Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Nguyễn Văn Sâm: Trương Vĩnh Ký, người yêu nước

Lời Tòa Soạn.- Xin mời độc giả theo dõi bài dưới đây, đã được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm trình bày trong buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Trương Vĩnh Ký tổ chức tại báo Người Việt, Orange County Nam California vào ngày 8 tháng 12, 2018.
DĐTK
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm


Xin kể hai chuyện văn chương sau đây như phần dẫn truyện cho buổi diễn thuyết.

1. Một truyện trong cuốn sách Truyện khôi hài 1882 của Trương vĩnh Ký:

Lão kia hay chữ mà cà xốc, thấy con kia đề đạm nhủm nha có duyên có sắc thì hát chọc rằng: 

Thấy em cũng muốn làm quen/ Lại sợ em có chữ thiên trồi đầu.

Con kia đáp lại: 

Anh ơi chớ nói thêm rầu, chữ thiên trồi đầu lại có phết vai.

Ông TRƯƠNG VĨNH KÝ bàn rằng: Chữ thiên天 trồi đầu là chữ phu 夫 (chồng), còn chữ thiên trồi đầu lại lại có phết vai là chữ thất 失, nghĩa là mất, tức là muốn nói có chồng nhưng chồng đã chết.

Tôi, NVS bàn rằng: Chữ thất đó lấy âm mà thôi đi với chữ phu của lão kia thành thất phu 匹夫, ý nghĩa của cả câu là xỏ ngọt ông nọ, cho rằng ông kia là người thất phu, vô hạnh. 

Thế mới tạo được tiếng cười trong câu chuyện. 

2. Một kiểng hai quê, câu chuyện của người bình dân.

Một ông thầy thuốc kia hai vợ, người ta có con bịnh ở nhà, đến tiệm thuốc của bà lớn thì ông đương ăn cơm với vợ. Hai giờ đồng hồ sau con bịnh trở nặng, họ phải chạy sang tiệm của bà nhỏ thì cũng thấy ông ngồi cố nuốt cơm mà coi bộ bí xị vì đã no mà phải cố chèn. Ông nói:

Tôi thiệt khổ sở vì chuyện một kiểng hai quê chạy qua chạy lại cũng mệt.

Thơ Hoàng Xuân Sơn

Bài Dưỡng

Tặng Bắc Phong

Một giờ chánh niệm chưa xong
Đã nghe tạp niệm
Chạy vòng tiêu sơ
Tôi là ai? chương. mơ hồ
Nghe đau cánh quyển
Giữa tờ không không
Có phải em
Đuôi. vân mồng
Cơn mưa hút bụi
Đạm hồng phôi pha
Một ngàn hoa một ngàn
hoa
Tiếng than vọng niệm

Đàm Trung Pháp: Khi Một Cành Thiên Hương Thoắt Gãy (2001, nhuận sắc 2019)

Nguồn hình minh họa: The Internet

Người đẹp bất thần chết trẻ thường là nguyên nhân của những câu thơ âu sầu tiếc nuối dễ làm mủi lòng người đọc, trong đó có tôi từ lâu. Nào là “Kiếp hồng nhan có mong manh / Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” mà thi bá Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều. Nào là “Thanh thiên nhất đóa vân / Hồng lô nhất điểm tuyết / Thượng uyển nhất chi hoa / Dao trì nhất phiến nguyệt / Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết” tương truyền là bài văn tế một công chúa Tàu yểu tử do lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi soạn. Nào là “Trời cuối thu rồi … Em ở đâu / Nằm bên đất lạnh chắc em sầu / Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy / Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu” trích từ bài “Gửi người dưới mộ” của thi sĩ Đinh Hùng.

Mới đây thôi (2001), tôi đã gặp một tình cảnh tương tự đầy nuối tiếc trong một tuyệt tác thi ca của Ludwig Uhland (1787-1862). Nhân tài này cùng lúc là một học giả, một giáo sư văn chương cổ điển, và một tác giả của nhiều thi phẩm bất hủ trong văn học Đức Quốc. Thi tập Vaterlaendische Gedichte (Thi ca quê cha) xuất bản lần đầu vào năm 1815 của Ludwig Uhland được tái bản hơn 50 lần trong khi ông còn tại thế. Từ thi tập lẫy lừng đó, nhiều bài thơ trong sáng, êm ả, đằm thắm tình người cũng đã trở thành những bài dân ca được yêu mến. Der Wirtin Toechterlein (Con gái nhỏ bà chủ quán) sáng tác năm 1808 là một châu ngọc trong thi tập nói trên. Là tổng hợp của một thi pháp giản dị, trong sáng nhiều nhạc tính, một từ vựng phổ thông, một cốt chuyện đơn sơ, và sự việc xảy ra liên tiếp của ngạc nhiên, bàng hoàng, khổ đau và tiếc nuối, bài thơ ấy (cũng là một bài dân ca) làm người đọc hoặc người nghe xúc động và thương cảm từ đầu đến cuối. 

Ngự Thuyết: Chuyến Xe Đò (Tiếp theo và hết)

Nhiều năm tháng đã trôi qua, biết bao chìm nổi đã xẩy đến với đời ông. Tóc ông chen hai thứ, muối nhiều hơn tiêu, mặt mày nhàu nát, đôi mắt mệt mỏi, đi đứng lụm cụm, thế nhưng bọn người xấu miệng vẫn bảo ông chẳng khác gì củ gừng, càng già càng cay.

Nay lên chiếc xe đò lại gặp một tên đầu bù xù. Cái đầu bù xù thấy muốn lộn ruột. May là chỉ có một mình nó ngồi lù lù một đống như con khỉ đột. Bị vợ bỏ chăng? Bỗng cô bán vé bước nhanh lên xe hất hàm hỏi ông:

“Chú đi đâu?”

“San Jose.”

Cô ta không nói gì thêm, lại nhảy lẹ xuống xe. Tên hành khách bỗng quay nhìn kỹ vào mặt ông, rồi vồn vã, liến thoắng:

“Vậy mà tui cứ tưởng anh là Tàu khựa. Coi cái mặt anh kìa. Nó ... nó khó nói quá. Chắc chắc anh lớn tuổi hơn tui. Hơn ba bốn tuổi hả? Không chừng tui phải kêu anh là chú. Nhất tuế như huynh, tam tuế như thúc. Mà anh có biết chữ Nho không? Có biết lễ nghĩa Thánh hiền không? Còn tui, tui biết lễ nghĩa, bao giờ cũng kính trọng người lớn tuổi hơn. Như anhchẳng hạn ...”

Ông bực mình chận lại:

“Anh nói nhiều quá ...”

Người kia ngắt lời ngay:

“Dạ, dạ, anh nói không sai. Anh cũng giống như nhiều người khác cứ biểu tui nói nhiều. Nhưng có miệng để ăn để nói thì khi không ăn miệng rảnh nói. Có sao đâu. Mà anh tuổi con gì? Con trâu phải không? Phải biết tuổi mới dễ kêu. Tui kêu anh là kêu đại, chẳng biết trúng trật, xin anh tha lỗi. Tui con rồng, tuổi thìn. Thiệt ra đầu năm con rắn nhưng tui thích rồng hơn. Anh trâu hay chuột. Chắc anh hơn tui bốn năm tuổi, lẽ ra tui phải kêu anh là chú. Nhất tuế như…“

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Ngô Nhân Dụng: Quyền sống không lo sợ

Hôm Thứ Sáu, 15 Tháng Mười Một, phụ huynh và học sinh đến tưởng niệm hai học sinh trường trung học Saugus High School tại Santa Clarita, California, bị một học sinh 16 tuổi cùng trường bắn chết vào ngày hôm trước. Cảnh sát vẫn chưa tìm thấy nhật ký, hoặc ghi chú nào do hung thủ để lại cho biết lý do tại sao lại giết bạn học vào sinh nhật thứ 16 của mình. (Hình: AP Photo/Damian Dovarganes)

Hằng năm cứ vào cuối Thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức lo lắng không biết những đứa cháu mình năm nay đi học có thể gặp nạn bắn giết trong trường hay không.

Chắc quý vị độc giả nghe thấy quen thuộc, bắt chước một câu của nhà văn Thanh Tịnh (1911-1988). Ông mở đầu truyện ngắn “Tôi Đi Học”: “Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.”

Những ai học văn chương Pháp chắc thấy Thanh Tịnh đã đọc Anatole France (1844-1924). Trong cuốn tập “Cuốn Sách Của Bạn Tôi” (Le Livre de mon ami) France cũng kể “những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.”

“Tôi sẽ kể cho bạn nghe những điều tôi nhớ, mỗi năm, bầu trời mùa Thu khích động, những bữa ăn tối dưới ánh đèn và những chiếc lá đang ửng vàng trên hàng cây run rẩy; tôi sẽ kể bạn nghe những gì tôi trông thấy khi băng qua Vườn Luxembourg trong những ngày đầu Tháng Mười hơi buồn và đẹp hơn bao giờ hết; vì đó là lúc lá rơi từng chiếc một trên bờ vai trắng những pho tượng trong vườn. Điều tôi thấy trong khu vườn đó, là một cậu bé, hai tay đút túi và cái ba lô khoác trên lưng, đang đi tới trường nhảy nhót như một con chim sẻ.”

Ngự Thuyết: Chuyến Xe Đò

Ông thích lái xe chạy ra khỏi thành phố. Với ông, thành phố đồng nghĩa với tù hãm. Nếu được ngồi ghế trước trên chiếc xe đò chạy đường xa, cỡ bự, hơn 60 ghế, để nhìn trời cao đất rộng thì càng tốt. Tha hồ mở mắt. Chứ loanh quanh mãi tại nhà như con gà ăn quẩn cối xay, chán lắm. Nhiều khi muốn khùng luôn. Hết ngó cái vườn hoa cũ, lại nhìn ngôi nhà xưa, ngày này đến ngày khác. Buồn tình ngẩng mặt trông lên, thấy mây cũng “già”. Mây già nua–hình như một thi sỹ nào nói vậy ông tình cờ nghe loáng thoáng qua một thằng sính thơ. Và bỗng nhiên nhớ. Thường ông hay quên những chuyện ruồi bu, nhưng thơ thì cố nhớ. Mà nghĩ cũng đúng, mây bay đã ngàn năm, Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay, hay lâu hơn, lâu hơn là cái chắc, không già sao được. 

Ông thuộc một ít thơ, nhờ cố đọc đi đọc lại cho đến khi thuộc lòng, loại thơ học ở nhà trường thời Trung Học. Chỉ thế thôi cũng đủ loè người mới quen. Có khi tò mò đọc thơ bây giờ, chẳng hiểu gì, nói gì đến cảm xúc, hoặc dùng để tán láo. Đọc vài dòng điên cái đầu. Nghe người ta ca tụng Truyện Kiều, ông lớn tiếng, Biết Rồi, Nói mãi (Còn có hai chữ Khổ Lắm chen vào giữa nhưng ông không nói để tỏ ra rằng mình không bắt chước ai cả). Ông phán, Truyện Kiều đương nhiên là hết sẩy, là đỉnh cao nhất, khỏi phải rườm lời. Thật ra ông chỉ đọc mấy đoạn được trích dẫn làm bài giảng văn năm lớp Đệ Tứ (lớp 9), rồi lớp Đệ Nhị (lớp 11). Ông định bụng sẽ đọc hết Truyện Kiều, biết đâu có dịp đem nó ra thi thố, nhưng nó dài quá. Mấy trăm câu nhỉ? Hay mấy ngàn, mấy vạn? Nên hẹn rày, hẹn mai, như hẹn những món nợ mà ông nhất định quỵt. 

Hôm nay, có việc đi lên miền Bắc, ông ra bến xe đò sớm, để chiếm chỗ ngồi đằng trước, tha hồ phóng tầm mắt. 8 giờ 30 sáng xe khởi hành, 7 giờ 45 ông đã có mặt. Thế mà khi “hồ hởi” bước lên xe, đã thấy có người ngồi tại một trong hai chiếc ghế ngay sau ghế của tài xế. 

Vương Trí Nhàn: Sự nghèo nàn của văn hóa Sách ở ta

Viết về tình trạng của những con đường bảo đảm giao thông đi lại ở nước VN cổ, một nhà nghiên cứu nước ngoài đã dùng đến hai chữ ấu trùng.

Tôi nghĩ rằng cũng có thể dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 

Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển. 

Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.

1. 


Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống.

Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam(1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.

Bắt đầu từ quan niệm : Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,… đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình.

Bùi Văn Phú: Đất nước tiến bộ sao dân vẫn quyết ra đi

Cô Phạm Thị Trà My 26 tuổi là nạn nhân trong thảm kịch ở Anh Quốc mới đây (Ảnh: BBC News)

Tin về cái chết của 39 người Việt, được tìm thấy trong một xe thùng chở hàng đông lạnh tại khu công nghiệp ở Essex, Vương quốc Anh đã gây xúc động và được dư luận thế giới quan tâm trong hai tuần qua.

Cùng lúc nhiều người đặt câu hỏi vì sao Việt Nam, nay là đất nước đã có nhiều tiến bộ về kinh tế trong một phần tư thế kỷ qua để trở thành quốc gia có thu nhập bình quân ở mức trung bình cao, mà nhiều người vẫn rời quê hương bằng mọi cách bất chấp nguy cơ bỏ mạng xứ người.

Khi phải quyết định rời bỏ quê hương dù bằng con đường hợp pháp, hay tìm đường nhập cư bất hợp pháp, một người luôn cân nhắc giữa những yếu tố thúc đẩy và yếu tố lôi cuốn, gọi là "push and pull factors".

Những năm thập niên 1980 tôi làm việc trong các trại tị nạn ở Đông Nam Á, qua tiếp xúc với nhiều thuyền nhân, nguyên nhân họ ra đi gồm: sợ bị đàn áp bắt giam, tránh phải đi bộ đội để khỏi chết dưới tay Khmer Đỏ bên Campuchia, bị phân biệt đối xử vì thuộc gia đình cựu quân cán chính Việt Nam Cộng hoà, vì là người gốc Hoa, hoặc vì tôn giáo; hay ra đi để được học hành để có cuộc sống tốt đẹp hơn...Đó là những yếu tố thúc đẩy nhiều người ra đi.