Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2021

Ngự Thuyết: Rừng Sâu

Người ta lúc mới sinh ra đời tính vốn thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện). Hay vốn ác? Câu nói đó đã được đặt ra từ ngàn xưa. Thiện chăng? Rồi vì hoàn cảnh xấu xa mà biến thành ác. Hay ác chăng? Rồi nhờ hoàn cảnh tốt đẹp trở thành thiện. Hay người ta lúc mới sinh ra không thiện, không ác. Môi trường sống, hoàn cảnh sống, trình độ giáo dục, chế độ xã hội, vân vân, sẽ quyết định bản tính của con người? Hay mỗi người là một cá thể riêng biệt trong đó thiện hay ác có tính cách tiên thiên, tiền định. Hoặc do nghiệp duyên như trong giáo lý nhà Phật?

Vậy thì cá nhân tôi nên được sắp vào loại mục nào? Có khá hơn một số loài thú dữ trong rừng hay không về mặt thiện, ác.

Số là.

Hồi nhỏ tôi thích nhìn ngắm chim đậu trên cây, và nghe nó hót. Hình dáng của nó trông thật đẹp đẽ, thanh thoát, tiếng nó hót nghe thật du dương, êm ái. Mà cũng kỳ cục, lại rất thích bắn chim. Tôi có tay “sát điểu”, bắn ná cao-su giỏi, để phân biệt với mấy thằng nhóc khác có tay “sát ngư”, câu cá giỏi. Những giờ rảnh rỗi đi học về hoặc cuối tuần, tôi thường xách ná đi bắn chim. Lúc đó tôi học lớp sáu hay lớp bảy trung học, mỗi khi đi bắn chim có mấy đứa con nít cùng xóm đi theo. Con nít thích tôi, tôi cũng thích chúng nó. Gặp chim gì cũng bắn, chim sẻ, chim sáo, chào mào, cà cưỡng, bồ chao, cu gáy, cu ngói, chèo bẻo ... Hay những loại chim nhỏ tôi không biết tên, thì gọi chung là chim sâu. Có hôm thấy chim giàng giàng cánh lớn bay lượn trên không trung, tôi giương ná bắn đại. Thế mà chó ngáp phải ruồi, trúng. Con chim bị đạn lạc (đạn: đá cuội nho nhỏ, tròn tròn, bắn mới chính xác), rơi chập chờn như chiếc lá to bảng. Đúng ra, khi rơi nó chưa chết, cố vẫy cánh lần cuối cùng.

Hạ xong một con chim, tôi lấy mảnh chai cứa lên nạng ná một vạch nhỏ làm dấu ghi thành tích. Hết chỗ làm dấu thì thay nạng ná khác. Mấy em bé đi theo có khi phải chui qua hàng rào tre, hóp vào vườn người ta để lượm chim bị hạ, có khi phải chui vào bụi rậm gai gốc, trầy trụa cả chân tay. Thế mà chúng cũng tranh nhau để được tôi chọn chạy lượm chim. Chờ bắn hạ được vài ba con, tôi bảo chúng nó làm thịt. Đứa thì nhổ lông chim, đứa thì lấy dao mổ bụng chim moi hết ruột gan vất đi, đứa thì nhóm lửa. Xong, nướng. Chia nhau ăn mỗi đứa một miếng nhỏ xíu, thơm thơm, beo béo, tanh tanh. Tụi nó nhường cho tôi ăn thêm cái đầu. Hai ngón tay cầm lấy mỏ chim đã bị cháy khét, đun đầu chim vô miệng, nhai rụm rụm, khoái trá. Cuộc “đi săn tập thể” thế là đã được kết thúc một cách vui sướng, thơ ngây. 

Đông Hương: Bóng Cuộc Đời Mình

Hình minh hoạ, Three Lions/Getty Images
Lang thang vào cõi mênh mông
cái nhìn lạ lẫm vô hồn không vui
tôi như chiếc bóng cuộc đời
gót in trên bụi phủ rơi cao tầng

*
Lang thang trong cõi phù vân
nghe từng bước nhẹ lâng lâng in đường
tôi nhìn bóng tôi chao nghiêng
chênh vênh sa mạc cát thiên thu vàng

*
Lang thang giữa biển sóng cuồng
tôi chìm sâu tuốt đáy hồn đạ̣i dương
ở đây là chốn xa trần
rêu rong phủ kín, níu chân vô thường

*
Lang thang về hướng con đường
ngôi vườn tri kỷ cây tình mọc hoang
tôi ngồi ôm cội gốc quen
miên man để nhớ không ngoan phiêu bồng...

Đ.H.

Phạm Phú Minh: Họa sĩ Thái Tuấn và báo Thế Kỷ 21

một mảnh ký ức nhỏ của Phạm Phú Minh 

Một số các bức tranh bản gốc họa sĩ Thái Tuấn gửi cho báo Thế Kỷ 21

Suốt mấy tháng trong năm 2016, nhà văn Trần Doãn Nho và tôi, như là việc hỏi đáp trong một cuộc phỏng vấn, liên tục trao đổi nhiều e-mail về nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động báo chí, văn hóa của tôi từ ngày đến Mỹ, trong đó có việc tôi tham gia tòa soạn tạp chí Thế Kỷ 21 kéo dài 15 năm từ 1993 cho đến 2007. Về phần đóng góp mặt mỹ thuật cho tờ báo, tôi có ghi lại như sau :

Nhưng tôi sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc tới các họa sĩ đã đóng góp tài hoa của mình để giúp cho phần mỹ thuật của tờ báo. Trước hết là đôi nghệ sĩ Nguyễn Đồng-Nguyễn Thị Hợp, suốt 18 năm từ số đầu tiên cho đến số cuối cùng của Thế Kỷ 21 đã giữ công việc trình bày bìa báo và đóng góp các minh họa cho các trang trong. Họa sĩ Ngọc Dũng và Vũ Thái Hòa (Pháp) ngay trong những số đầu tiên đã đóng góp nhiều hình vẽ trang trí, các năm sau có các họa sĩ Thái Tuấn, Đinh Cường gửi tranh đóng góp rất tích cực lâu dài. Các họa sĩ cũng nhiều lần gửi hình chụp các bức tranh yêu thích của mình để làm bìa báo. Thời đó, thập niên cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, quý vị họa sĩ đều gửi họa phẩm trên giấy, bằng đường bưu điện. Về hý họa, các số đầu thường có tác phẩm ký tên Gúc và Kúm (cho tới nay tôi cũng chưa được biết quý vị này là ai), rồi đến họa sĩ Hiếu Đệ cộng tác một thời gian. Họa sĩ Babui Mamburao vẽ hý họa cho Thế Kỷ 21 trong mười mấy năm liền cho đến ngày báo đóng cửa.

Trần Kiêm Đoàn: Bún Bò Huế

Bún không phải chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống của Huế, nhưng đối với người Huế, bún còn là một phần lối sống “Kiểu Huế.” Kiểu Huế là nghèo mà vẫn sang, vui rộn rã mà vẫn man mác buồn, ngoài mặt phẳng lặng mà trong lòng dậy sóng, không soi bóng mình trong gương mà soi bóng mình trong đôi mắt của người thương, bè bạn, xóm giềng. Người ngọai quốc như ông Foulon cũng nhận xét về sự mâu thuẫn của Huế: “Tóc tang cười nụ, vui mừng thở than!” (Lê Văn Lân dịch)

Huế mâu thuẫn từ buổi mới vào đời, đài các từ ngày mới có tên. Tên đất thì nhỏ như nốt ruồi son: Ô, Rí, Huế... mà tên người lại dài lướt thướt như mái tóc mây dài chấm gót: Công Tằng Tôn Nữ Thị Sông Hương, Nguyễn Khoa Hoàng Thành, Tôn Thất Quỳnh Phương... Huế quá trầm lặng và chật như cái bể cạn mà phải chứa những tâm hồn bão nổi sông hồ, nên dân Huế ngoài mặt hiền khô mà trong lòng cưu mang những bến bờ viễn xứ, sẵn sàng phản kháng và rực lửa đấu tranh “dấy loạn” như Lục Vân Tiên ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha. Cái dấy loạn bạo liệt nhưng nên thơ và lý tưởng quá đà của những tâm hồn lãng mạn kiểu Huế chỉ làm cho Huế thành đất dấy nghĩa nhưng không thể nuôi lớn Huế thành căn cứ địa, chiến khu như Tân Sở, Ba Lòng. Xưa vua Hàm Nghi và vua Duy Tân chỉ có những phút huy hoàng và chợt tắt ở Huế, để rồi suốt canh thâu le lói ở phương nào. 

Tô bún bò Huế cũng là một biểu hiện của văn hóa Huế vì đây cũng là một sự “dấy nghĩa” trong truyền thống nấu ăn khi cho bò nổi heo chìm trong cùng một nồi, trộn lẫn hai tính chất mâu thuẫn “bò nấu thì teo, heo nấu thì nở” thành một thể hài hòa. Huế đã dùng sả để “chuyên trị” thịt bò chứ không dùng ngũ vị hương để chuyên trị như truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và miền Bắc. Tô bún Huế mang hương vị “rất Huế” để mà cảm nhận và thưởng thức như cảm nhận và thưởng thức mùi khói sóng buổi chiều trên sông Hương. Tự nhiên như: “Nó ngon thì tại nó ngon. Có chồng thì phải nuôi con, thờ chồng”. Cái dễ giận nhất của người Huế là “mình cảm thấy...” mà không cần lý luận. Bởi vậy, hình như càng đem lý tính để phân tích các món ăn Huế, cái hiểu về hương vị thực tế càng xoải cánh bay xa...

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2021

Hoàng Kim Oanh: Nguyễn Thị Hoàng - “Đâu Biết Đời Kia Vẫn Đợi Chờ”...

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng tại buổi Cà Phê Văn Học
(ảnh Trần Viết Ngạc) 
"Chợt thấy nhà ai cây trổ hoa
Ơ hay xuân tới tự bao giờ
Lòng ta tàn lạnh như mùa tận
Đâu biết đời kia vẫn đợi chờ"

(Nguyễn Thị Hoàng, Mây bay qua trời xưa, tr.232)

1. 

Như một gọi mời bất chợt, cái tên Nguyễn Thị Hoàng bật lên trong tôi cả một miền ký ức tưởng đã lãng quên gần nửa thế kỷ trước. Uyên Thao khi “Lược ghi về văn nghệ nữ giới Việt Nam” trong công trình Các nhà văn nữ Việt Nam 1900-1970 (Nxb Nhân Chủ, 1973) cho rằng văn chương nữ giới Việt Nam có hai mốc phát triển quan trọng. Đó là năm 1928 khi nữ sĩ Tương Phố với Giọt lệ thu lần đầu xuất hiện trên tạp chí Nam Phong như một ghi nhận tài năng nữ giới trong văn chương, mở ra nhiều khuôn mặt nữ giới trên thi văn đàn. Và năm 1966, chính là năm khẳng định sự có mặt của văn chương nữ giới với Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng và Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Với hai tác phẩm sau này “người ta không còn thấy dáng dấp e dè của nguời nữ trong sinh hoạt văn nghệ nữa, cái dáng dấp thường tạo một thành kiến là nữ giới không thể chiếm một chỗ ngồi chính thức trong văn nghệ” (sđd, tr.27-8). Có thể nói, nếu ở mốc thứ nhất chỉ là sự ghi nhận của một tác giả thì sang mốc thứ hai này, văn nghệ nữ giới được biết đến “qua nhiều tác giả, đồng thời những tác phẩm thành công” và Uyên Thao cho rằng “nữ giới đã tạo được một thế đứng hết sức quan trọng.” (sđd,tr.29). 

Amanda Gorman: Ngọn Đồi Ta Trèo (Bản dịch của Trần Mộng Tú từ bản Anh Ngữ: The Hill We Climb - Amanda Gorman)

Amanda Gorman trình bày trong lễ đăng quang của Tổng Thống Joe Biden vào ngày 20 tháng 1, 2021. Hình PATRICK SEMANSKY/POOL/AFP via Getty Images

Ngày đã bắt đầu rồi
Sao vẫn đầy bóng tối
Mất mát nào cưu mang
Đại dương nào ta lội

Từ bụng con quái thú
Ta bước đi can trường
Yên lặng ở quanh ta
Chẳng phải là êm ả

Trong tín điều đưa ra
Công bằng hay công lý
Chưa định phân rõ ràng
Thì bình minh đã đến

Ta đã có kết quả
Không biết bằng cách nào
Ta đã được chứng kiến
Một cường quốc còn nguyên
Dẫu chưa được hoàn thiện

Ta chính là hậu duệ
Của thời điểm xa xưa
Nơi đứa bé da đen
gày gò, sống với mẹ
một bà mẹ độc thân
đứa bé được đọc thơ
ngày đăng quang Tổng Thống
nó mơ làm Tổng Thống

Mặc dù rất xa vời
Những lịch lãm uyên nguyên
Không thể nào dựng được
Một đế chế hoàn toàn
Chúng ta chỉ ao ước
Một liên minh an hòa
Một chính quyền tôn trọng
Văn hóa và màu da

Chúng ta cùng ngước nhìn
Không vì ai bên cạnh
Mà hãy nhìn những gì
Sừng sững giữa chúng ta

San bằng hố chia rẽ
Kéo chia biệt ra xa
Đặt tương lai trên hết
Chỉ còn Ta với Ta

Hãy bỏ khẩu súng xuống
Để cánh tay nối dài
Không ai tổn thương cả
Mọi người đều an hòa

Để thế giới công nhận
một sự thật hiển nhiên
trong nước mắt trưởng thành
đớn đau ta hy vọng

Ta gắn liền với nhau
Không phải vì thất trận
Mà cho chính chia rẽ
Không có dịp nẩy mầm

Trong Kinh Thư đã nói
Chúng ta được nghỉ ngơi
Dưới dàn nho xanh tươi
Dưới cây vả an bình

Hãy sống cương vị mình
Không làm ai sợ hãi
Thanh kiếm không mang lại
Vinh quang bằng nhịp cầu

Ngọn đồi ta trèo lên
Khi là dân tộc Mỹ
Không bởi vì kế thừa
Mà chúng ta bước vào

Cùng chung nhau hàn gắn
Cùng chung nhau chia sẻ
Chúng ta đã nhìn thấy
Quốc gia gần nát tan

Thay vì chia sẻ nhau
Lại đang tâm chia rẽ
Dân chủ bị trì hoãn
Nhưng không mất bao giờ

Hãy trông vào sự thật
Lịch sử đã chứng minh
Dân chủ đôi khi trễ
Nhưng không mất bao giờ

Đã đến thời cứu độ
Phút kinh hoàng đã qua
Sức mạnh và lòng dân
Ta lật trang Sử mới

Ta tặng nhau tiếng cười
Niềm tin và hy vọng
Trong khoảnh khắc sinh tử
Sức mạnh ta vô cùng

Nếu có ai muốn biết
Làm sao vượt thảm bại
Hãy kiên cường đáp lại
Tai ương không đánh bại
Đè bẹp được chúng ta

Không quay về chốn cũ
Ta đi về tương lai
Một xứ sở bầm dập
Nhưng nguyên vẹn hình hài

Một đất nước oai hùng
Nhưng tràn đầy đức hạnh
Một dân tộc tự do
Cầm trong tay sức mạnh

Ta không quay đầu lại
Không ngập ngừng đắn đo
Không để ai đe dọa
Ta quay đầu trở lui

Mỗi hành động của ta
Phải vô cùng thận trọng
Những lầm lẫn của ta
Thế hệ sau mang vác

Ta kết hợp tình thương
nhân từ và sức mạnh
tình yêu thành di sản
cho con cháu chúng ta

Để lại một quốc gia
đẹp hơn nơi ta qua
nơi mỗi hơi ta thở
cho con cháu chúng ta

Từ bộ ngực bằng đồng
Bàn tay ta cùng vỗ
nâng thế giới bi thương
thành thế giới tình thương

Từ viễn Tây núi vàng
Từ Đông Bắc lộng gió
Nơi cha ông ta đã
Làm cách mạng khơi nguồn

Từ Trung Tây đại hồ
Từ miền Nam nắng lửa
Ta gọi nhau trỗi dậy
Ta xây lại hoang tàn

Ta đi vào ngõ ngách
Góc khuất của quê hương
Sẽ tìm thấy nhiều người
Mang rất nhiều vết thương
Những vết thương rất đẹp

Khi ngày mới sẽ tới
bước ra khỏi bóng tối
hân hoan không sợ hãi
hực lửa không khiếp sợ

Bình minh được nở rộ
Khi ta giải phóng nó
Vì chính ánh sáng đó
Hắt ra từ bình minh

Chỉ cần ta can đảm
nhìn cho rõ Bình Minh
Và ta đủ can đảm
trở thành một Bình Minh.

tmt
1/21/2021


Trần Thị Diệu Tâm: Cây Platane

Hình minh hoạ, Chip Somodevilla/Getty Images

Tối hôm qua, từ căn phòng của ông Mạnh nghe có tiếng còi xe hú lên từng chập, ánh sáng chớp nhoáng chiếu vào cửa kính, như có một tai nạn xe cộ mới xảy ra. Sáng hôm nay, ông Mạnh nhìn qua của sổ thấy phía bên kia con đường lớn, cây platane đã bật gốc nằm sóng soài bên lề đường .Xe cộ qua lại đều bị chận, quay lui chạy về phía khác, chiếc xe cấp cứu màu đỏ nhấp nháy đèn báo hiệu cùng phát ra tiếng còi hụ lên từng hồi, đang đỗ gần đấy.

"Cây lớn như vậy mà đã bị tróc gốc, ngã ra đường". Ông Mạnh nghĩ thầm.

Cây platane thực sự đã chết rồi, chỏng chơ cả gốc rễ, đất đai tung tóe. Khi ông dọn đến ở đây, ông thấy nó sừng sững, thân cây cao lớn, tàn lá sum suê cho nhiều bóng mát. Người đi bộ thường đứng dưới bóng cây để chờ qua đường. Mỗi sáng thức dậy, ông kéo màn của sổ, ngó ra bên kia đường, nhìn cây. Những chòm cao đầy lá xanh đong đưa trong gió sớm, như những bàn tay dịu dàng vẫy gọi nắng ban mai, hẹn hò với đàn chim về với nhau ríu rít hoan ca. Từ tháng này qua năm nọ, mùa xuân mơn mởn chồi nẩy tược, mùa hạ nồng nàn tươi xanh, rồi mùa thu rơi đầy lệ úa vàng, và mùa đông ép mình ngủ giấc cô liêu. Nhìn cây, ông biết thời tiết bốn mùa đổi thay. Không hiểu tại sao, mà bỗng dưng đổ gục xuống mặt đường. Ông kéo kín tấm màn cửa che đi không muốn nhìn nữa. 

Võ Phiến: Bom Nguyên Tử

— Hãy nói chuyện về bom nguyên tử một chút, nên chăng?

— Không nên. Giá nói chuyện ấy hồi 1945 thì hợp thời. Bây giờ chậm mất 45 năm. Đem ra lải nhải lỡ lọt vào tai kẻ nóng tiết, không khỏi bị kêu ầm lên: “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi.” Thử hỏi thời buổi này còn bụng dạ nào tán dóc về món “thời trang” áo Lemur nữa, phải không? 

Vả lại bom nguyên tử coi bộ tận số tới nơi, còn ngôn gì nữa? Vấn đề loại bỏ vũ khí chiến lược (START) đã được thoả thuận, việc loại bỏ luôn vũ khí nguyên tử ngắn tầm (SNF) cũng sắp đem ra thương nghị vào cuối năm nay. Siêu cường thỏa thuận xong là bom nguyên thử bị lôi từ kho ra hủy dần. Tuyên án, rồi xách cổ ra hành hình. Bom nguyên tử — cái khủng khiếp của một thời — đang lâm cảnh nhục nhã. Còn gì mà nói?

— Xin xét lại. Chúng ta là những kẻ yêu tự do. Vì tự do mà bỏ nước bỏ nhà. Bom nguyên tử nó... ra đi, chúng ta lại không có lời vĩnh biệt. Nỡ lòng nào?

— Yêu cầu cố gắng gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Cái gì mà tự do xen cả vào bom nguyên tử? Tối nghĩa quá.

— Thế sự sụp đổ ầm ĩ của các chế độ độc tài dữ dằn nhất mà chúng ta đang chứng kiến do đâu có? Thế sự kiện bùng phát dân chủ tự do đang làm rạng rỡ cả tâm hồn nhân loại do đâu có? Do đâu, nếu không do vũ khí nguyên tử? 

— Ta dân chủ ta tự do, ta thuận lòng dân thì phải tồn tại vững bền. Chúng độc tài chúng khát máu, tất bị dân chúng lật đổ. Ta làm ăn đúng kiểu đúng đường, nên giàu sang phởn phơ. Chúng xài thứ học thuyết kinh tế sai bét nên thất bại đói rách, suy sụm. Vũ khí nguyên tử có vai trò gì trong đó?