Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2020

Mai Thảo: Thảm và tiếng động

Không biết bởi nguyên nhân nào- có thể là cái hiện tưọng của cảm giác một lần đã nhận chịu một chạm đụng dữ dội, chạm đụng còn vang ngân mãi mãi trong vòm trời trí nhớ, hiện tượng với tôi, còn giải thích cho các vị trí khác thường của một số hình ảnh đặc biệt trong trí tưởng một đời người - tôi yêu lắm những hành lang. Một hành lang khách sạn chạy qua những cửa buồng đánh số, một hành lang lâu dài dẫn lên tháp canh cao vút hay dẫn xuống những cửa hầm tối thẳm, một hành lang biệt thự với những tấm gương, một hành lang bảo tàng trầm tư nhũng pho tượng, tôi đều yêu. Cả đến cái hành lang rùng rợn kia, nơi người tù tử hình bước những bước chân cuối cùng của đời y tới phòng hơi ngạt, như những đời hành lang khác, cũng chuyên chở cũng ngưng đọng trên cái thăm thẳm chạy dài của chúng những dư âm và những hình bóng dị thường. Của một ngôi nhà hành lang là linh hồn. Nó có một đời sống và một định mệnh riêng tây. Cho bất cứ một kiến trúc nào hành lang là cái phần đắm chìm, mơ màng và phảng phất nhất. Đêm trên hành lang, tiếng chân anh vang động hơn. Đi trên một hành lang, đã thường hằng trong tôi là cái cảm tưởng đi trên một phím dương cầm. Và ngọn đèn đêm kia đổ xuống bóng người cô đơn trở về. ngọn đèn đó chính là con mắt ráo hoảnh của đêm thao thức không cùng mở lớn.

Tuần lễ vừa qua; để thay đổi một không khí, thấy khác một vùng trời, đến ở mấy ngày tại một khách sạn miền núi, khi rời khách sạn, cái hình ảnh duy nhất còn lại trong tôi vẫn là cái hình ảnh thăm thẳm ấy của một hành lang. Đó là một lối đi rất dài và rất rộng, như một con sông chảy giữa những bờ tường. Lên khỏi cầu thang, sau những cột gỗ nghiêm nặng, cái thế giới ngưng đọng tịch mịch thình lình hiện ra trước tầm mắt. Những bước chân tôi cũng thình lình bặt tiếng. Một tấm thảm dầy đã thu hút hết mọi tiếng động. Không khí ở đây lạnh buốt. Hành lang nằm giữa lòng một kiến trúc nhiều tầng bát ngát. Ở đây là đêm và ngày không nhận định, sáng và trưa cùng mơ hồ, cái tranh tối và tranh sáng trộn lẫn, tối và sáng cùng vô tính như nhau. Thoạt đầu tôi không phân định được gì. Hành lang nào cũng thế. Phút thứ nhất nó chỉ là một hình thể trống trơn và vô nghĩa. Hai bên, những căn buồng đóng kín. Hành lang chạy ở ngoài, xa lạ với mọi cuộc sống bên trong. Nhưng từng phút rồi từng phút những cái ngưng đọng, những cái vô hình, những cái phảng phất đã quanh tôi dần dần vây kín. Bằng một nghìn con mắt yên lặng nhìn người. Tôi bàng hoàng. Tôi im lặng theo. Và tôi không nhầm được nữa. Tất cả đã tới đây, tất cả còn nguyên vẹn. Thứ hơi lạnh chạy dài trên suốt khắp mặt thảm chính là cái hơi thở của nhiều mùa đã được chuyên chở tới chốn này. Và trong hơi thở ấy, có cỏ, có sương, có rừng có núi. Những chiều mưa làm nhòa nhạt mọi khung kính, núi rét mướt đứng. Những đêm mùa đông, thông một triệu gốc lạnh, lời thác cũng buồn rầu. Những buổi trưa mùa thu, một cánh bướm bay lạc trong nắng, dưới thật xa thung lũng. Những tinh sương kín đặc sương mù, rừng mang linh hồn biển, và trên những con đường nhỏ của rừng, lá từng từng rơi xuống, lá dệt thành một tấm thảm dầy, ở đó không một dấu chân nào đi qua.

Trần Mộng Tú: Chén Trà Sáng

Hình minh hoạ, Freepik
Tiếng máy thổi lá ở vườn sau
lọt qua khe cửa

Kéo cánh cửa nhìn ra
người đàn ông tóc trắng
đang cầm máy thổi những chiếc lá vàng
đám lá bay tung lên
như đàn chim vỗ cánh

Nắng chấp chới đuổi theo
một góc vườn được chúc phúc

Ồ anh vẫn còn đấy
ta sống thêm một ngày
đôi mái đầu sương pha
bốn bàn tay nhăn
vẫn vốc được thời gian
rắc trên những tảng đá trong vườn

Đời sống mong manh như bụi đất
bám vào đá
cho mầm non vươn lên

Bên ngoài kia rất nhiều tiếng động
tiếng động dội vào nhà ta
dội vào tâm ta
cách ly ta với gia đình
cách ly ta với bạn hữu

Anh thổi lá xong
nhặt những tiếng dội ra ngoài lồng ngực
khẽ khàng vùi vào đất
thay bộ áo làm vườn

Trà đã pha trong ấm

Em rót thinh lặng
em rót niềm tin
em rót cái đẹp
tất cả vào tách trà này

Ta cùng nhau cạn chén
Buổi sáng an bình.

tmt

12 tháng 11/2020



nguyễn đức tùng: khi còn bé tôi đọc sách (Tiếp theo và hết)

4.


Tác phẩm thiếu nhi cổ xưa có khuynh hướng luân lý, chú trọng nhiều đến cảm xúc. Các nhà văn sau đó đã thay đổi quan niệm ấy, tác phẩm của họ mang tính khách quan, tự nhiên, dùng giọng nói của trẻ con. Mà trẻ con thì không quan tâm đến luân lý, chúng chỉ hành động tự nhiên: cái tốt của con người nằm ở tính tự nhiên ấy. Trẻ con ngày một trở thành những công dân của thế giới, vì vậy sách dành cho trẻ con ảnh hưởng biết bao đến khuôn mặt xã hội. Sự hấp dẫn của lối văn, tài quan sát, cái sắc sảo trong cách nhìn sự vật, tình cảm đằm thắm, cảm xúc chân thật, là những thứ làm tôi trở lại với một cuốn sách, đọc nó lần thứ hai. Tôi tiếc rằng tôi biết đến cuốn Ngàn lẻ một đêm khá muộn, khi tôi đã lớn. Tôi yêu mến cuốn sách ấy nhưng tin rằng nếu được đọc nó từ những năm mười tuổi, cảm xúc của tôi đã khác, thế giới của tôi đã khác. Alibaba và bốn mươi tên cướp đã có thể làm tôi nghĩ khác đi về thế giới. Một người bạn của tôi ở Sài Gòn than rằng đọc Kim Dung không thấy thú, vì anh đọc lúc ngoài năm mươi tuổi; tôi e rằng đó không phải là cái tuổi để bắt đầu đọc kiếm hiệp. Tôi đang nói đến một điểm mà các nhà giáo dục lưu tâm: không những cuốn sách được giảng dạy có nội dung như thế nào mà chúng nên được giới thiệu vào lúc nào, mấy tuổi. Tôi học truyện Kiều chương trình giáo khoa năm lớp chín, mười bốn tuổi. Tức là khá sớm. Hình như ngày nay trong nước cũng dạy truyện Kiều vào tuổi ấy? Như thế là quá sớm hay quá trễ? Đối với tôi, tuổi ấy thích hợp để bắt đầu tiếp nhận thơ Nguyễn Du, nhưng chỉ bước đầu thôi, vì vậy vào năm cuối bậc trung học, các em cũng cần phải học lại Kiều một lần nữa. Mười bốn tuổi chưa đủ chín chắn để hiểu hết cái hay đẹp của Kiều, nên nhiều người lớn lên thì quên hẳn. Thơ đến với tôi muộn hơn với văn xuôi. Trong một lớp học báo chí ở Canada mà tôi theo học, bài giảng đầu tiên là bài về thơ. Nếu đọc các nhà văn lớn Âu Mỹ đương đại, ta đều thấy các thủ pháp thơ ca được họ sử dụng. Lục bát là một thể thơ đặc biệt, tôi bắt đầu yêu thích nó không phải chỉ từ truyện Kiều mà còn nhờ đọc tạp chí Văn số đặc biệt “Hai trăm năm sinh Nguyễn Du”. Tôi tìm thấy ở lục bát của Hoài Khanh, Bùi Giáng, Cung Trầm Tưởng, trong mục “Lục bát bây giờ”, và Tản Đà, Huy Cận, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, trong mục “Lục bát ngày xưa”, sự hấp dẫn của thể thơ dân tộc. Câu thơ lục bát thật quyến rũ, có nhiều điều để bạn học hỏi. Chức năng của các chữ trong một câu thơ khác nhau tùy vị trí: những chữ quan trọng nhất là chữ mở đầu, quyết định giọng của câu thơ, và các chữ cuối, vì chúng bắt vần với hai câu trước và sau nó. 

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san


Chữ màu và chữ san là quan trọng nhất. Chữ cuối còn quan trọng vì nó phải dừng lại lâu hơn.

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về



Võ Phiến: Xem Sách

Chàng nhổm dậy, hạ lưng ghế xuống thêm một bực nữa. Rồi xoay người lại, nằm thử. Bấy giờ thì thật là hoàn toàn thoải mái. Chiếc ghế vải này vừa vặn lắm.

Ở hè nhà, phía ngoài đường lớn, có tiếng rắc rắc đều đều của chiếc tông-đơ hớt tóc đang hoạt động. Người thợ đặt một bàn làm việc nhỏ ngoài hè. Còn phía bên này thì có con hẻm lát gạch tử tế, hẻm vượt quá nhà chàng là tịt: một ngôi nhà chận bít nó lại. Ngay trước nhà ấy có chum nước, lâu lâu nghe có tiếng người ra chum múc nước rửa ráy. Tất cả những tiếng động ấy, những hoạt động ấy, đều ở bên ngoài. Tất cả chỉ củng cố thêm cảm tưởng an toàn của chàng. Chàng hoàn toàn được an toàn lúc này, không còn nghi ngờ gì nữa.

Bên ngoài trời lại vừa đổ mưa nặng hột nữa. Càng tốt. Như thế càng tăng thêm cảm tưởng an toàn. Không nghe tiếng mưa rơi, nhưng khi mưa đã đủ nhiều thì nước từ máng xối đổ xuống lách tách. Chàng đánh diêm châm thuốc. Hút cho ấm, ngả người trên ghế vải, trong một gian phòng đóng cửa thật kín, gian phòng của chàng, bên cạnh kệ sách, chiếc giường, và những áo xống của chàng mắc trên vách...

Trong tấm gương ở mặt tủ, chàng chợt thấy phản chiếu đầu chàng, ngậm píp. Trong gian phòng lờ mờ cái đầu thiếu chi tiết trông quả là giống bức họa của Liêu Hà vừa trông thấy ngoài hè phố. Họa sĩ Liêu Hà là bạn chàng từ ba mươi năm. Hắn ta đã theo dõi khuôn mặt và đầu chàng từ lâu. Trong ba mươi năm, tùy theo các phong trào nghệ thuật kế tiếp nhau — ấn tượng, siêu thực, lập thể, vô hình dung, trừu tượng v.v... — hắn đã vẽ nhiều đầu và mặt chàng, khi theo lối này khi theo lối khác.

Còn chàng, đâu phải vừa. Thoạt tiên, khi mới có thơ đăng báo lai rai, chàng lừa cơ hội đưa ra tấm hình đẹp trai nhất của mình. Cái hình trong đó chàng ăn mặc chỉnh tề nhất và mỉm cười. Về sau, chàng thích được chụp hình với mấy cuốn sách trên bàn. Trên ba mươi tuổi, hồi đó chàng đã vững chỗ ngồi trên thi đàn, tâm hồn đã chín chắn hơn, chàng ăn mặc tự nhiên có chút cẩu thả: thường thường chỉ có sơ-mi, không cà-vạt; gương mặt có nét suy nghĩ thường xuyên. Đến lúc chàng bắt đầu mang kính trắng và hút píp thì Liêu Hà kiểu thức hóa cái đầu chàng một cách tài tình bằng ít nét đơn sơ. Trông qua, nhận ngay ra chàng. Điều quý báu hơn nữa là còn nhận được kẻ có khuôn mặt ấy phải là một nghệ sĩ đang có nhiều băn khoăn trước cuộc đời. Hai con mắt với cặp kính tròn xoe thao láo nhìn vào một nỗi hoang mang đáng hãi. Đó là chàng, mà đó cũng là một nghệ sĩ nói chung của thời đại, là một biểu hiệu đẹp đẽ dùng chung cho cả giới. Chắc chắn vì thế mà hình vẽ của Liêu Hà được phổ biến rộng rãi nhanh chóng, lắm khi được dùng như một hình trang trí ở mục thi ca các tạp chí. Dần dần, đối với đa số độc giả nó không còn là khuôn mặt chàng, khuôn mặt của một ai nữa; đó là khuôn mặt của nghệ sĩ. Chẳng bao lâu, đó sẽ là khuôn mặt của nghệ thuật.

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2020

Vũ Hoàng Chương: Trích đoạn Hồi thứ I kịch Vân Muội

Sao lòng ta đêm nay buồn không thể nguôi ?
Niềm u uất dâng cao mà tháng ngày trôi xuôi...
Há vì cơm áo chẳng no lành ?
Há vì đời không ai mắt xanh ?
Nhớ thuở xưa chưa có ta thì đường đi thênh thênh.

Kịp tới khi có ta là chông gai mông mênh.
Cuồng vọng cả mà thôi, bốn phương đều vướng mắc.
Ba mươi năm trên vai mà trống không bình sinh...
Gối vải mộng phong hầu
Vinh quang đường lối khép
Thẹn trước thương về sau
Đời tàn trong ngõ hẹp...
Mưa lùa phên nứa khép
Ngày trắng theo nhau qua
Lá rơi đầy ngõ hẹp
Đời hiu hiu xế tà.

Ôi ! ta đã làm chi đời ta ?
Ai đã làm chi lòng ta ?
Cho đời tàn tạ lòng băng giá,
Sương mong manh quạnh chớm thu già.

Mải mê theo sự nghiệp
Quá trớn lỡ giàu sang
Mưa rơi lầy ngõ hẹp
Lá vàng bay ngổn ngang
Dìu vương nhau mươi chiếc lá khô vàng,
Xuân đời chưa hưởng kịp
Mây mùa thu đã sang !

Giấc hồ nghe phấp phới
Cờ biển nhịp mơ màng
Đường hoa son phấn đợi
Áo gấm về sênh sang...

Đường hoa về áo gấm ?
Chao ôi! Ta nhớ kiếp nào xưa !
Tiền thân còn thoáng hương mơ
Lều tranh gối vải phai mờ vàng son...


nguyễn đức tùng: khi còn bé tôi đọc sách

1. 


Khi còn bé, tôi đọc sách. Tuổi thơ của tôi rơi vào buổi bình minh của miền Nam, một trong những thời kỳ phát triển tốt đẹp của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Cuộc đời rộn ràng bắt đầu, học sinh, công nhân, công chức, tư chức, người đi chợ búa tấp nập trên đường, những cánh cửa mở ra, đóng lại, tiếng xe máy, tiếng chuông xe đạp leng keng, chuông nhà thờ, chuông chùa. Trường học xây lại, nhà ga hoạt động, cầu cống, quán xá nhộn nhịp, đời sống rộn ràng mở cửa khi tôi sinh ra, lớn lên. Môi trường ấy thích hợp cho một nền văn học tươi trẻ, lành mạnh, cho những cuốn sách thiếu nhi, tiểu thuyết, phim ảnh, sân khấu. Chiến tranh chống Pháp vừa kết thúc, hòa bình lập lại, mọi người muốn trở về với cuộc sống thanh bình, bắt tay làm lại. Người ta muốn viết sách, muốn đọc sách. Người ta muốn thí nghiệm giống lúa mới, trồng cây ăn quả, muốn học nướng bánh mì, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời, đi chùa, đi nhà thờ, đến trường. Người ta muốn sinh đẻ và được sinh đẻ, muốn sống và muốn người khác được sống. Tinh thần của Tự lực văn đoàn, của Thơ mới, của văn chương tiền chiến tưởng đã chết trong thời kỳ kháng chiến nay hồi sinh mạnh mẽ. Trong một xóm quê hẻo lánh, ở nơi xa kinh đô nhất, nơi ánh sáng của ước mơ dân tộc chiếu rọi tới chỉ vừa le lói mà thôi, tôi ngồi đọc.

Sách vở do các anh chị tôi mang về, không biết từ đâu. Thị xã bé tí xíu mà có đến năm hiệu sách: Tùng Sơn, Lương Giang, Văn Hoá, Tao Đàn, Phú Long. Chúng tôi không có thư viện, chỉ có một phòng đọc sách báo, đọc tại chỗ. Nhưng những cuốn sách tôi say mê toàn là sách cấm. Một lần trong phòng đọc của ty thông tin Huế, trên đường Trần Hưng Đạo, thấy tôi đứng đọc cuốn Những người đau khổ của Dương Hà, cô quản thủ thư viện, tóc phi dê, mắt đen nhánh, đến bên ngăn lại và bảo, em còn nhỏ quá không nên đọc cuốn này. Năm nấy tôi mười ba tuổi. Nhưng tôi không có nhiều chọn lựa. Tôi đọc bất cứ cái gì rơi vào tay, lọt vào mắt, dù đó là những người đau khổ hay hạnh phúc. Theo mẹ tôi đi chợ, tôi đọc tên đường, bảng quảng cáo, tờ programme chiếu bóng, tiếng Việt, cả tiếng Pháp mà tôi không hiểu mấy, chỉ có chữ Hán là chịu. Thế mà khi thấy những tờ giấy có chữ Hán rơi trên đường, mẹ tôi đều nhặt lên, mang về nhà cho tôi. Sau này khi được phép lục lọi tủ sách của ba tôi, trước đó khóa kỹ vì ông đi dạy học ở xa, tôi đọc trong một năm tất tần tật từ Chiếc cáng xanh của Lưu Trọng Lư đến Những bàn tay bẩn của Jean Paul Sartre, từ Lan Hữu của Nhượng Tống đến Giông tố của Vũ Trọng Phụng. Năm mười hai tuổi tôi nhớ cảnh cô Mịch đi gánh lúa bị nghị Hách lôi vào xe hơi. Tôi đâm yêu cô Mịch nhưng tức giận với gã đàn ông thô bạo kia. Nếu có súng tôi đã giết hắn. Có lẽ vì thế mà những đứa trẻ thích đọc truyện hiệp sĩ và công chúa, thám tử và giai nhân. Duyên Anh làm tôi sửng sốt vì cả hai: tuổi nhỏ mơ mộng và du đãng anh hùng. Xóm quê của tôi có nhiều người thích đọc sách báo. Trong quán hớt tóc gần quốc lộ Một, tôi đọc trọn vẹn Thời nay, Phổ thông tạp chí, Đa hiệu của võ bị Đà lạt, trong nhà ông anh họ gần bến đò, tôi đọc Văn hóa ngày nay, Tuổi hoa, Giữ thơm quê mẹ, Lập trường, trong phòng đọc sách của tỉnh lỵ tôi đọc các nhật báo từ Sài Gòn, tờ Hương Quê với các truyện ngắn tuyệt hay của Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam. 

Ngô Nguyên Dũng: Những Cánh Chim Giấy

Cửa tiệm bán dụng cụ học sinh và văn phòng nằm ở đường Trần văn Thạch (*), giáp ranh hai đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân miệt Tân Định, tuy nhỏ nhưng sạch sẽ và bày biện ngăn nắp. Tiệm có tên Thế Giới. Chủ tiệm người gốc Hoa. Ngay cửa, lúc nào cũng mở toang, bên phải, có dựng một tủ kiếng lau chùi sáng loáng, thấy trưng bày tập vở học trò, viết máy, những vật dụng học sinh lỉnh kỉnh, và nhiều bộ tem thư nước ngoài.

Thuở ấy, giữa thập niên một chín sáu mươi, tôi đã đến tuổi được phép đi học một mình bằng xe gắn máy. Những sáng thứ năm, thời trung học đệ nhất cấp tại trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng, chỉ phải học hai tiếng. Trong khi các bạn theo Ky-tô giáo phải ở lại học thêm giờ giáo lý, tôi được ra về thơ thới, hân hoan. Sáng Sài gòn, vào giờ ấy, không còn kẹt xe. Nắng ngày chỉ mới e ấp nóng. Vào những tháng cuối và đầu năm, thời tiết dịu mát, khoan thai bắt đầu một ngày mới. Trước khi về nhà, tôi thường ghé ngang tiệm, dán mắt chiêm ngưỡng những bộ tem trưng bày trong tủ kiếng. Thấy bộ nào ưng ý, tôi xem bảng giá viết bằng tay bên cạnh và nhẩm đếm số tiền nằm trong túi. Thường thì không đủ. Tôi ra về, thầm tiếc rẻ và nhủ lòng sẽ dành dụm để mua cho bằng được.

Cũng như nhiều bạn học của tôi lúc ấy, tôi có sở thích sưu tầm tem. 

Ba tôi, thuở trước, cũng vậy. Ông còn giữ một tập tem khổ lớn, bìa cứng màu xanh lá cây. Giấy bên trong dày, vàng nhạt, mỗi tờ đều được lót giấy lụa mỏng. Về sau, tập tem được ông trao cho anh Ba tôi. Anh đem cất trong tủ riêng, chỗ anh lưu giữ những xấp thư kết bạn bốn phương.

Thỉnh thoảng, không có anh ở nhà, tôi rón rén mở tủ, lấy tập tem của ba ra xem. Tim tôi rộn rã. Tay tôi lần mở từng trang, từng trang một. Hai mắt tôi mở lớn. Toàn những bộ tem Việt Nam thời trước. Bộ vua Bảo Đại, hoàng tử Bảo Long, hoàng hậu Nam Phương, kỷ niệm năm di cư 1954. Và bộ tem tổng thống Ngô Đình Diệm, mười hai con. 

Nguyễn Hiền: Ai nấu hơn ai?

“Đầu bếp giỏi là đàn ông”. Câu này chúng ta rất thường nghe và nhiều người coi như đó là một khẳng định chắc nịch. Là một người biết nấu ăn đôi chút, nhiều lúc tôi cũng tự hỏi mình là nhận định này có đúng không. Tôi cảm thấy mình nấu chưa bằng ai, các bạn nam giới của tôi cũng chẳng thấy ai nổi trội hơn mấy bà. Có bằng cớ gì chứng minh, hay có luận cứ nào giải thích được câu trên chăng?

Từ khi suy nghĩ về vấn đề này, tôi bắt đầu để ý, và quả thực, qua giới thiệu của những nhà hàng nổi tiếng, tôi thấy đầu bếp chính của họ tuyệt đại đa số là đàn ông. Ngược lại, khi ăn những tiệm bình dân, nhà hàng nhỏ, tôi thấy đầu bếp phần lớn, tuy không phải tuyệt đại đa số, là nữ giới. Như thế, có thể đi tới kết luận: một khi nhà hàng phát triển, đầu bếp nữ phải rút lui? Nghe có vẻ nghịch lý.

Từ thắc mắc này, trong suốt nhiều năm, tôi đã để ý, suy nghiệm để thử tìm một số giải đáp cho câu hỏi: “Nấu bếp, giữa nam và nữ, ai giỏi hơn ai?”

Nhà hàng lớn là nhà hàng nấu ngon?


Trước tiên, ta phải thấy ngay câu này sai. Ở Thái Lan, Trung Quốc… có những nhà hàng khổng lồ nhưng ai dám bảo đó là nhà hàng ngon. Cách nơi tôi ở mười phút xe có một nhà hàng wok Á châu (De Malle Jan, làng Maarseveen – Hòa Lan) nổi tiếng do sức chứa 1200 người và hơn 20 giàn bếp, nhưng quả thực nó chỉ có tiện lợi, hoa hòe thôi chớ không ngon.

Ở những nhà hàng nổi tiếng ngon, qua đánh giá của Trip Advisor, nhiều khi bạn phải đặt bàn trước vài ngày hay một tuần. Tại nhà hàng el Bulli (năm 2013 đã đóng cửa) bạn phải đặt bàn trước cả năm.

Chắc chắn một điều: Những nhà hàng nổi tiếng nấu ngon không phải là nhà hàng có diện tích lớn.

Đầu bếp của nhà hàng nổi tiếng là đàn ông hay đàn bà?