Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

Triển Lãm và Hội thảo về Petrus Trương Vĩnh Ký



Một cuộc Triển Lãm và Hội Thảo về nhà học giả Trương Vĩnh Ký do một số giáo chức chủ trương sẽ được tổ chức tại hội trường báo Người Việt vào ngày 8 tháng 12 năm 2018.

Trương Vĩnh Ký là một học giả lớn của Việt Nam sống vào thế kỷ 19, thường được gọi là Petrus Ký, tự Sĩ Tải, sinh năm 1837, Đinh Dậu, vào năm Minh Mạng thứ 18, tại Cái Mong, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (sau thuộc tỉnh Kiến Hòa, hay Bến Tre). Ông mất vào năm 1898, Mậu Tuất, vào năm Thành Thái thứ 9. 

Ông có tư chất rất thông minh, tinh thông Pháp văn, Hán văn, và nhiều thứ tiếng khác, tất cả 27 thứ ngôn ngữ và văn tự trên thế giới, vào cuối thế kỷ 19. Năm 1863, ông được cử làm thông ngôn trong sứ bộ Phan Thanh Giản, đi Pháp để thương thuyết chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm. Về nước, ông tham gia vào ban biên tập của tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định Báo, và vào năm 1869 ông được cử làm Chánh Tổng tài (như Chủ bút, Tổng biên tập) cho đến năm 1871. Ông còn được bổ nhiệm giáo viên, rồi đến đốc học Trường Thông Ngôn (Collègge des Interprêtes); rồi ông làm giáo sư Trường Cai Trị (Collège des Stagières) tại Sài Gòn. Năm 1886, Toàn Quyền Paul Bert đề nghị ông ra Huế sung vào Cơ Mật Viện, để giúp việc ngoại giao giữa chính phủ Pháp và Nam triều. Không lâu, ông về hưu tại Nam kỳ, xuất bản một tờ báo của riêng ông là Tờ Thông Loại Khóa Trình vào năm 1888 và chuyên lo trước tác, phổ biến chữ Quốc Ngữ, cho đến khi ông qua đời.

Nguyễn Tường Thiết: Ông Siu Siu và Chú Tiều

Hình minh hoạ, Internet
Ông Siu Siu và chú Tiều là hai người Hoa sinh sống ở gần nhà tôi trong khu chung cư chợ An Đông Chợ Lớn. Ông Siu Siu là chủ một tiệm cơm gà rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Còn chú Tiều là một người làm công cho mẹ tôi.

Năm di cư 1954 mẹ và các anh chị tôi kẻ trước người sau lục tục vô Nam. Mẹ tôi mua một đơn vị trong chung cư chợ An Đông để ở và lấy chỗ buôn bán. Đơn vị ấy hai từng, từng dưới mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, tên hiệu là Cẩm Lợi, từng trên mẹ con chúng tôi ở khá chen chúc vì diện tích căn nhà không rộng bao nhiêu. Bố tôi chê nhà vừa chật lại vừa gần chợ ồn nên không ở, chỉ thỉnh thoảng lắm mới tạt về. Trên đầu chúng tôi là lầu ba. Lầu ba thuộc một đơn vị gia cư khác. Tất cả những đơn vị ở trên lầu ba đều đi chung một cầu thang riêng, nằm bên hông đường Nguyễn Duy Dương. Căn nhà chúng tôi ở một góc trông ra hai mặt đường nên rất thuận tiện cho việc buôn bán của mẹ tôi. 

Thơ Quỳnh - thi phẩm của Hoàng Xuân Sơn

Văn Học Mới đã phát hành trên Amazon.com :
THƠ QUỲNH – HOÀNG XUÂN SƠN
Giá: US $18; Bìa: Đinh Cường – Trương Vũ; Trình bày: T.Vấn – Hà Nguyên Du
Diễn Đàn Thế Kỷ vui mừng giới thiệu với bạn đọc tập THƠ QUỲNH của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn. 

Bạn đọc của DĐTK không xa lạ với các thi phẩm của thi sĩ Hoàng Xuân Sơn vẫn xuất hiện trên trang Văn Học của báo mạng này. 

Chúng tôi xin trích đăng một vài cảm nhận của bằng hữu tác giả về tập Thơ Quỳnh. Trước hết là cảm nhận tập thơ bằng một bài thơ, Ước Mơ Lãng Mạn của Duyên, một thi hữu :

ước mơ lãng mạn*

duyên.

cơ duyên lạ. được làm quen, người thi sĩ
bạn Đinh Cường. mình, bạn nhau thôi...
anh nói vậy, và tôi hạnh phúc. 
rất tuyệt vời. thi sĩ, Hoàng Xuân Sơn.

Tôn Nữ Thu Nga: Bài thơ mùa đông

Hình : Tôn Nữ Thu Nga
Mùa đông trở về lặng lẽ,
run run giá buốt hồn ai?
Tái tê nữa đời ai lạnh, 
môi ai ngậm tiếng thở dài!
Mưa phùn bay ngoài thung lũng, 
cỏ úa cúi đầu tương tư, 
vời vợi mắt buồn nhung nhớ, 
mượt mà xanh thắm mùa xưa.
Những hạt pha lê lóng lánh, 
mong manh che phủ con đường, 
tan vỡ dưới chân lữ khách,
qua đời không chút tiếc thương! 
Lẻ loi như từng hạt lệ, 
nhẹ rơi theo tiếng ca buồn,
giăng mắc trùng trùng nỗi nhớ,
chờ hoài ai giữa mù sương? 

Tôn Nữ Thu Nga
11-16-2018

Đàm Trung Pháp: Khi Một Thi Hào Mất Trí Toan Tính “Giết Người Trong Mộng”

Thi hào người Ý Torquato Tasso (1544-1595) tài hoa tuyệt trần nhưng cũng bất hạnh vô song. Ông khét tiếng với thiên anh hùng ca Gerusalemme Liberata (Thành thánh Giê-ru-sa-lem giải phóng) và trở thành một trong những thi nhân lớn nhất của Âu châu trong thế kỷ XVI.

Tượng Torquato Tasso, hình cn24tv
Lúc đã luống tuổi, vì Torquato Tasso mắc bệnh tinh thần trầm kha khắc nghiệt, nên lúc nào cũng tưởng mình sắp bị người chung quanh làm hại hay giết chết (hiệu chứng “paranoia” theo khoa tâm lý ngày nay). Ông đã nhiều phen bị cột chặt chân tay trong nhà thương điên vì quá hung bạo và nguy hiểm. Đã bị người đời gán cho biệt danh “il genio poetico pazzo” (thiên tài thi ca mất trí), nhưng Tasso vẫn biết say mê một nữ ca sĩ tài sắc vẹn toàn thuộc loại lá ngọc cành vàng tên là Laura Peperara. Nhưng dĩ nhiên đó chỉ là một giấc mơ tuyệt vọng cho Tasso mà thôi. Bị Laura từ khước, Torquato hổ thẹn và tức giận đến nỗi ông ta ước ao trở thành một con ong để bay đi trả thù cho mối hận tình ấy.

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2018

Ngô Nhân Dụng: Con mèo đen của Tập Cận Bình

Công ty ZTE của Trung Quốc vi phạm chính sách cấm vận Iran của chính phủ Mỹ, nên bị phạt. Các công ty Mỹ được lệnh cấm không cung cấp “chất bán dẫn” cho ZTE. (Hình: Johannes Eisele/AFP/Getty Images)
Hôm Thứ Ba vừa rồi, có nhà kinh tế gây rắc rối cho ông Tập Cận Bình. Ông ta đặt câu hỏi: Nếu đảng Cộng Sản Trung Quốc còn tin ở chủ nghĩa Mác xít thì phải tìm ra một cách giải thích tại sao họ đang dung chứa kinh tế tư nhân?

Ông Cổ Khang (贾康, Jia Kang) từng làm việc trong Bộ Tài Chính, nhắc lại bản Tuyên Ngôn Cộng Sản năm 1848 của Karl Marx và Frederick Engels nói rằng phải xóa bỏ quyền tư hữu các phương tiện sản xuất. Trung Cộng đang làm ngược lại chủ trương đó. Kinh tế tư nhân là động cơ chính giúp nước Tàu tăng trưởng trong gần 40 năm. Hiện nay tư doanh đóng góp 60% vào Tổng Sản Lượng Nội Địa (GDP), và cung cấp việc làm cho 80% giới lao động.

Trung Cộng tách rời Marx Engels từ thời Đặng Tiểu Bình. Khi các đồng chí hỏi tại sao cho phép sản xuất tư nhân, làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, Đặng Tiểu Bình lý luận rất thực tế: Mèo trắng, mèo đen không quan trọng; miễn là nó bắt chuột.

Trần Mộng Tú: Tuổi Hạc

Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông thật mảnh mai; chân dài, người mỏng, trong một bộ lông trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi mà vẫn giữ được phong cách ung dung. Con hạc được coi là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các cụ là tuổi hạc.

Đầu tháng năm vừa qua, tôi sang chơi với vợ chồng người anh ở bên Vienna, DC. Đằng sau nhà anh tôi có một con đường mòn dẫn tới một công viên. Con đường mòn vào cuối xuân chớm hạ thật là đẹp. Suối róc rách chẩy, cây cỏ xanh mướt, những bông hoa núi nở trắng xóa. Chúng tôi mỗi buổi sáng dắt theo con chó đi bộ, vừa đi vừa trò truyện. Tôi bất giác hỏi.

-Sao con người không giống cây cỏ, vào mùa đông héo, úa, rụng, đến xuân, hạ lại hồi sinh nhỉ?

Anh tôi cười, nói

- Cứ giữ mãi được xuân, hạ trong lòng mình là tốt rồi.

Chúng ta những người ở lứa tuổi đang bước vào tuổi già hay đã già. Tinh thần và thể xác không còn như hai mươi năm, mười năm về trước hay thậm chí như mới năm ngoái nữa.

Thông thường bất cứ người mang quốc tịch nào, sinh sống ở phần đất hay hòan cảnh nào thì khi về già hay ngồi gậm nhấm lại quá khứ. Chúng ta là những người từ một quê hương mất mát đến ở trọ một quốc gia khác, chúng ta còn nhiều điều gậm nhấm hơn nữa.

Eleanor Daley phổ thơ của Mary Elizabeth Frye: In Remembrance

Lời Tòa soạn: Một thân hữu trong giới làm thơ kể rằng cô vừa đi nghe nhạc tại một đại học, và cảm động khi nghe bài hát In Remembrance này. Sau đó nhà thơ đã dịch lời bài hát thành một bài thơ tiếng Việt, nhan đề Hoài Niệm.
Xin cảm ơn người dịch tên Duyên đã cho phép DĐTK đăng lại cả hai bài dưới đây, với lời nhắn : mong bài hát này sẽ an ủi được nhiều trái tim còn đang ngơ ngác...

Do not stand at my grave and weep. 
I am not there, I do not sleep 
I am the thousand winds that blow 
I am the diamond glint on snow.
I am the sunlight-ripened grain, 
I am the gentle morning rain. 
And when you wake in the morning‘s hush,
I am the sweet uplifting rush of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night
Do not stand at my grave and cry 
I’m not there, I did not die.


hoài niệm

đừng đứng bên mộ phần tôi, khóc nhé em.
tôi không có đó, tôi không ngủ
khi tôi là ngàn ngọn gió, phất phơ bay
là hạt kim cương sáng ngời trong tuyết trắng
ánh mặt trời rực rỡ ươm vàng lúa chín
Là hạt mưa êm nhẹ sáng nay
khi em thức giấc trong tĩnh lặng bình minh sớm
tôi sẽ là ngọt ngào êm ái, những cánh chim bay vòng, chào ngày mới
tôi cũng là ánh sao, nhẹ nhàng tỏa sáng lúc về đêm 
thì đừng khóc bên mộ phần tôi em nhé
tôi không có đó, tôi có chết đâu em.

duyên 

Phạm Phú Minh: Đỗ Ngọc Yến, Tuổi Học Trò

Đỗ Ngọc Yến và Phạm Phú Minh
Lửa hồng cháy... cháy trong đêm dài...
Lửa là hồn trai soi vào đêm thâu 
cho đời tươi mãi...
... Chập chờn trước mắt là ánh lửa soi
chập chùng sau lưng là non là núi
Lửa hồng cháy... lửa hồng ơi...
Đời người thanh niên là ánh lửa soi
Lửa hồng đốt cháy buồn bã sầu ai
Lửa hồng cháy... lửa hồng ơi...

Đêm lạnh giá ở Đà Lạt, tháng Tư năm 1958, bên hồ Than Thở, cả bọn ngồi quanh đống lửa củi thông cháy phừng phừng say sưa hát. Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến, Phạm Phú Minh cùng ba người bạn lớp Đệ Tam C Petrus Ký đã làm một chuyến đi trại đầy mạo hiểm nhân kỳ nghỉ lễ Phục Sinh năm ấy. Tuổi học trò, mỗi thằng mang theo một cái xắc đeo vai đựng gạo và áo quần ấm, một chiếc xe đạp, đi xe lửa từ Sài Gòn lên Đà Lạt, vào giữa rừng thông bên hồ Than Thở dựng lều và sống ở đó bảy ngày. Tất cả do Đỗ Ngọc Yến làm đầu têu...

Uông Triều: Người tình cuối trong cuộc đời Hồ Xuân Hương là ai?

Tranh Thi sĩ Hồ Xuân Hươngcủa họa sĩ Phùng Dzi Thuần.

Mối tình cuối cùng của Hồ Xuân Hương là với Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển vào khoảng năm 1814 -1818, đây có lẽ là thời gian hạnh phúc nhất của bà. 

Nữ sĩ họ Hồ là một tài thơ hiếm thấy và có mối kết giao rộng rãi với các bậc văn nhân tài tử đương thời. Xuân Hương từng kết bạn với Nguyễn Du, Tốn Phong Thị, Chiêu Hổ, Tham hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tỉnh.... và đã làm lẽ vài lần. 

Những mối tình của bà luôn gắn với những giai thoại lưu truyền trong dân gian và trong thơ ca. Mối tình cuối cùng của Hồ Xuân Hương là với Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Hồ Xuân Hương làm vợ lẽ Trần Phúc Hiển vào khoảng năm 1814 đến 1818, và đây có lẽ là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của bà.