Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022

Ngô Nhân Dụng: Kỳ thị chủng tộc mang súng

Một thanh niên 18 tuổi bắn chết 10 người tại một siêu thị trong khu vực người da đen ở Buffalo, New York. Trong cùng một cuối tuần giữa tháng Năm, hai người bị giết và ba người bị thương tại một chợ trời ở Harris County, Texas. Tại Orange County, California, 5 người bị thương và một người chết trong một nhà thờ. Tại một sân chơi bóng rổ ở Milwaukee, 21 người bị thương trong một cuộc đấu súng.

Payton Gendron, người bị bắt giữ sau vụ thảm sát ở thành phố Buffalo còn để lại những ghi chú trên mạng dài hơn 600 trang cho thấy anh ta đã chú ý đến ba địa điểm để chọn với mục đích “bắn hết bọn da đen” (shoot all blacks). Gendron vẽ đường đi tới từng địa điểm, tính toán thời gian cần thiết cho công tác bắn giết hơn ba chục người.

Buffalo là một thành phố phân cách chủng tộc, đứng hàng thứ bảy ở Mỹ, theo tài liệu của cơ quan nghiên cứu Brookings Institution. Người da trắng phần lớn ở phía Tây, phía thác Niagara, với những công viên xanh, các con đường lớn phẳng phiu, trồng cây. Người da đen phần lớn ở phía Đông, mặt đường gồ ghề, ít trồng cây, nhiều lô đất để trống và các cửa tiệm đóng kín bằng ván gỗ. Theo một nghiên cứu của Đại học University of Buffalo thì lợi tức gia đình bậc trung (median household income) năm 2019 của người da đen ở Buffalo là $28,320 đô la, của người da trắng là $49,156. Tỷ số người da đen được xếp hạng “nghèo” lên tới 31 phần trăm, người da trắng là 9 phần trăm.

Tháng 11 năm ngoái Gendron đã đăng trên mạng Discord bản tuyên bố của Brenton Tarrant, người tấn công hai nhà thờ Hồi Giáo ở New Zealand vào năm 2019. Anh ta báo trước “một biến cố kiểu Brenton Tarrant sắp xảy ra” trên mạng “4chan” là nơi trao đổi ý kiến được những người da trắng cực đoan sử dụng. Ngày 5 tháng 12, Gendron ghi trong nhật ký rằng đã đến lúc “hành động” đối với các chủng tộc hạ đẳng (inferior races). Anh ta viết: “Tôi sẽ đánh “bọn thay thế” (replacers) và sẽ quay phim cuộc tấn công này.”


The Economist: Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO làm lập luận của Putin sụp đổ (Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng)


Sự mở rộng của liên minh không phải là nguyên nhân dẫn tới cuộc chiến của Tổng thống Nga ở Ukraine.

Quyết định của Phần Lan và Thụy Điển nộp đơn xin gia nhập NATO là một hành động thẳng thừng bác bỏ tầm nhìn chiến lược của Tổng thống Nga, Vladimir Putin. Hai quốc gia từng tự hào về lịch sử không liên kết quân sự lâu đời của mình đã nhận định rằng, rủi ro làm mất lòng nước láng giềng không quan trọng bằng sự trợ giúp an ninh bổ sung mà họ có được khi tham gia một liên minh chuyên chống lại sự xâm lược của Nga. Đó là kết quả trực tiếp của việc Nga xâm lược Ukraine, mà theo Putin là để ngăn chặn NATO mở rộng.

Nó cũng là một lời bác bỏ đối với những người lập luận rằng NATO có lỗi vì đã dẫn tới cuộc chiến. Putin không phải là người duy nhất cho rằng việc liên minh mở rộng sang Trung và Đông Âu sau Chiến tranh Lạnh là điều khiến người Nga không thể dung thứ. Nhiều học giả phương Tây đồng tình với lập luận đó. Tuy nhiên, sự lựa chọn của Phần Lan và Thụy Điển cho thấy họ có quan điểm ngược lại. Hai nước tìm cách tham gia NATO vì họ bị Nga đe dọa, chứ không phải để chống lại nước này.

Tin tức từ Phần Lan và Thụy Điển được công bố ngày 15/05, khi các ngoại trưởng của NATO đang nhóm họp để thảo luận về Ukraine và về chiến lược mới của liên minh, trong giai đoạn chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh vào tháng tới. Bất chấp những than phiền từ Thổ Nhĩ Kỳ, việc gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển nhiều khả năng sẽ là chính thức. Khi tham gia, cả hai sẽ mang lại khả năng vũ trang đáng kể, đặc biệt là nếu có chiến tranh ở Bắc Cực, và, trong trường hợp của Phần Lan, là lực lượng pháo binh lớn nhất châu Âu. Những lực lượng này có thể nhanh chóng được tích hợp vào cấu trúc chỉ huy của NATO. Tư cách thành viên của hai nước cũng sẽ giúp chiều dài biên giới của liên minh với Nga tăng lên gấp đôi (xem bản đồ). Nó còn củng cố các nước thuộc khu vực phía bắc, đặc biệt là các quốc gia vùng Baltic, nơi sẽ dễ được tiếp tế hơn, và là những nước mà Thụy Điển và Phần Lan sẽ cam kết bảo vệ nếu họ trở thành thành viên NATO.

Tuấn Khanh: Nhà văn Trần Đĩnh - người tiết lộ những chuyện “động trời”

Tác giả Trần Đĩnh. Báo Người Việt

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng Năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi. Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên, và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng: “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau”.

Ngô Nhân Dụng : Giới thiệu "ÐÈN CÙ, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản" của TRẦN ÐĨNH (Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh)

Quý vị phải lắng nghe bài Đèn Cù. Tự mình hát lên, hát cho thấm thía vào lòng, cho những câu dân ca văng vẳng trong đầu trong khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh. Khen ai khéo vẽ (ối a) đèn cù.Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh… Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh nó chạy tít mù. Đèn Cù, cũng gọi là đèn kéo quân, là một trong số đèn Trung Thu, đồ chơi cho trẻ em và cho cả người lớn. Quý vị sẽ dần dần nhìn thấy hoạt cảnh xã hội Việt Nam những hình nhân voi giấy, ngựa giấy tít mù nó chạy vòng quanh trên màn ảnh đèn cù trong hơn nửa thế kỷ. Trong đó có tác giả. Một nhân chứng, một người tham dự trong đám Voi giấy (ối a) ngựa giấy lần lần hồi tưởng lại những cảnh cùng nhau chạy vòng quanh (ối a) nó tít mù. Nhiều tác giả đã viết về xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản, dưới dạng hồi ký, tiểu thuyết, biện thuyết và lý luận, vân vân. Đèn Cù nổi bật lên trong tủ sách đó. Nếu chưa phải là một kho chứng liệu quan trọng và đầy đủ nhất thì đây là cuốn sách đọc lý thú nhất. Rất nhiều chuyện mới nghe lần đầu. Rất nhiều chuyện cũ được nhìn dưới con mắt khác, thấy những khía cạnh chưa ai từng thấy. Quý vị sẽ cười, sẽ khóc, sẽ thắc mắc, sẽ dằn vặt, thao thức, kinh tởm, giận dữ, sót thương, khi bị cuốn theo những Voi giấy (ối a) ngựa giấy chạy quanh trong cái đèn cù.


Dưới cái tựa Đèn Cù Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là “truyện tôi.” Đọc xong thì hiểu tại sao tác giả không gọi nó là một “hồi ký” hay “tự truyện,” những loại văn quen thuộc khi người ta kể chuyện cuộc đời mình đã sống. Cuốn sách không viết theo phong cách hồi ký hay tự truyện, khi người viết có sẵn một bản đồ để viết theo, với một mục tiêu muốn đạt tới. Đây cũng không phải là tiểu thuyết, tác giả không kể những chuyện mình tưởng tượng ra. “Truyện tôi”  là một thể loại văn xuôi mới, Trần Đĩnh tạo ra. Mai mốt có thể sẽ không còn ai viết “truyện tôi” nữa. Mà có ai viết thì chăc chắn cũng không viết giống như Trần Đĩnh. Đèn Cù là một cuốn sách độc đáo. 


Trần Đĩnh: Chương 5 Đèn Cù

Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn đang giảm tô giảm tức ở Thanh – Nghệ. Và kinh nghiệm cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn giảm tô, bản dịch được Hoàng Ước, thư ký của Hoàng Quốc Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực (trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú nông ở Liên Xô).

Cải cách ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ cũng như Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều nợ máu với bần cố nông. Quản lý đồn điền Nguyễn Lân, nguyên vô địch võ sĩ quyền Anh trước kia nổi tiếng khắp Đông Dương cũng là đối tượng đấu tố và xử bắn. Đặc biệt Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, Việt Minh bí mật, nay là chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung Quốc cũng bị gọi về, treo giò.

Một tình tiết thú vị: khi tướng Pháp Cogny lập tập đoàn cứ điểm đầu tiên ở Nà Sản mà ta không công phá được vì thiếu đại pháo bắn cầu vồng, đơn vị pháo 105 ly của Công đã chuẩn bị về nước tham gia chiến dịch thì Cogny rút, pháo ta bèn nán lại học tiếp. Ai ngờ việc đó đã khiến tướng Navarre kết luận Việt Minh không có đại pháo do đó hăng hái nhảy lên Điện Biên Phủ và Piroth đại tá pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã giật lựu đạn tự sát ngay khi pháo Việt Minh lên tiếng.


Pavlo Vyshebaba: Bài thơ từ tiền tuyến (Đặng Vũ Vương dịch)

 Pavlo Vyshebaba, nhà thơ Ukraine, hiện đang ở chiến tuyến bảo vệ tự do và sự toàn vẹn của đất nước mình. Bài thơ viết cách đây không lâu tại tiền tuyến.

Pavlo Vyshebaba đến từ Kramatorsk. Trước năm 2014, Pavlo di chuyển đến Kyiv và trong những năm này, anh đã tình nguyện nhập ngũ. Đồng thời, anh là một nhà hoạt động vì môi trường và phản đối việc sản xuất lông thú tự nhiên. Vào ngày thứ hai của cuộc xâm lược toàn diện, Pavlo đưa gia đình đến nơi an toàn. Hiện anh đang ở Slobozhanshchyna, giáp với Donbass vùng quê của anh, nơi mà anh đang bảo vệ vùng đất của mình bằng vũ khí trong tay. Ngoài ra, vào tháng 4, ban nhạc “Một hành tinh” của Pavlo đã phát hành một album “My War”. Trong đó, anh cố gắng kể về cảm xúc của chính mình và truyền tải nỗi đau của người dân ở các vùng bị chiếm đóng và ở hậu phương. Anh gọi tất cả những biến cố này là một thảm họa, đồng thời là một kỳ công vĩ đại của dân tộc Ukraine.


Chúc mọi người bình an. Chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng! 

 

 

C:\Users\Pham Phu Minh\Desktop\BẢn tiếng Pháp.png

Chân dung tác giả và bản dịch tiếng Pháp

 

 

Bản dịch của Đặng Vũ Vương

 

Tới khi tất cả súng liên thanh im tiếng

Và kết cuộc ta sẽ nghe được mùa xuân

Hai đứa mình sẽ yêu nhau như kẻ chết khát

để tự gột sạch chiến tranh

ta sẽ đánh tan mùi khốn kiếp của nó

trong mồ hôi mặn muối của đôi ta

qua những nốt ruồi của em, bản đồ của những tinh tú

anh sẽ ngắm kỹ em toàn diện như lúc Chúa tạo em

và đến khi các đại bác đã nguội tanh

sẽ thật ấm nóng biết bao trong giường ngủ

anh sẽ hôn em đến gần như cắn

để xóa đi sự kinh hãi trong trí anh

để những lời rên rỉ của em đuổi đi sự im lặng

Trước một giấc ngủ vì mệt nhoài

anh sẽ ghì ôm em bất tận

và buổi sáng anh sẽ lại yêu em

và nếu định mệnh tha cứu chúng ta

và nếu chúng ta sống sót được cái mùa xuân độc ác này

hai đứa mình sẽ yêu nhau như kẻ chết khát

để tự gột sạch chiến tranh.

 

ĐVV 



Song Thao: Già Khú Đế

 Bạn bè tôi, bỏ rẻ cũng đã tám chục niên kỷ. Người đời bảo già rồi. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chơi ác hơn. Trong bài viết “Già Khú…Đế”, ông luận như ri: “Già khú là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú đế”. Khú, từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú, hơn hẳn các khú”.


Bác sĩ - nhà văn, nhà thơ  Đỗ Hồng Ngọc


Tám chịch hay hơn nữa có phải là già khú đế không, hình như không ai trong chúng tôi nghĩ như vậy tuy mỗi lần tụ họp với nhau là một kịch bản khác. Gần như toàn thể chúng tôi đều là những vận động viên môn thể dục dụng cụ. Ông thì chơi gậy thường, ông gậy bốn chấu, ông chơi môn đẩy cái walker, có ông chơi nguyên chiếc xe lăn. Kềnh càng như vậy nhưng vẫn vui vì còn được nhìn thấy nhau. Già đâu mà già! Tuổi chỉ là những con số!


Theo phép lịch sự đương đại, người ta không nên hỏi tuổi một phụ nữ. Tôi muốn thêm vào một chút: người ta cũng không nên hỏi tuổi một người cao tuổi. Phiền phức cho các bậc quân tử lắm. Ngày xưa ngài Nguyễn Công Trứ khi bị gái nhí hỏi tuổi đã lách: ngũ thập niên tiền nhị thập tam. Năm chục năm trước tớ hăm ba!


Trần Doãn Nho: “Đoản thi” của sinh viên Trung Quốc: - một hình thức phản kháng

 Một cuộc thi thơ dành cho sinh viên đã trở thành một cơ hội để bày tỏ nỗi thất vọng của công chúng về các vấn đề xã hội đang gây xôn xao ở Trung Quốc trong những tháng vừa qua. 

Thơ dự thi là những bài thơ ngắn - đoản thi - bằng Hoa ngữ dành cho sinh viên đại học, do trường Đại học Jiaotong [Giao thông = Media and Communication] Thượng Hải tổ chức, năm này là lần thứ năm. Danh sách người  thắng giải sẽ được công bố vào tháng 6/2022, tuy nhiên, một số bài thơ gửi đến đã được đưa lên mạng từ tháng 4/2022. Trong số những bài thơ này, ngoài những chủ đề chung chung liên hệ đến giới tính, môi trường, sự nghèo đói, vấn đề tự do ngôn luận, có nhiều tác phẩm đề cập đến cơn đại dịch và các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt của nhà cầm quyền Trung Quốc đang được áp dụng trên toàn quốc như khẩu trang, cách ly, phong tỏa; và cả chiến tranh ở Ukraine. Đặc biệt, vào thời điểm mà không gian tranh luận bị nhà cầm quyền Trung Quốc thu hẹp đến tối đa, một số bài thơ hiếm hoi mang ý thức xã hội rõ nét đã thu hút sự chú ý của người dùng Internet và được ca ngợi vì sự táo bạo của chúng.


Ảnh chụp màn hình bài thơ “Sử ký” của

Trần Vân Tĩnh (Hình: Nguyễn Ngọc Dung)


Nhật báo “The Washington Post” số ra ngày 24/4/2022 gọi đó là hiện tượng “bất đồng chính kiến” diễn ra ngay trong lòng chế độ chuyên chế, qua một bài viết của Lily Kou, thông tín viên trưởng thường trú tại Bắc Kinh, tựa đề “Student Poetry Contest in China Becomes Unexpected Outlet for Dissent” (Cuộc thi thơ sinh viên ở Trung Quốc trở thành kẽ hở bất ngờ bày tỏ bất đồng chính kiến). Kou dẫn phát biểu của Chris Song, một trợ lý giáo sư chuyên về dịch tiếng Anh và tiếng Trung tại đại học Toronto Scarborough (Canada), cho biết: “Thực đáng ngạc nhiên! Tôi rất ngạc nhiên khi những bài thơ được ra đời trong một môi trường thắt chặt như vậy, nơi mà nhiều bài thơ miêu tả những mặt tối của xã hội, hoặc thách thức hệ tư tưởng chung của chính quyền thường bị kiểm duyệt.” Họ tìm thấy trong thơ một lối thoát mạnh mẽ để biểu tỏ “cảm xúc của mình trong những lúc khó khăn," cũng theo Song. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đưa lên, vào đầu tuần lễ từ 18 - 24/4/2022, chúng biến mất khỏi Weibo (微博=Vi Bác), trang mạng xã hội phổ biến ở Trung Quốc: đại học Jiaotong đã rút xuống tất cả các bài thơ “có vấn đề”, trong đó có những bài như "Tha đích nha” (Răng của bà mẹ), "Phi tất yếu ly hiệu” (Rời trường không phải là điều thiết yếu) và "Sử ký”…và đóng hẳn phần bình luận của hầu hết người dùng. Tuy nhiên, những người sử dụng Internet đã lập tức chụp ảnh màn hình (screenshots) các bài thơ, kể cả hình ảnh của các phiên bản viết tay của chúng và tiếp tục phổ biến trên mạng. Khi được những người dùng Internet thắc mắc về sự biến mất của các bài thơ, nhà


Ngự Thuyết: Tại Sao (But why does she not speak? Euripides - Alcestis (Nhưng tại sao nàng không nói?))

Anh đạp thắng gấp. Bánh xe siết lên mặt đường sỏi đá. Chiếc Jeep rùng rùng mấy cái rồi dừng hẳn để lại trên đường hai vạch dài song song. Một người đàn bà vừa chạy vụt qua trước mặt xe. Đường vắng. Anh tắt máy, nhảy nhanh xuống xe, cau có nhìn theo, miệng lẩm bẩm gắt. Không, đấy là một cô gái còn trẻ lắm, khoảng trên 20 tuổi. Cô gái đã bước lên lề đường rồi, bỗng vội vã quay lại. Cô rụt rè tiến đến gần anh, ấp úng:

“Xin lỗi ông. Tôi, tôi ...”

Anh nói như quát:

“Cô ẩu quá. Có ngày rồi đời. Cái đồ ...” Anh định mắng.

“Thưa ông nói chi?”

“Có ngày rồi đời!”

Anh nhủ thầm mình nói cái lối miền Trung này có lẽ cô ta không hiểu. Nhưng cóc cần. Không trả lời câu hỏi, anh nói tiếp:

“Có răng không. Có sao không cô?”

Cô gái bỗng nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt cô bỗng như tỏa sáng, đôi mắt dường như vừa bắt gặp một điểm khuất xa xôi nào đó, loé lên những màu sắc lạ. Đến lượt cô cũng không trả lời câu hỏi của anh, nói ngập ngừng, giọng nói cao hẳn lên, nghe như tiếng reo vui:

“Ô, ô, lạ chưa. Thưa, thưa có phải ông là bác sĩ ... bác sĩ Khoa?”

“Đúng vậy. Nhưng sao cô biết. À, hình như ...”

Anh dừng lại nửa chừng, lim dim mắt, cố nhớ. Hình như, hình như cái quái gì nhỉ. Cái bực dọc bỗng tan biến nhanh. Trước người đẹp anh dễ dàng quên mọi bực dọc. Cô bé này trông là lạ, có duyên ngầm, có sức lôi cuốn bí mật. Và nụ cười không thành tiếng đó, giọng nói ngập ngừng nghe quen quen đó, anh cố nhớ. Mà quá khứ như bị sương mù dày đặc bao phủ. Lẩn quất, trốn tránh. Kín bưng. Anh không thể nhớ gì thêm nữa.


Điếu Văn Của Phạm Phú Thứ Viếng Phan Thanh Giản (Dịch thuật : Nguyễn Duy Chính; Giới thiệu : Phạm Phú Minh)

LTS. Dù toàn bộ bài này đã được đăng trên DĐTK vào tháng 8 năm 2021, nay vì một “lý do đặc biệt”, chúng tôi xin đăng lại trong số báo này. Lý do là vào chiều ngày 15 tháng 5, 2022 trong buổi ra mắt cuốn sách Phan Thanh Giản và Vụ Án ‘Phan Lâm Mãi Quốc, Triều Đình Khí Dân’ của tác giả Phan Đào Nguyên, diễn giả Phạm Phú Minh đã dùng bài Ai Điếu của Phạm Phú Thứ viếng Phan Thanh Giản làm đề tài cho bài thuyết trình của mình. Nhiều khán giả tỏ ý muốn biết rõ hơn về bài Ai Điếu này, chúng tôi đã hứa sẽ đăng lại toàn bài trên số DĐTK hôm nay để ai quan tâm sẽ có tài liệu để xem lại kỹ càng hơn. DĐTK
***
Trong thế kỷ 19, Việt Nam đã nếm trải bao nỗi cay đắng trước sự xâm lăng bằng vũ lực mà một triều đình nhà Nguyễn mặc dù đã rất vững chãi với một lãnh thổ lần đầu tiên rộng lớn nhất trong lịch sử kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đã cuối cùng cũng phải mất nước trước kẻ cướp đến từ phương Tây. Nếu phải chọn một nhân vật Việt Nam điển hình đã trực tiếp đương đầu với cái kịch bản đấu trí đấu lực suốt cái quá trình đau khổ ấy, thì thiết nghĩ không ai khác hơn là Phan Thanh Giản. Ông đã phục vụ suốt ba triều Minh Mạng (1820 – 1841), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1847-1883), đặc biệt trong triều Tự Đức ông đã nổi lên như một rường cột chính phục vụ quốc gia cho đến hơi thở cuối cùng, để thấy đời ông cũng chính là hình ảnh cái bi kịch của nước ta khi chống chọi với sự xâm lăng của người Pháp.

Sau khi quân Pháp đã chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, ông Phan Thanh Giản là người được vua Tự Đức cử làm chánh sứ, Lâm Duy Hiệp làm phó sứ đi vào Gia Định thương thuyết với Pháp để nghị hòa. Kết quả là hòa ước Nhâm Tuất 1862 đã được ký kết, Việt Nam nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, vua Tự Đức bất đắc dĩ phải chấp nhận hòa ước Nhâm Tuất nhưng trong bụng vẫn muốn cố hết sức để chuộc lại vì đất Gia Định là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn và lại là đất quê ngoại của nhà vua. Chính vì lý do này mà năm 1863 vua Tự Đức mới cử một phái đoàn Việt Nam gồm Phan Thanh Giản chánh sứ, Phạm Phú Thứ phó sứ và Ngụy Khắc Đản bồi sứ, qua tận Pháp để thương thuyết chuộc lại ba tỉnh ấy. Nhưng đã gọi là thực dân, đã chiếm được đất của người ta rồi, làm sao có chuyện trả lại! Không trả lại, mà còn lấy thêm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ và đưa đến cái chết bi tráng của Phan Thanh Giản.

Chúng ta đều biết bản án mà triều đình Huế dành cho Phan Thanh Giản sau khi Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây và ông đã tuẫn tiết : tước bỏ hết quan tước và đục xóa tên trong bia tiến sĩ. Một đời làm quan suốt ba triều nhà Nguyễn, nhiều lần xin rút lui vì tuổi già sức yếu mà vua khăng khăng không chấp thuận, bắt phục vụ cho đến giây phút cuối cùng, để rồi sau cái chết đã bị xóa trắng bao công sức mà suốt đời ông đã bỏ ra cho vua, cho dân, cho nước. Bi kịch ấy của cuộc đời Phan Thanh Giản rất thấm thía trong lịch sử nước ta, mà các thế hệ về sau đã ra công điều chỉnh để giữ gìn công đạo của một dân tộc có lương tâm.

Nhưng ít ai biết ngay trong thời gian xảy ra vụ án này, ngay giữa triều đình Tự Đức, đã có một tiếng nói cất lên để bênh vực Phan Thanh Giản. Đó là bài điếu văn của Phạm Phú Thứ viếng Phan Thanh Giản. Đúng hơn đây là một tài liệu mượn hình thức là điếu văn để khẳng định bao công lao, mưu lược, tài kinh bang tế thế của vị lão thần Phan Thanh Giản, dù tuổi già sức yếu đã mấy lần xin về hưu, đã bị nhà vua khư khư đưa ra tuyến đầu đại diện cho triều đình để đương đầu với một thế lực cướp nước quá hùng cường. Gọi là điếu văn mà không có một tiếng khóc Ô Hô!, không một từ ngữ đã thành sáo ngữ để tưởng niệm người quá cố. Trái lại, như một bài chính luận đanh thép nhằm đặt để lại giá trị của vị lão thần đã đem hết sức tàn lực kiệt để lo cho nước, và đã được “trả ơn” bằng một bản án có thể gọi là bất nhân, bất cận nhân tình. Với bản án đó, sau khi chết, cụ Phan Thanh Giản ra đi tay trắng, chẳng còn một sự nghiệp “hợp pháp” nào để lại cho người đời và con cháu.

PHÂN ƯU



Minh hoạ FreePik


Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

Ngô Nhân Dụng: Phá Thai - Joe Biden phải chọn một phía!

Từ khi nhậm chức tổng thống, ông Joe Biden chưa bao giờ nói đến chữ “phá thai” (abortion). Ông im lặng cho tới khi cả nước Mỹ sôi nổi tranh luận phá thai, sau khi bản ý kiến của Thẩm phán Tối cao Samuel Alito bị tiết lộ.

Dư luận ồn ào vì án lệ Roe v. Wade xác nhận quyền phá thai có thể bị xóa bỏ. Nhưng các lời tuyên bố của ông Biden còn rất ôn hòa, không như các lãnh tụ Dân chủ khác. Phó Tổng thống Kamala Harris chẳng hạn, bà lên án những ý kiến của Thẩm phán Alito là “tấn công trực diện trên quyền tự do.” Nghị sĩ Chuck Schumer, (Dân Chủ-N.Y.), tố cáo các vị Thẩm phán bảo thủ đã nói dối Thượng viện, khi trình bày ý kiến ôn hòa của họ về quyền phá thai rồi được Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm.

Chính trị gia cả hai đảng bàn tán về thái độ dè dặt của ông Biden, cho tới nay. Những người vẫn tranh đấu cho quyền phá thai rất bất bình. Renee Bracey Sherman, người sáng lập tổ chức “We Testify” cay đắng nói rằng ông tổng thống đã “đào ngũ.” Trong hơn một năm qua We Testify đã thỉnh cầu ông đọc một diễn văn về chuyện phá thai mà chưa được. Đảng Cộng Hòa thì bắt ngay lấy một câu của ông Biden, ngày Thứ Ba tuần trước. Khi nói đến hành động phá thai ông Biden dùng chữ “một đứa bé” (a child) – thay vì dùng chữ “một bào thai” (a fetus). Đó là cách diễn tả quen thuộc của những người tranh đấu chống phá thai, ví phá thai như giết người.

Thái độ dè dặt của ông Joe Biden có thể giải thích bằng tôn giáo: Ông đi lễ nhà thờ thường xuyên nhưng từng bị cánh bảo thủ trong đạo chỉ trích, vì lập trường đảng Dân chủ quyết bảo vệ quyền phá thai. Đã có lời yêu cầu Hội đồng Giám mục Mỹ không cho ông được nhận “mình thánh” cũng như các nhà chính trị ủng hộ phá thai khác, nhưng Tòa Thánh không chấp thuận yêu cầu này.

Vì thế, ông Biden vẫn đứng hai chân hai bên. Ông chọn thế tiến thoái lưỡng nan từ năm 1973 khi Tối cao Pháp viện tuyên án vụ Roe v. Wade. Năm đó, ông Biden đã nhận xét rằng phán quyết của Tòa Tối Cao coi phá thai là một quyền hiến định đã “đi quá xa.” Ông nói với một nhà báo rằng, trong vấn đề phá thai, lập trường của ông cũng “cấp tiến như bà nội ở nhà anh vậy.”


Đỗ Ngà: Tham nhũng quốc phòng, mối nguy cho an ninh quốc gia

Nga bán tăng T-90S cho Việt Nam với giá lên đến 6,25 triệu USD/chiếc, cao nhất trong các đối tác mà Nga bán vũ khí. Được biết, cũng loại T-90S, Nga bán cho Iraq chỉ với giá 5,4 triệu USD/chiếc. Giá bán cho Việt Nam cao hơn 16% so với bán cho Iraq. Cùng bỏ ra 400 triệu đô la nhưng Iraq mua được 73 chiếc còn Việt Nam thì chỉ mua được 64 chiếc. Nghĩa là hợp đồng 400 triệu USD, quan chức CS Việt Nam nuốt nhiều hơn quan chức chính quyền Iraq là 9 chiếc tăng.

Nếu lấy giá mua tăng của Việt Nam so với giá mua của Ai Cập và Algeria thì chênh lệch càng kinh khủng hơn. Giá của 2 quốc gia châu Phi này mua chỉ 5 triệu USD/chiếc. Như vậy, giá mà Bộ Quốc phòng CS Việt Nam mua cao hơn giá của 2 quốc gia châu Phi này, lên đến 25%. Nguyên nhân là do đâu?

Có phải Nga cố tình bán mắc cho Việt Nam hay không? Không hề! Giá chào bán trên thị trường quốc tế là như nhau, tuy nhiên giá mua lại cao thấp khác nhau là do bên mua yêu cầu. Có thể đoán định là giá mỗi chiếc T-90S tầm dưới 5 triệu USD/chiếc nhưng Bộ Quốc Phòng Việt Nam muốn mua với giá 6,25 triệu USD/chiếc. Nghe có vẻ rất phi lý? Tại sao bên mua lại không muốn mua giá rẻ mà lại muốn trả với giá cao hơn? Thực ra điều này không phải phi lý nếu hiểu đúng bản chất của đảng Cộng sản Việt Nam.

Để hiểu vấn đề thì tôi xin khơi lại chuyện cũ, chuyện Hoa Kỳ từ chối bán vũ khí sát thương cho Bộ Quốc phòng Việt Nam mặc dù trước đó Tổng thống Obama đã xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Sự việc là thế này:

Vào tháng 7/2017, hãng tin tình báo quốc phòng của Anh- Shephard Media tiết lộ rằng, các quan chức chính phủ Việt Nam yêu cầu các đối tác của Mỹ trả 25% hoa hồng cho các thương vụ mua bán vũ khí. Nghĩa là bên Mỹ phải nâng giá bán rồi sau đó thối tiền lại cho quan chức Việt Nam. Ví dụ lô vũ khí ấy trị giá 750 triệu USD nhưng phía Việt Nam yêu cầu phía Mỹ ghi vào hợp đồng là 1 tỷ USD, rồi sau đó chuyển lại cho quan chức CS Việt Nam 250 triệu USD để họ đút túi riêng. Tuy nhiên, phía Mỹ đã từ chối vì họ không muốn tiếp tay cho tham nhũng.

Với Mỹ thì họ không chấp nhận thói làm ăn gian lận của phía Việt Nam mặc dù phía Mỹ không thiệt thòi gì. Tuy nhiên phía Nga thì khác, Nga sẵn sàng ghi vào hợp đồng bất cứ giá nào, miễn sao Nga bán được hàng. Vì thế nên mới có chuyện giá T-90S của Việt Nam cao hơn giá mà các quốc gia khác mua. Các quốc gia như Iraq, Ai Cập, Algeria cũng là các quốc gia tham nhũng, tuy nhiên họ không ăn dày như quan chức Cộng sản Việt Nam, nên giá mua (trên hợp đồng) của họ thấp hơn.


Nguyễn Ngọc Chu: Sao Tổng thống lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng?

 1. Sao Tổng thống lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng?

Tổng thống Nga Putin hôm 5/5/2022 đã phải xin lỗi Thủ tướng Israel Naftali Bennett vì phát biểu của Ngoại trưởng Lavrov nói rằng “Hitler có gốc Do Thái”(https://zingnews.vn/israel-tong-thong-putin-xin-loi-vi...).

Một người thường xuyên “phô trương sức mạnh” như ông Putin, lại đứng đầu cường quốc quân sự thứ 2 thế giới là Nga, mà phải “hạ mình” xin lỗi Thủ tướng một nước nhỏ như Israel - đã nói lên rất nhiều về tình thế của Nga và vị thế của Israel. Nếu Nga ở thế “thượng phong” trong cuộc chiến Nga - Ukraine thì ông Putin đã không “hạ mình” xin lỗi, cho dù Israel là một quốc gia mạnh, vì ông Putin đã coi thường cả NATO lẫn Châu Âu khi ngang ngược tiến đánh Ukraine. Ở mặt khác, nếu Israel là quốc gia “không có trọng lượng” thì dù ở tình thế nào, ông Putin cũng không cất lời xin lỗi. Trên tất cả, nếu Ngoại trưởng Lavrov có sai thì Ngoại trưởng Lavrov xin lỗi là đủ, sao Tổng thống Nga lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng Nga?

Tất cả đã nói lên rằng, tình thế của ông Putin rất khó khăn, và Israel là một quốc gia “có trọng lượng lớn”, cho dù diện tích Israel (22 145 km2) rất bé, còn nhỏ hơn tỉnh Gia Lai-Kon Tum (25 000 km2) của Việt Nam trước đây, và dân số Israel rất ít (9,61 triệu người), còn ít hơn dân số TP HCM (11 triệu người).

Việc Ngoại trưởng Nga Lavrov cố tình khoác chiếc áo “tân phát xít” cho ông Zelensky”, không chỉ thất bại, mà còn làm cho Nga có thêm kẻ thù mạnh, đẩy Nga vào tình thế đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Đó là lý do tại sao Tổng thống Putin phải "hạ mình" xin lỗi Thủ tướng Bennett để giải cứu tình thế.

 

2. Không chỉ chiếm đất mà “ở lại vĩnh viễn”

Khác với Ngoại trưởng Lavrov đeo bám lý do “tân phát xít” đến mức mù quáng gán cho Hitler có nguồn gốc Do thái, thì các tướng lĩnh Nga tuyên bố rõ ràng mục tiêu giai đoạn 2 là chiếm toàn bộ miền Đông và miền Nam Ukraine. Còn rõ ràng hơn cả các tướng lĩnh Nga chỉ nói về chiếm đóng, các quan chức Kremlin tuyên bố sẽ “vĩnh viễn” ở lại miền Nam Ukraine.

Ngày 05/5/2022, khi đến thăm Kherson, thành phố gần 30 vạn dân của Ukraine đang bị quân Nga mới chiếm được, nghị sĩ Nga Andrey Turchak đã thẳng thừng tuyên bố:


Vương Trí Nhàn: Sự nghèo nàn của văn hóa Sách ở ta

Viết về tình trạng của những con đường bảo đảm giao thông đi lại ở nước VN cổ, một nhà nghiên cứu nước ngoài đã dùng đến hai chữ ấu trùng.

       

Tôi nghĩ rằng cũng có thể dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 

       

Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển.   

       

Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.

 

1. Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống.

     
Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam(1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.

  

Bắt đầu từ quan niệm :  Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,… đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình.


Trần Doãn Nho: Hè 1972 - nỗi Huế, làm sao nguôi!

Gửi Cai, Lễ, Hải, Sinh, Đắc, Thôi, Đủ, Phương, Thất, Hòa, Huế, Vệ, Chớ…

Tuần lễ đầu tháng 5/2022 vừa qua, nhân kỷ niệm 50 năm “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tạp chí mạng Da Màu, cho đăng lại một bài ký sự của nhà văn Trùng Dương, “Đi nhặt xác đồng bào Quảng Trị trên đại lộ kinh hoàng. Trong “Lời Giới Thiệu”, bà viết: “Trong thời gian này, vào đầu tháng Năm, 1972, khoảng gần 2,000 đồng bào đã bị thiệt mạng trên đường chạy khỏi Quảng Trị khi quân Cộng sản tấn công. Họ chết phần lớn vì pháo kích của Cộng quân rót xuống từ rặng Trường Sơn, xác nằm rải rác trên một quãng đường dài 5.274 mét trên Quốc lộ 1, từ cầu Bến Đá tới cầu Trường Phước thuộc Quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Vì giao tranh còn tiếp diễn, xác các nạn nhân này đành chịu cảnh phơi bầy cùng nắng mưa gió và cả những trận mưa pháo trong nhiều tháng trời. Đúng ra con số nạn nhân chiến cuộc chắc nhiều hơn, nhưng nêu ra con số trên là dựa vào tổng số xác đã nhặt được, đích xác là 1,841 thi hài thường dân, do anh Nguyễn Kinh Châu, người điều khiển chương trình “hốt xác”, và các thân hữu Huế đã bốc được trong suốt “bẩy tháng giữa những xác người” vào mùa hè năm 1972.” [1]


Ký sự này đẩy tôi trở lại với những tháng ngày Huế 1972, rất xa xăm mà vô cùng gần gũi. Như mới đâu đây!

*

Năm 1968, Huế tơi bời khói lửa Mậu Thân:

thành quách nín
đất đá nghẹn
cỏ cây câm
hố hầm co quắp ngột
âm bản cuộc liêu trai [2]

Huế chết đứng, chết ngồi trong hoang tàn, đổ nát!

Jill Biden: Những bà mẹ Ukraine đã dạy tôi điều gì về cuộc chiến này (Nhã Duy chuyển dịch)

Bạn không thể đến một vùng chiến sự và rời đi mà mình chẳng bị thay đổi gì. Bạn không cần phải dùng mắt để thấy được nỗi buồn vì bạn có thể cảm nhận được nó bằng con tim.

Chuyện đau buồn thì cứ lộ trên mặt người. Tựa như một đám mây mờ đã phủ xuống. Những giọt nước mắt của những bà mẹ cứ thường trực trên khóe mắt, như thể họ khó cầm được nỗi buồn. Họ nắm tay con hoặc vuốt tóc con mình như thể họ không thể kham nổi sự chia lìa thể lý. Họ mang những bộ mặt cương nghị nhưng cảm xúc của họ hiện rõ trên đôi vai trĩu nặng cùng nỗi bất an gánh trong mình.

Thiếu vắng một điều gì đó. Tiếng cười, ngôn ngữ chung của phụ nữ.

Các bà mẹ Ukraine tại các trường học Romania và Slovakia mà tôi đến thăm đã kể cho tôi nghe về nỗi kinh hoàng trong cuộc di tản về phía Tây trong những quả bom rơi từng mỗi đêm. Nhiều người đã phải trải qua những ngày không có thức ăn và ánh sáng mặt trời khi phải trốn dưới hầm trú bom.

Một người mẹ trẻ mà tôi gặp ở Uzhhorod, Ukraine đã kể với tôi rằng khi cô và gia đình của cô đánh liều ra ngoài tìm thức ăn thì những lính Nga sẽ bắn vào hàng người đang chờ một mẩu bánh mì. Những bà mẹ Ukraine này rất biết ơn người dân Romania và Slovakia đã giúp đỡ họ. Còn một người mẹ khác là Anna đã nói với tôi rằng, "không có ranh giới nào giữa những con tim chúng ta".

Những người lính biên phòng đã kể cho tôi nghe những câu chuyện về hàng ngàn người mang theo chút ít hành lý băng vào Slovakia. Một biển người tuyệt vọng, những người mà cuộc sống của họ đã vĩnh viễn bị đổi thay vào ngày 24 tháng Hai, cái ngày mà Nga đi xa hơn trong một cuộc chiến xâm lược phi nghĩa đã bắt đầu từ nhiều năm trước.

Trong cái lạnh của tháng Hai, nhiều người đến bằng chân không, vượt bộ nhiều dặm đường. Họ chạy trốn trong cơn sợ hãi, mang theo khát khao có thể được trở về nhà. Một cậu bé 11 tuổi đã tự mình đến với số điện thoại liên lạc gia đình được ghi vào tay. Rồi có cả những chú chó, mèo cũng chạy giặc cùng với chủ. Những người lính bảo tôi, “Chúng tôi chưa chuẩn bị cho những điều như vậy”.

Phạm Thị Hoài: Gốc

Mỗi lần nghe nhắc, mất gốc là nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi mình có cần họ giúp gì không. Cũng gần giống cảm giác như khi bị nhắc, rằng nghệ thuật muốn thế nào cũng phải phát sinh từ hiện thực. Tôi vô cùng biết ơn gốc rễ, hiện thực, mọi quê hương và căn cứ địa khác của nghệ thuật, cũng như biết ơn đội bảo vệ sốt sắng, song trong thâm tâm thì mong các quý vị đó đừng ở chơi quá ba ngày. Phần đông các nghệ sĩ không sáng tạo gì hết. Một số ít sáng tạo trong một giai đoạn ngắn. Một số vô cùng ít sáng tạo tương đối lâu dài. May ra đếm trên đầu ngón tay được những nghệ sĩ suốt đời sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Như vậy tìm ra nguồn cơn của sáng tạo thì khó và điều đó mãi mãi là bí ẩn, chứ một lần nữa cho sự không sáng tạo thêm một nguyên cớ nào có ích gì. Nhà văn Việt ở bên ngoài có thể cho rằng mình không viết nổi, vì thiếu nước Việt chẳng hạn. Nhà văn Việt ở bên trong, nếu viết cũng không nổi, có lẽ vì quá thừa nước Việt chăng?

Tôi vốn tin rằng theo bất kỳ một nghĩa nào người ta cũng không thể mất gốc. Nếu không có, chưa bao giờ có một gốc rễ nào đó, thì mất nó khác nào mất con cá ở ngoài lưới, một con cá thật to. Những thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại, tuy được mệnh danh là người Mỹ, người Pháp, người Đức… gốc Việt, nhưng chữ gốc này cùng lắm chỉ tiết lộ những đặc trưng chủng tộc nào đó chứ không phải đặc trưng văn hoá. Những thế hệ ấy bắt rễ trong văn hoá của các quốc gia mà họ sinh trưởng, họ không thể đánh mất văn hoá Việt, là thứ họ không thực sự sở hữu. Cái gốc thứ hai này mới đáng kể. Thậm chí cái gốc thứ nhất, vận vào họ, tôi cho là đã khiên cưỡng. Chẳng những bản năng thứ hai mà bản năng tự nhiên ở những thế hệ ấy cũng đã thay đổi. Da họ phản ứng với ánh nắng và độ ẩm nhiệt đới khác da người Việt, răng họ mắc hay không mắc những bệnh khác răng người Việt. Họ không rung đùi. Không lê dép loẹt quẹt. Không nhai chóp chép. Không ngồi xổm. Không xỉa răng tung tóe và kháo chuyện ầm ĩ nơi công cộng. Không chen lấn. Không sợ công an. Không mang những cái gene thuần Việt như vậy. Chúng ta thường cảm động trước những cố gắng tìm hiểu về Việt Nam của họ và gọi đó, một cách đầy thiện cảm và cũng đầy mơ hồ, là những cố gắng “tìm về cội nguồn” và lại càng nhiệt tình khích lệ họ viết tiếng Việt. Trong phần lớn các trường hợp ăn giải khuyến khích như vậy, phẩm chất văn chương – mà biểu hiện hiển nhiên nhất là ở chất lượng ngôn ngữ – xếp hàng cuối cùng. Tôi không muốn làm kẻ phá đám khuyến Việt, song thương tiếng Việt như thế cũng khổ cho tiếng Việt lắm.

Đoan Trang/Người Việt: Little Saigon - Ra mắt sách minh oan cho cụ Phan Thanh Giản vào 15 Tháng Năm

LITTLE SAIGON, California (NV) – “Lý do tôi viết cuốn sách ‘Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân’ là vì nhận thấy sự bất công cho cụ Phan Thanh Giản.”

Tác giả, Luật Sư Winston Phan Đào Nguyên, nói với nhật báo Người Việt khi chuẩn bị ra mắt cuốn sách này vào 2 giờ chiều, ngày 15 Tháng Năm, tại Viện Việt Học, 15355 Brookhurst St., Suite 222, Westminster, CA 92683.

Bìa cuốn sách cuốn sách “Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân'” (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Cùng họ với cụ Phan Thanh Giản, nhưng Luật Sư Đào Nguyên khẳng định: “Tôi không phải là ‘hậu duệ,’ cũng không có liên hệ bà con gì với cụ. Thêm lý do tôi viết cuốn sách này, là vì sau cuộc hội thảo về Petrus Ký, Giáo Sư Nguyễn Trung Quân, cựu học sinh, và cũng là cựu hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ, cùng ông Phạm Phú Minh (tức nhà văn Phạm Xuân Đài) ‘gửi gấm’ tôi nghiên cứu về cụ Phan. Quá trình nghiên cứu tôi mới thấy có một sự dàn xếp, bịa đặt của các sử gia miền Bắc Việt Nam, để cố tình hạ nhục cụ Phan Thanh Giản.”

Cuốn sách “Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân’” được tác giả viết trong vòng một năm, khoảng thời gian đại dịch COVID-19. Ông cho biết lúc dịch bệnh, do “không được đi chơi đâu” nên ông dành thời gian cho việc viết sách, ngoài công việc thường nhật không thể bỏ.

Cuốn sách có nhiều các tài liệu bằng tiếng Pháp, tiếng Hán.

Võ Phiến: Quanh Mình

Nàng giặt mấy món đồ. Hai con vịt xiêm loanh quanh bên cạnh, tìm bắt những con bọ màu đen, nhỏ bằng hạt cải, sinh sôi rất nhiều ở những chỗ đất ướt.

Hai con vịt nhỏ bằng hai cái hột xoài, mình cũng dẹp như hột xoài. Chúng lại ưa nằm bẹp xuống đất, vừa nằm vừa ăn: từ xa chạy tới nơi, rồi nằm xuống, mổ lia mổ lịa. Trông chúng lăng xăng, láu táu.

Sống lưng và chóp đầu màu đen, còn lại là vàng. Ở khoảng đen trên sống lưng có bốn chấm vàng, tròn. Hai bên đuôi mắt lại có hai vệt đen kéo dài ra đến tận sau cổ: hai vệt ấy như hai nét vẽ nghịch ngợm làm cho con vịt trông buồn cười, lố bịch.

Lộc được một người đàn bà trong xóm cho hai con vịt từ năm hôm trước. Bà ta mua sáu con, đem về nuôi, một đêm chuột cắn chết ba con, đêm sau lại cắn thêm con nữa. Nàng đến chơi nhà bà ta sáng hôm ấy, đúng lúc bà tìm thấy xác con vịt thứ tư. Người đàn bà nóng tính xách chân con vịt chết giơ lên cao la lối om sòm, rồi tức mình cho nàng luôn hai con vịt còn lại.

Lộc chưa bao giờ nuôi vịt xiêm, không biết tính chúng, nên ngạc nhiên thấy chúng mau quyến luyến mình quá sức: nàng giặt đồ, chúng theo ra giếng, nhưng lát sau nàng vào nhà, chúng sẽ bỏ ăn lúc thúc chạy vào, quanh quẩn và phóng uế đầy bếp. Mới nuôi có mấy hôm, chúng đã mến nàng, không chịu rời.

Người con gái lấy tay lật một mảnh gạch bể: đám bọ rúc dưới gạch hoảng hốt nhảy lung tung, vịt mừng rỡ đuổi bắt. Nàng trông theo vịt, và khi lũ bọ đã tẩu tán hết, nàng ngước mắt lên thì bắt gặp ngay Tín đang rình mình.

Tín đứng ngoài rào nhìn vào. Không biết chàng đã đứng đó từ lúc nào. Bị bắt gặp, Tín cười xòa, cười thật lớn. Người con gái đã bối rối, may nhờ tiếng cười ấy nên lấy lại được bình tĩnh.

Tín bảo “nhân đi ngang qua... tình cờ trông thấy...sẵn dịp v.v...” Chàng giải thích đại khái, qua quít. Rồi chàng ném qua rào cho nàng một quả cam lớn. Lộc đón bắt, quả cam đã rơi đúng vào tay, nhưng vì nàng không giữ kịp nó lại lăn xuống chậu nước. Tín cười lớn lần nữa, rồi vẫy chào, đi luôn.

Vợ Tín đẹp lắm, Lộc không dám tự so sánh. Thiếu phụ ấy vừa đẹp vừa sang trọng, lại khôn ngoan và có trình độ học vấn cao hơn Lộc nhiều. Vả lại trong gia đình đó, người chính là bạn của nàng là chị ấy chứ không phải là anh Tín.

Hồi nàng còn ở Plei-Piom, có một độ Tín thường lui tới địa điểm dinh điền để theo dõi việc khoan mấy cái giếng nước. Tín là kỹ sư học ở Mỹ vừa về được vài năm, dáng dấp nhanh nhẹn, trẻ trung; người ta có cảm tưởng chàng chưa vợ con gì. Một hôm, chàng trông thấy Lộc ở văn phòng địa điểm trưởng, vô ý để lộ một vẻ ngạc nhiên sững sờ. Người con gái đỏ mặt. Tín vội vàng nói chữa thẹn:

– Các cô tài thật. Ðến đây mà vẫn giữ đầu tóc uốn: mỗi bận làm tóc phải đi hàng trăm cây số. Khiếp.

Người chung quanh cùng cười với chàng. Và sự việc không hề đi xa hơn những câu chuyện trao đổi lớt phớt. Sáu tháng sau, khi gặp người vợ xinh đẹp của Tín, người con gái chợt đau nhói trong lòng, nhưng nàng tự dưng muốn làm quen cho kỳ được. Vợ Tín là một người vui vẻ, không bao lâu hai bên chị chị em em với nhau thân mật. Mối quan hệ giao du với gia đình người kỹ sư ấy thật lành mạnh. Vả lại họ không có dịp ở gần nhau lâu: trong những năm qua hai bên đã nhiều lần thuyên chuyển, mỗi bên mỗi nơi.

Nhưng cách đây bốn tháng, khi Lộc đến Bảo Lộc thì gặp gia đình Tín đã ở đấy từ ba tháng trước. Vợ Tín mở một quán cà-phê, nhạc hay, trang hoàng khéo, thu hút được giới trẻ đông đảo. Chị đề nghị với Lộc:

– Em rảnh không? Tối tối em đến giúp chị một lát đi. Ðược không?

Nàng chưa kịp trả lời, chị đã mau mắn phân trần:

– Cả ngày chị ngồi hoài ê ẩm cả người, mà không giao được công việc cho ai. Ờ, ngồi két ấy mà. Em làm việc ở sở ban ngày, chứ ban đêm... Quán chị không mở cửa khuya đâu.

Sự thực chị Tín đâu có cần thuyết phục? “Giúp” chị, Lộc quá sẵn sàng. Nàng mơ hồ lo lắng về cái tâm lý sẵn sàng của mình: chính vì vậy mà nàng chùng chình, ngại ngùng, không dám mở miệng nhận lời ngay.

Tới lui nhà Tín để làm gì? Nàng cần gì, mong đợi gì ở Tín? Nàng không biết, không có ý định nào rõ rệt cả. Tuy nhiên, một cảm tình mơ hồ, khuây khỏa, nhạt nhòa, từ nhiều năm tháng, vẫn hướng nàng về phía gia đình ấy. Làm sao nàng không nhận lời đến “giúp” chị Tín được?

Quán cà-phê ấy, ban ngày với “bà kỹ sư” ngồi két, ban đêm với Lộc, càng thu hút nhiều khách, mà một thiếu phụ một thiếu nữ, cả hai đều kín đáo đoan trang. Chính cái vẻ hững hờ, thản nhiên của họ làm họ càng xa cách và càng có sức hấp dẫn.

Ðêm đêm đến quán cà-phê của Tín, thực ra Lộc không có mấy dịp gặp chàng. Nàng gặp chàng ở sở này sở nọ hay ngoài phố nhiều hơn. Tuy vậy, cái việc ngồi két ở quán của chàng khiến Lộc có cảm tưởng gần với chàng hơn. “Gần” một cách hết sức mơ hồ.

Vào tuần lễ cuối cùng trước nghỉ Tết năm vừa qua, một buổi chiều, sau giờ làm việc, Tín đến sở của nàng trong lúc nàng sắp mãn phiên trực. Sở không còn ai, nàng thờ thẫn ra sân rồi đi lần ra đứng bên cánh cổng sắt, chờ người nhân viên trực đêm đến thay thế.

Ðúng vào lúc ấy, Tín đến. Chàng hỏi:

– Giờ này cô còn ở sở?

– Em trực, sắp về.

– Ông cụ có trong ấy chứ?

Nàng lắc đầu:

– Ðâu có. Ông ấy về từ bốn giờ rưỡi.

“Ông cụ” là trưởng ty của nàng. Tín tới tìm ông ta tại nhà, không gặp, tưởng ông ta còn bận việc ở sở. Sau câu trả lời của Lộc, hai người không thấy có gì để nói về vấn đề “ông cụ” nữa. Và cái phút lặng yên, kẻ phía trong người phía ngoài cánh cổng một tòa nhà vắng vẻ làm cho họ bất ngờ lúng túng.

Hồi sau Tín hỏi:

– Ngày mốt cô về Sài Gòn?

– Có lẽ em ở lại thêm một hôm nữa.

– Mùng mấy lại lên?

– Có lẽ đến mồng mười.

– “Có lẽ” hoài. Không cái gì nhất định hết.

Giọng hai người bất giác thấp xuống. Tiếng cười cùng hạ thấp. Lộc đang nắm mấy cái kẹo trong tay, đưa ra mời. Nàng lặng lẽ mở bàn tay, không nói gì. Tín đưa tay nhón lấy một cái. Hình như chàng toan làm một cử chỉ gì hay nói một câu gì đó thì có tiếng dép ở xa xa.

Không cần quay lại, Lộc đã biết đó là vợ người lao công. Nàng rút tay về, xô rộng cánh cổng, nói lớn:

– Mời anh vào. Chờ một tí, không chừng ông cụ lại đến.

– Thôi khỏi cô. Tôi sẽ lại đằng nhà đúng vào giờ ăn tối, thế nào cũng bắt được.

Sáng hôm sau thật sớm, Lộc đang giặt giũ ở giếng nhà trọ thì Tín “nhân đi ngang qua” gọi chào nàng, và ném vào cho nàng một trái quít, bảo vừa hái ở đồn điền ông Tâm về. Rồi một hôm khác nữa...

Những chuyện như thế, tự nó cũng chưa có hẳn một ý nghĩa gì, một hứa hẹn gì rõ rệt. Nhưng thỉnh thoảng Lộc chợt nghĩ đến, nhớ lại một vài chi tiết, và nàng nhận thấy nó có một sức “ngấm” đáng sợ. Nó ngấm dần, ngấm dần.

Cuối cùng Lộc nghĩ: nên về ở hẳn với mẹ nàng, ở Thủ Ðức. Mẹ nàng nhắn đã nhiều lần. Lương bổng chẳng bao nhiêu, trước đây đã có lúc nàng muốn xin nghỉ việc về ở với mẹ. Lần này thì không nên dần dà nữa. Về đi thì hơn.





Một mặt nàng đã chán cuộc sống lênh đênh, lẻ loi, đầy bất trắc. Mặt khác nàng về với mẹ, việc ấy có nghĩa như một sự tha thứ, sẽ đem lại cảm tưởng yên ổn để mẹ nàng vui sống trong tuổi già.

Tha thứ tội lỗi gì? Lộc cũng không rõ lắm. Cái biến cố kinh khủng ấy trong quá khứ của mẹ nàng, nàng chưa gặp một người nào chịu trình bày đầy đủ cặn kẽ cho nàng biết. Những người thân thì vì cảm tình đối với mẹ nàng mà không nỡ nói đến chuyện ấy, nhất là nói với đứa con gái của bà. Nhưng cũng có lẽ là thực ra chẳng mấy ai hiểu biết tường tận câu chuyện xảy ra làm sao.

Mẹ nàng mà lấy một lượt hai người chồng? Không tưởng tượng được. Bà đâu phải con người lẳng lơ. Từ ngày khôn lớn tới giờ Lộc càng ngày càng ngạc nhiên về mẹ mình. Nàng đâu có ngây ngô gì? Nàng biết phán đoán chứ, nàng đi đây đi đó nhiều, giao thiệp nhiều hạng người, nàng biết nhận xét chứ: mẹ nàng không những không phải một người đàn bà lẳng lơ, bà lại còn quá bảo thủ, cố chấp. Mẹ nàng cũng kín đáo như nàng, ngoài ra bà lại là con người nề nếp thuộc lớp trước.

Người đàn bà như thế lấy hai chồng cách nào? đã ăn ở, chung sống một lượt với hai người đàn ông nọ ra sao? Trời ơi, mẹ nàng! Không tưởng tượng được.

Mà chính bà mẹ của Lộc, chính bà, bây giờ có lẽ cũng không nhớ, không nghĩ ra thái độ của mình hồi đó. Biến cố nọ như một chuyện dị thường, từ đâu xảy đến, rồi mất đi, không cắt nghĩa nổi. Trong số những người ngạc nhiên có cả chính bà.

Ðại khái những điều Lộc được biết là sau khi cha mẹ nàng sống với nhau êm đềm được ba năm, nàng đã được một tuổi rưỡi, thì trong số bạn bè của cha nàng có một kẻ bỗng tới lui thân mật. Hình như là một người làm thầu khoán gì đó. Người ấy đau một trận thập tử nhất sinh tại nhà gia đình nàng, mẹ nàng săn sóc. Lành bệnh, người đàn ông nhất định không đi đâu nữa: Chết sống chỉ biết có một người đàn bà là mẹ nàng, ông ta nói vậy. Nói thành khẩn, chí tình.

Tất cả gia đình, họ hàng, xóm giềng v.v... đều lấy làm một sự kinh hoàng. Nhưng còn biết làm gì được nữa?

Cuộc sống của bộ ba kéo dài ba năm. Có nhiều sóng gió dữ dội xảy ra trong thời gian ấy, đưa tới hai kết quả: thứ nhất, Lộc được bà nội đem về nuôi, không cho ở chung với mẹ (từ đó nàng sẽ lênh đênh từ nhà nội đến nhà bà cô này bà dì kia cho tới lớn); thứ nhì, cha nàng bỏ nhà đi biệt tích.

Nghe nói ông đi vào dịp mẹ nàng hạ sinh một đứa con trai. Con của ai? Mẹ nàng không trả lời được cái thắc mắc ấy. Cha nàng và cả người đàn ông kia, cả hai không thể không băn khoăn. Rồi lồng lộn lên. Cho nên một người phải ra đi.

Còn người chồng sau của mẹ nàng thì ông ta không thể đi đâu, không thể rời được mẹ nàng. “Sống chết” với mẹ nàng, “ông Trời bắt tôi...”, ông ta phân trần với mọi người như thế. Ðó là một người đam mê liều lĩnh đến bất thường. Mẹ nàng vốn điềm đạm bình tĩnh như vậy mà rồi cũng lao vào cuộc tình này, ấy có lẽ là do sức lôi cuốn khốc hại của người đàn ông nọ. Sức đam mê của ông ta lôi cuốn như cuồng phong, như lốc bão. Mẹ nàng bấy giờ còn trẻ, không đủ sức tự chủ, lại vì tính tình chậm chạp cho nên bà đã bị hút vào trận lốc mà vẫn chưa kịp hiểu tình thế.

Ðứa em trai duy nhất của nàng sinh ra chẳng bao lâu rồi mất. Mà người chồng sau của mẹ nàng cũng chết trong một tai nạn lao động: ông ta bị ngã từ trên trần nhà xuống, đập đầu vào một đống gạch, ngắc ngoải năm tuần lễ, rồi đi luôn.

Sau khi chôn cất người đàn ông ấy, mẹ nàng như tỉnh một giấc mơ. Bà bước ra khỏi một thời kỳ cuồng loạn, và như thể không bao giờ dám ngoảnh mặt ngó lại. Không ai nghe mẹ nàng nhắc một lời nào tới quá khứ. Mẹ nàng dứt khoát: bà không có quá khứ nữa.

Cái việc mẹ nàng trôi giạt vào tận Thủ Ðức, lập nghiệp ở đây, một phần là do sự run rủi của công việc làm ăn, nhưng một phần khác chắc chắn cũng là do ý bà muốn rời xa quê hương, thân thuộc. Trong nhà, Lộc đã để ý tìm kiếm mà không hề thấy một vết tích gì của đời vợ chồng hay tình ái của mẹ nàng xưa kia: không một món đồ nào của đàn ông còn sót lại, không một tấm hình của người nào trong hai người.

Mẹ nàng mất hẳn quá khứ, tưởng như cũng không còn tình cảm nữa. Từ ngày khôn lớn, Lộc tuyệt nhiên không biết đến một mối tình nào của mẹ. Thậm chí nàng cũng không hề có lúc nào bắt gặp ở mẹ nàng một lời nói, một cử chỉ, một ánh mắt biểu lộ sự xúc động đối với nam phái. Bà như tắt ngấm đi. Nguội lạnh, uể oải.

Càng lớn Lộc càng thương mẹ. Những bất trắc tình cảm ở đời, ai cho khỏi? Chẳng qua là tai họa, có gì đáng trách đâu. Bấy lâu nàng không về ở được với mẹ không phải là vì thành kiến gì đối với chuyện cũ của bà, thực ra chỉ vì tính nàng dùng dằng bất quyết. Bây giờ nàng về, chắc bà mừng lắm.

Nàng về chứ. Lúc này nàng đang cần một chỗ để về, để trốn nấp. Nàng đang bối rối vì sự đe dọa của một thứ tình cảm không lành.





Hôm qua, hai con vịt đã biểu diễn một màn thân ái làm nàng ngạc nhiên. Nàng ngồi lặt mớ rau muống ngoài sân, chúng chạy loanh quanh, vung vung cái đuôi, rồi nằm bẹp xuống bên cạnh. Một lát, nàng bưng rổ rau đã lặt xong vào bếp. Nàng vừa ngồi xuống trước cái hỏa lò, nghe có tiếng líu ríu sau lưng, quay lại thì đã thấy đủ hai con vịt xiêm con. Chúng nằm bẹp từ lúc nào sát chân nàng, nghểnh cao cổ, mở những con mắt đen lay láy, vung vung cái đuôi... Buồn cười, chúng bám theo nàng như trẻ con theo mẹ. Trông ngây ngô, tội nghiệp.

Vài ngày nữa Lộc về với mẹ, và sẽ bỏ lại hai con vịt xiêm con với sự quyến luyến của chúng. Nàng đã bỏ sau lưng những “tình cảm” quấn quít như thế ở nhiều nơi. Một con chó quắn ở Gia Nghĩa mỗi lần trông thấy nàng bế một đứa bé trên tay hay ôm một con gà ra vẻ tưng tiu là nó khốn khổ chạy quýnh lên, rên ư ử. Nó ganh tị. Nàng đi đâu vắng vài ngày, lúc về tới nhà, nó lăng quăng, sủa ăng ẳng, mừng vãi cả nước tiểu ra, lúc được bồng lên nó ngậm lấy tay nàng giữ trong miệng thật lâu.

Còn những con mèo của các nhà trọ ở đây đó chúng đều tinh khôn và mến nàng kín đáo. Có con ngày đêm quanh quẩn bên gối giường nàng, nó quen hơi hướng của nàng và nàng quen nó. Có con mỗi bữa ăn lặng lẽ nép bên mình nàng, và thỉnh thoảng lấy chân trước khều thật nhẹ để nhắc nhở, để xin món ăn. Nó khều nàng mà như biết tránh sự chú ý của mọi người khác.

Hồi ở trên Pleiku, công việc bàn giấy tại địa điểm dinh điền chẳng có bao nhiêu; nàng vẫn lãnh phần đi chợ hàng ngày cho mấy anh chị em cán bộ ở chung với nhau. Lần nào đi chợ Lộc cũng xin một ít đầu tôm đuôi cá đem về cho mấy con gà. Gà ăn quen, riết rồi mỗi lần nàng đi chợ về, nghe tiếng nói hay tiếng chân của nàng từ ngoài sân hay trước ngõ, chúng nó đã mừng rỡ rối rít, đập cánh, nhảy nhót, la lên quang quác trong chuồng. Người đàn bà ở căn nhà sát vách bật cười, kêu: “Má về, tụi bay ơi. Má về rồi đó”. Ít khi lũ gà lầm lẫn: chúng phân biệt tiếng chân và bóng dáng của nàng từ xa thật đúng.

Những thứ tình cảm như vậy đều có đi có lại. Ðối với những con gà, con vịt, con chó, con mèo ấy Lộc cũng có một thái độ âu yếm theo cách riêng. Nàng có cảm tưởng mình sống ở đâu xung quanh cũng có một bầu không khí tình cảm ấm áp bao bọc. “Bao bọc những người con gái muộn chồng”, có lúc nàng chua chát.

Lần này tại sở của nàng làm, vợ chồng người lao công có một đứa con trai vào khoảng tám, chín tuổi gì đó. Gia đình người lao công ở một căn nhà phụ ngay trong sở, cho nên nàng vẫn trông thấy đứa bé hàng ngày. Hai tháng gần đây, Lộc nhiều lần bắt gặp nó hoặc quanh quẩn bên chiếc xe gắn máy của nàng, hoặc đứng từ xa nhìn nàng làm việc, hoặc lảng vảng đón đợi nàng lúc đi lúc về.

Cái rung động mông lung, ngây thơ trong lòng một đứa trẻ ấy, có mấy người khác trong sở cùng để ý. “Nó yêu đấy”. Nàng cười: “Nếu tôi có chồng sớm con tôi cũng bằng nó.”

Nàng nói để đuổi câu chuyện đi. Nhưng thực sự, nàng không thể xua đuổi được khỏi tâm trí “mối tình” nọ. Quanh nàng bầu không khí tình cảm bao bọc càng ấm càng nồng.

Lộc lúc nào cũng được yêu mến. Nhưng yêu mến vậy vậy thôi, chẳng đi tới đâu, mà tuổi trẻ của nàng thì... tuổi trẻ bất cứ của ai cũng thế, nó không chịu chờ đợi. Chờ đợi mỏi mòn trong những tình yêu gà yêu vịt.

Lộc không ở hẳn với cha, không ở với mẹ. Từ bao nhiêu lâu nàng không có hẳn một quê hương, dù là quê cha hay quê mẹ. Dần dần, lớn lên, nàng thấy mình sắp mất đi một thứ quê hương nữa: là tuổi trẻ. Xa tuổi trẻ nàng mất tự tín, nàng bơ vơ, hoang mang.

Tự nhiên Lộc thấy mình cần về ở với mẹ, về hẳn.




Khi cha nàng bỏ nhà ra đi, ông bặt tin luôn bốn năm. Rồi vẫn không thư từ tin tức gì, một hôm thình lình ông về thăm nhà thì bấy giờ ông đã thành một quân nhân rồi. Cũng như nhiều người khác từ ngoài Trung ra đi, ông cũng vào trong Nam tìm sinh kế, nhưng không hiểu làm sao ông lại vào lính. Bây giờ cha Lộc là một đại úy ở dưới Cần Thơ.

Hình như mẹ nàng có biết về những điều đó: cha nàng lấy vợ ở Vĩnh Long, có thêm hai con trai ba con gái, cha nàng thỉnh thoảng về thăm nhà ngoài Trung, vẫn gặp Lộc, cha con vẫn liên lạc với nhau, lâu lâu cha nàng gửi cho nàng một món tiền, một món quà v.v... Mẹ nàng không biết gì rõ rệt lắm, bà cũng không trực tiếp hỏi nàng lần nào. Tuy nhiên mỗi khi có cái áo dài, cái ví của cha nàng mới cho, Lộc vẫn khéo léo cho mẹ biết.

Thái độ của người đàn ông làm cho nàng ngạc nhiên. Cha nàng không giấu được sự thù hận. Thật lạ lùng: Ông không phải không biết đại khái mẹ nàng bây giờ sống ra sao, nhưng càng ngày ông càng thâm thù. Sau cuộc đổ vỡ, giữa hai người ông được nhiều “thành công” hơn chứ, ông vẫn lập lại một gia đình, ông đang sống sum vầy. Còn người đàn bà thì cuộc đời tan hoang rồi, còn gì đâu. Vậy mà ông không tha thứ được. Ông vẫn như còn ngượng ngùng, dằn dỗi: không bao giờ về quê mà ông chịu đem theo người vợ sau hay những đứa con của người vợ sau. Lộc chưa gặp bà dì Vĩnh Long và mấy đứa em. Bà nội nàng thì có một lần vào Cần Thơ nửa tháng, nhưng Lộc và bao nhiêu người khác ở phía nội đều chưa được ghé mắt nhòm vào cuộc đời sau của cha nàng.

Quả là khi cần về, nàng chỉ có thể về ở với mẹ mà thôi, dù bà có ra sao đi nữa.



Phơi xong các món đồ vừa giặt lên dây, Lộc xách cái thau nhựa và nhặt trái cam lên. Nàng vừa bước vào nhà vừa nghĩ: “Anh ấy mà biết những trái cam trái quít này tống xuất mình ra khỏi Bảo Lộc?”

Người con gái nghĩ đến những giây phút xúc động, những cái nhìn những câu nói trao đổi với Tín... Nàng nghĩ đến những cái nhìn những câu nói đêm đêm trong quán cà-phê của những người con trai, trong số đó có mấy khuôn mặt mà chắc chắn nàng sẽ không quên được, dù không quen biết... Trong cái quán cà-phê mà nàng sẽ rời bỏ mãi mãi.

Nàng nghĩ... quanh nàng không phải chỉ có những cặp mắt đen láy của vịt xiêm con, của thằng bé nhà bác lao công, không phải chỉ có tình gà tình vịt. Quanh nàng không phải chỉ là một bầu không khí ấm áp, mà có cả một bầu không khí chất chứa những luồng điện nguy hiểm, luôn luôn sẵn sàng phát nổ vì một tia lửa, một bầu không khí đầy bất trắc...

Nàng mà ngại sự bất trắc? Vâng, chán cảnh lênh đênh thì có, chứ còn đối với sự bất trắc...

... Một người con gái chỉ thực sự “sống” trong sự bất trắc. Ðến lúc quyết định về với mẹ, với cảnh an toàn, Lộc mới cảm thấy mình đang thu xếp cho một cái gì như là một cảnh hạ màn. Thu xếp rời bỏ cuộc sống thực sự. Không còn đe dọa bất trắc nào nữa, đời nàng còn gì sống động? Ðối với một người con gái, như vậy có còn là sống nữa chăng?

Những ánh mắt lén lút, những câu nói lập lờ...: tới phút chót người con gái đoan trang bỗng thấy mình vẫn yêu thích sự bất trắc.

Khi bất trắc bùng nổ như bom trong đời mẹ nàng thì suốt một đời bà không lấy lại được thăng bằng. Trái lại ở một cuộc sống như của nàng thì nàng gần như không ngớt chờ đợi sự bất trắc, những bất trắc làm run rẩy cuộc sống. Chờ đợi âm thầm, vô ý thức, nhưng mà thiết tha, như thể mong mỏi cái ý nghĩa của cả cuộc đời, ít ra là ý nghĩa của tuổi xuân mình vậy. – Ô hay!


1974