằng ba/Ðể cho chủ nhiệm xây nhà xây sân. Hay là: Thanh tra, thanh lý, thanh gì/ Cứ có phong bì là nó thanh kiu.

Xuân Lê nói là nói cho vui, cứ đọc kỹ những sáng tác của Phùng Quán, từ tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Ðảo,” “Cuộc đời một đôi dép cao su”... ít nhiều le lói chất dân gian trong văn học thành văn, cho đến tác phẩm ở tuổi ba mươi như “Nước ta có một người mù” (nhà xuất bản Thanh niên định in nhưng khi phát hiện tác giả là Phùng Quán chứ không phải như tên ký ngoài bìa nên đình chỉ). Sau khi Phùng Quán được giải tỏa, lấy lại cái tên cúng cơm của mình thì nhà xuất bản cho biết đã làm thất lạc bản thảo, quyển này dày hơn năm trăm trang. Cho đến “Dũng sĩ chép còm” và “Tuổi thơ dữ dội” thì chất dân gian được Phùng Quán khai thác tài tình, tỉ mỉ nhất. Cuốn sách về đội thiếu niên trinh sát thành phố Huế năm 1946 trở thành một cuốn sách không thể thiếu trong mọi gia đình. Trong bộ tiểu thuyết ba tập dày hơn một nghìn trang, Phùng Quán đã cặm cụi, cân nhắc từng chữ, từng dòng trong ngôi lều giữa đảo Nghi Tàm lồng lộng gió hồ Tây. Tôi nghĩ, những ngày tuổi nhỏ chăn trâu cắt cỏ ở vùng quê Thừa Thiên, những ngày lang bạt kỳ hồ khắp miền Bắc, chất dân gian đã thấm vào máu thịt anh, lại được bà mẹ nuôi tiếp sức, vun đắp làm cho những trang văn xuôi của Phùng Quán thấm đẫm chất trữ tình, dân dã...

Hơn một lần, bên chén rượu, thường là trải chiếu bày ra dưới đất, Quán tâm sự:
- Các cậu thấy đấy, tớ chưa viết được trang nào về lối sống của người giàu, cũng như tình yêu nảy nở trong các cặp trai gái con nhà quý phái. Tớ không có vốn sống về cái này, lắm lúc muốn viết đành chịu thua. Thôi thì cái gì mình biết mình hẵng viết, may ra các cậu đọc còn cho là được. Cuộc sống trong trang sách của tớ là cuộc sống của những người cùng khổ, tình yêu nam nữ cũng là tình yêu của tầng lớp họ, nho nhoe viết về tầng lớp trí thức là tớ thất bại liền!

Sau ngày Phùng Quán qua đời, 22 tháng 1 năm 1995, bạn bè, đồng chí viết về Phùng Quán khá nhiều, các bài viết đăng ở hầu hết các báo Trung ương, địa phương, trong Nam, ngoài Bắc, cộng lại chắc không dưới một nghìn trang. Tất cả những dòng viết tràn đầy lòng cảm phục tài năng, nhân cách của Phùng Quán, tràn đầy niềm thương cảm một đời văn, một đời thơ và một đời vật lộn với miếng cơm manh áo. Tuy nhiên, một ngàn trang sách vẫn không vượt qua được sáu chữ của nhân dân khắc họa chân dung anh: cá trộm, rượu chịu, văn chui! Và hai câu lục bát tổng kết về sự nghiệp văn chương của anh rất hóm của bà mẹ nuôi xóm Nghi Tàm:
Công danh hai chữ lờ đờ
Bế con cho vợ để nhờ miếng ăn!


Trích “Ký Sự Phùng Quán”

1  2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét