Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

Đỗ Quý Toàn: Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (Tiệp ký. Bản mới 2020)

Thi sĩ Phùng Quán sau khi đọc cuốn Tìm Thơ Trong Tiếng Nói xuất bản lần thứ nhất năm 1992, đã viết cho tác giả một bức thư, với câu, “Lật đi, lật lại cuốn sách của bạn trong tay, tôi nảy ra ý nghĩ: chốc nữa mình sẽ gọi ông Toàn sang chơi, uống chén rượu, như mấy ông già nông thôn vẫn thường gọi nhau sang uống nước chè qua hàng rào dâm bụt.”

Thi chi nan ngôn dã - 詩之難言也.
CAO BÁ QUÁT -

Nói chuyện thơ


Năm 1851, Cao Bá Quát đang thu xếp hành trang từ bỏ xứ Thần Kinh để trở về Sơn Tây nhận chức giáo thụ, Tùng Thiện Vương gởi ông tập thơ, nhờ viết tựa. Cao Chu Thần viết: “Phù, thi chi, nan ngôn dã” – Ôi, cái chuyện thơ, khó nói thật!

Nhà thơ Cao Chu Thần không phải là người nổi tiếng về đức khiêm tốn, nhất là khi bàn về thơ phú. Nếu ông thú nhận chuyện thơ khó nói, chắc là khó nói thật, không phải ông chỉ nhún nhường giữ lễ với một người bạn bút mực – và một hoàng thân.

Chuyện thơ quả là khó nói thật. Tự nói cho mình nghe đã khó chứ đừng kể nói cho người khác nghe. Kẻ hậu sinh không phải không biết vâng lời dậy của người xưa, mà vẫn cứ viết về thơ như thế này. Chẳng qua là Thơ, cũng như sự sống, như hạnh phúc, mãi mãi cứ là một nỗi ám ảnh không thể nào quên nguôi, đeo đẳng mãi không rời. Như Thiền sư Chân Nguyên, hai thế kỷ trước, đã thổ lộ, “Nói ra là bị kẹt – không nói cũng chẳng xong!” (Hữu thuyết giai thành bảng – Vô ngôn diệc bất dung).

Mỗi lần cầm đến một cuốn sách khảo luận thi ca, tôi đều khấp khởi hy vọng được vén một tấm màn bí mật giúp mình hiểu thơ hơn một chút. Có nhiều tác giả viết về thơ một cách quả quyết, làm cho người đọc cũng an tâm. Có ông đặt tên sách của mình là “Âm và Nghĩa”, rồi biện giải về thơ một cách rất có trật tự, rất đầy đủ, giới thiệu các yếu tố âm và nghĩa tạo ra thơ như thế nào. Có bà trình bầy một cách phân minh ngay từ chương đầu, ba yếu tố căn bản của thơ là cơ cấu, nghĩa lý, và âm điệu. Với ba cái trụ đó, bà dựng lên một hệ thống giúp chúng ta hiểu rõ thơ hơn. Tôi rất khâm phục các tác giả viết về thơ, dõng dạc khẳng định là: “thời kỳ đó chỉ có một người này đáng gọi là thi sĩ” hay “thơ của ông ta chỉ có bài này là hay”. Nghe thấy an tâm như khi nghe một nhà giảng đạo (hoặc một bác sĩ về tâm thần) nói với cả ngàn người: “Mời quý vị nghỉ giải lao mười lăm phút; sau giờ giải lao tôi sẽ nói cho quý vị nghe làm cách nào để từ hôm nay trở đi quý vị có thể sống hạnh phúc!” Nghe hứa hẹn thấy sướng tai thật!

Tô Thùy Yên: Đi về

Hình minh hoạ, FreePik
Khuya rồi, nước đã đầy trăng,
Đi về suốt bãi sông Hằng, gặp ai ?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay ?
Đêm còn, cứ bãi sông này lại đi.
Thấy gì chăng, chẳng thấy gì,
Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê…
Chầy khuya, nước ủ trăng ê,
Uổng công, bãi ấy đi về một ta…
Mãi rồi trời cũng sáng ra,
Phần trăng trăng lặn, phần ta ta về.
Vẫn sông, vẫn bãi bốn bề,
Sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai ?

Lê Hữu: Thái Thanh, tiếng ru muôn đời


Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi!… Tiếng ru muôn đời
(“Tình ca”, Phạm Duy)

“Bài này thì chỉ có Thái Thanh” hoặc “Bài này không ai hát qua được Thái Thanh”, thỉnh thoảng ta vẫn nghe như vậy. “Bài này” có thể là tên một nhạc phẩm của Phạm Duy hay của Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Văn Cao… 

Nhiều ca sĩ một đời ca hát chỉ mong tên mình gắn liền với tên bài hát nào đó và khi nhắc tên bài hát người ta cũng nhắc tên người ca sĩ, để tên tuổi sẽ không chìm vào quên lãng. Riêng Thái Thanh thì không chỉ một mà có khá nhiều bài hát gắn liền với tên chị.

Tiếng nước tôi, tiếng lòng tôi


“Nếu chỉ được Thái Thanh hát cho nghe một bài thì anh sẽ chọn bài nào?” 

Thỉnh thoảng tôi vẫn được hỏi như vậy. Thường thì tôi có chút bối rối khi phải chọn ra bài hát mình yêu thích nhất qua giọng Thái Thanh vì lắm khi bài mình thích chỉ là thích vào lúc nào đó, vào lúc khác thì lại là một bài khác. 

“Anh thử đoán xem?” tôi hỏi ngược lại. 

Người bạn nói vài cái tên, tôi lắc đầu. Anh kể thêm ít bài nữa, tôi lắc đầu.

“Bài ‘Quê nghèo’,” tôi buột miệng.

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2020


Từ Thức: TƯỞNG NIỆM TÔ THUỲ YÊN

Một năm đã trôi qua, ngày TÔ THUỲ YÊN từ trần.

Những lúc lạc lõng, không biết mình đang ở đâu, đi đâu, nhiều người quay về với thơ phú, với thi sĩ. Nhất là những thi sĩ, ngoài cái ngổn ngang tâm sự riêng, còn chia cái đau chung của đồng bào, của dân tộc. Còn là chứng nhân của một cơn ác mộng, một thời đại khủng khiếp. Như Tô Thuỳ Yên.

Nếu tình yêu dễ diễn tả qua thơ hơn là văn vần, hơn là diễn văn, cái đau thương uất nghẹn cũng vậy. Phải bao nhiêu trang mới nói được tất cả cái đau đớn trong 2 câu thơ Tô Thuỳ Yên, diễn tả cuộc chạy giặc:

Xứ khổ, gây chi mùa thảm khốc
Hỡi ơi trời đã bỏ rơi dân

Hay tia hy vọng le lói trong bể khổ: 

Xin cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui vì những chuyện lẻ loi

Người Việt làm thơ rất nhiều, nhưng thi sĩ, rất hiếm. Thi sĩ một mình một chiếu như Tô Thuỳ Yên (TTY) còn hiếm hơn nữa. 

Để tưởng niệm nhà thơ đã ra đi, không gì hơn là đọc lại ‘’ Ta Về ‘’. Tất cả ngôn ngữ, phong thái TTY phảng phất trong đó

Thơ TTY chững chạc, cổ điển như thơ Đường, nhưng mới lạ, táo bạo hơn thơ mới. Đạo mạo như một người đứng tuổi, một ông đồ già, từng trải, ngồi nhâm nhi bên tách trà, ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái, về cuộc đời dâu biển:

Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ 
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
Chỉ có thế. Trời câm đất nín 
Đời im lìm đóng váng xanh xao 

Bùi Bích Hà: Tô Mì Quảng nhớ đời

Viết tặng nhà văn PXĐ.

Bố mẹ chồng tôi quê quán Hà Đông nhưng gia đình lập nghiệp ở Hà Nội, buôn bán gỗ. Cửa hàng có tên là Đông Khê. Vụ kinh tế suy thoái năm 1930, ông bà gặp thời cơ, mua được ngôi nhà lầu bề thế ở ngay Cột Đồng Hồ của Ông Bạch Thái Bưởi, một doanh nhân giầu có, làm chủ hãng tàu biển lớn nhất Việt Nam, chuyên chở người và hàng hóa bằng thủy lộ khắp vùng sông biển trong nước và ra tới các quốc gia lân cận.

Năm 1954, đất nước bị chia đôi. Bố chồng tôi lúc ấy đang ốm nặng nên không muốn ra đi, mẹ chồng tôi phải ở lại trông nom ông cùng với ba chị gái của nhà tôi. Ba người con trai thì hai người anh nhà tôi di cư theo sở làm, riêng nhà tôi còn đi học, bố mẹ chồng tôi giao cho anh thứ hai trông nom. Khi Hà Nội bị tiếp thu, ngôi nhà ở Cột Đồng Hồ bị trưng dụng để chia cho dân từ ngoại thành hay khu chiến về. Mẹ chồng tôi và các chị cố thủ, cả nhà thu mình vào 2 gian phòng ở một góc lầu một, có balcony thoáng mát nhờ gió từ sông Hồng thoảng vào. Sở dĩ được như vậy không phải vì nhà có người ốm nặng nên chính phủ cách mạng có sự quan hoài mà vỉ ngoài bà chị cả nhà tôi an phận tu hành, hai bà chị còn lại xinh đẹp nên được hai ông cán bộ về thành mót vợ xin cưới. Mẹ chồng tôi bấm bụng phải gả cả hai chị để được yên thân, may ra giữ được ngôi nhà mà chính phủ nói là chỉ mượn tạm. Mà đúng vậy thật, sau khi bố mẹ chồng tôi người bệnh trầm kha, người xót con tiếc của, theo nhau về bên kia thế giới, nếu không có hai ông rể cán bộ thì may mắn lắm mới giữ được một phòng.

Lần đầu tôi về Hà Nội thăm hai chị năm 2001, các bậc cầu thang đi lên balcony ngày xưa lót đá hoa bây giờ sứt sẹo, không chỗ nào còn nguyên vẹn, gạch bên trong vỡ ra như xà bần, ngổn ngang chắn hết lối đi. Người qua đường những lúc tối tăm tạt vào đấy tiểu tiện nên mùi khai váng óc. Cái bao lơn bề ngang chừng một thước được cắt ra một khúc làm phòng tắm, nước từ cái vòi nước chảy ri rỉ suốt ngày vào cái xô bên dưới để có nước dùng cả ngày cho nhu cầu thổi nấu và vệ sinh.

Đại khái gia cảnh bên chồng tôi sau làn sóng di cư ồ ạt 1954 cho đến chung cuộc miền Bắc dựa thời cơ chiếm được miền Nam là như thế. Không hiểu trước đó vì duyên nghiệp nào mà một nhánh dòng họ Lê Quang trong gia phả nhà anh lại trôi dạt tới Tourane và lập nghiệp ở đấy. Đám cưới ở Huế xong, trước khi về lại Saigon, nhà tôi đưa tôi vào Đà Nẵng (Tourane ngày xưa) dặn là chúng tôi sẽ gặp chú Đốc Lê Quang Ngoạn, một người trong họ đã gần 70 nhưng vai vế phải gọi nhà tôi là anh. Theo nhà tôi, Chú là người rất có tình, tuy xa xôi cách trở song Chú vẫn giữ liên lạc thân thiết với phần gia tộc ngoài Bắc trước và sau khi đất nước bị chia cắt. Nhà tôi ngại Chú có tuổi mà phải đi xa nên không mời Chú dự đám cưới khiến Chú nghe tin thì buồn trách. Có lẽ vì vậy, nhà tôi vốn quý mến Chú nên muốn chúng tôi gặp Chú để thân chinh tạ lỗi. Ra đón chúng tôi là một ông già người tầm thước, vóc vạc gầy, mỏng nhưng rắn rỏi, đôi mắt tinh anh và giọng nói mạnh mẽ, rất tương phản với râu tóc bạc trên khuôn mặt xương của ông. Ông mặc áo dài vải trắng, quần trắng, đội khăn xếp, thưa gửi anh chị rất lễ phép, tề chỉnh. Sau câu thăm hỏi đầu tiên: “Chú khỏe chứ ạ?” đến câu thứ hai thì tôi không cách nào nghĩ được tôi thuộc hàng chị của ông già trước mặt nên tuy tôi gọi ông là Chú nhưng lại xưng mình là cháu. Chú cười, nhắc tôi: “Em là em của anh chị.”

Hạ Long Bụt sĩ: Văn Hoá Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam

Vô Chiêu hoá giải tà chiêu!
Vô Tư thuần hoá giáo điều 
Vô Tâm phá chấp mưu đồ 

Sông nước MIỀN NAM rất mới trong lịch sử dân tộc, mới khoảng hơn 250 năm, nhưng chính nơi đây là cánh cửa mở rộng mênh mông cho vùng đất cổ Việt đã rất chật, rất cũ, suy tàn, cứng nhắc trong khung cũi giáo điều Tống Nho phong kiến, kiềm tỏa trong lũy tre làng mạc... Người ta ví mảnh đất Việt hình chữ S hai đầu là hai thúng gạo, ở giữa là đòn gánh...hình ảnh rất tiêu biểu, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu, ruộng lúa phù sa nuôi sống triệu triệu dân, đòn gánh Trường Sơn gánh trĩu, gánh nặng quá, suốt 200 năm, từ đời Gia Long thống nhất lần đầu, đến thời cờ đỏ thống nhất lần hai, hai lần giống nhau, thúng gạo hai đầu dân tình đồng bằng có nhu cầu tương đồng. Nhưng thúng gạo mới đồng bằng Cửu Long so với đồng bằng Hồng Hà, phì nhiêu gấp bội, tôm cá vớt lên là có ăn, mật độ dân số chưa đẩy tới nạn kèn cựa sát phạt nhau, đấu tố nhau... một bữa cơm thường ngày của một tiểu công chức miền Tây, thời 1960-70, một tô canh chua thật lớn, tôm càng nướng... thịnh soạn hơn bữa ăn một nhà giầu quan chức ở miền Bắc thời xưa, nếp sống thảnh thơi, không mưa phùn gió bấc, tạo nên một xã hội Việt Nam mới, rộng lượng, hiền hòa, có thực tất vực được đạo, dân no bụng mới hướng về đạo nghĩa, cho nên miền Nam, Tiền giang Hậu giang, lại là nơi tiếp tục dòng đạo lý cổ truyền dân tộc, dân tình chất phác lễ độ, trọng và nghe những ông thầy có học, có tu... Thất sơn linh thiêng, Bà Ðen huyền bí, Phật Thầy Tây An vào thời Tây sang, Hòa Hảo, Cao Ðài vào thời kháng Pháp, khất sĩ Tiểu thừa sâu rễ bền gốc khắp nẻo... rồi đến ông Ðạo Dừa... tạo một dòng đạo sĩ đôn hậu, mang chút kỳ bí, có dân dã bao bọc tin cậy tôn kính đi theo, sinh hoạt hồn nhiên trên vùng đất mới.

Ðiểm nổi bật của nhân sĩ miền Nam, thế hệ cũ, là nét đạo sĩ, hiền, thẳng, không quanh co, ăn nói mộc mạc chân tình, ruột để ngoài da, không mưu đồ hiểm hóc. Thế hệ cụ phối sư Trần Văn Quế, cụ Trần Văn Hương (Cao đẳng Sư phạm Ðông dương)... là thế hệ đạo sĩ miền Nam, đậm nét Nho phong Võ Trường Toản, Phan Văn Trị, rõ nét mộc mạc có sao nói vậy... hình ảnh cụ Hương trên TV ngày cuối tháng 4, 1975, khi trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh, thật cảm động và khó quên : tay cụ run rẩy, ứa nước mắt : đại tướng giờ đây lấy thế gì mà nói chuyện với bên kia? thế này là thế mất nước... tính hào sảng khí khái cương trực của kẻ sĩ còn để lại trong nhân sĩ già Ðồng Nai ! Hồ