Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

Ngô Nhân Dụng: Phá Thai - Joe Biden phải chọn một phía!

Từ khi nhậm chức tổng thống, ông Joe Biden chưa bao giờ nói đến chữ “phá thai” (abortion). Ông im lặng cho tới khi cả nước Mỹ sôi nổi tranh luận phá thai, sau khi bản ý kiến của Thẩm phán Tối cao Samuel Alito bị tiết lộ.

Dư luận ồn ào vì án lệ Roe v. Wade xác nhận quyền phá thai có thể bị xóa bỏ. Nhưng các lời tuyên bố của ông Biden còn rất ôn hòa, không như các lãnh tụ Dân chủ khác. Phó Tổng thống Kamala Harris chẳng hạn, bà lên án những ý kiến của Thẩm phán Alito là “tấn công trực diện trên quyền tự do.” Nghị sĩ Chuck Schumer, (Dân Chủ-N.Y.), tố cáo các vị Thẩm phán bảo thủ đã nói dối Thượng viện, khi trình bày ý kiến ôn hòa của họ về quyền phá thai rồi được Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm.

Chính trị gia cả hai đảng bàn tán về thái độ dè dặt của ông Biden, cho tới nay. Những người vẫn tranh đấu cho quyền phá thai rất bất bình. Renee Bracey Sherman, người sáng lập tổ chức “We Testify” cay đắng nói rằng ông tổng thống đã “đào ngũ.” Trong hơn một năm qua We Testify đã thỉnh cầu ông đọc một diễn văn về chuyện phá thai mà chưa được. Đảng Cộng Hòa thì bắt ngay lấy một câu của ông Biden, ngày Thứ Ba tuần trước. Khi nói đến hành động phá thai ông Biden dùng chữ “một đứa bé” (a child) – thay vì dùng chữ “một bào thai” (a fetus). Đó là cách diễn tả quen thuộc của những người tranh đấu chống phá thai, ví phá thai như giết người.

Thái độ dè dặt của ông Joe Biden có thể giải thích bằng tôn giáo: Ông đi lễ nhà thờ thường xuyên nhưng từng bị cánh bảo thủ trong đạo chỉ trích, vì lập trường đảng Dân chủ quyết bảo vệ quyền phá thai. Đã có lời yêu cầu Hội đồng Giám mục Mỹ không cho ông được nhận “mình thánh” cũng như các nhà chính trị ủng hộ phá thai khác, nhưng Tòa Thánh không chấp thuận yêu cầu này.

Vì thế, ông Biden vẫn đứng hai chân hai bên. Ông chọn thế tiến thoái lưỡng nan từ năm 1973 khi Tối cao Pháp viện tuyên án vụ Roe v. Wade. Năm đó, ông Biden đã nhận xét rằng phán quyết của Tòa Tối Cao coi phá thai là một quyền hiến định đã “đi quá xa.” Ông nói với một nhà báo rằng, trong vấn đề phá thai, lập trường của ông cũng “cấp tiến như bà nội ở nhà anh vậy.”


Đỗ Ngà: Tham nhũng quốc phòng, mối nguy cho an ninh quốc gia

Nga bán tăng T-90S cho Việt Nam với giá lên đến 6,25 triệu USD/chiếc, cao nhất trong các đối tác mà Nga bán vũ khí. Được biết, cũng loại T-90S, Nga bán cho Iraq chỉ với giá 5,4 triệu USD/chiếc. Giá bán cho Việt Nam cao hơn 16% so với bán cho Iraq. Cùng bỏ ra 400 triệu đô la nhưng Iraq mua được 73 chiếc còn Việt Nam thì chỉ mua được 64 chiếc. Nghĩa là hợp đồng 400 triệu USD, quan chức CS Việt Nam nuốt nhiều hơn quan chức chính quyền Iraq là 9 chiếc tăng.

Nếu lấy giá mua tăng của Việt Nam so với giá mua của Ai Cập và Algeria thì chênh lệch càng kinh khủng hơn. Giá của 2 quốc gia châu Phi này mua chỉ 5 triệu USD/chiếc. Như vậy, giá mà Bộ Quốc phòng CS Việt Nam mua cao hơn giá của 2 quốc gia châu Phi này, lên đến 25%. Nguyên nhân là do đâu?

Có phải Nga cố tình bán mắc cho Việt Nam hay không? Không hề! Giá chào bán trên thị trường quốc tế là như nhau, tuy nhiên giá mua lại cao thấp khác nhau là do bên mua yêu cầu. Có thể đoán định là giá mỗi chiếc T-90S tầm dưới 5 triệu USD/chiếc nhưng Bộ Quốc Phòng Việt Nam muốn mua với giá 6,25 triệu USD/chiếc. Nghe có vẻ rất phi lý? Tại sao bên mua lại không muốn mua giá rẻ mà lại muốn trả với giá cao hơn? Thực ra điều này không phải phi lý nếu hiểu đúng bản chất của đảng Cộng sản Việt Nam.

Để hiểu vấn đề thì tôi xin khơi lại chuyện cũ, chuyện Hoa Kỳ từ chối bán vũ khí sát thương cho Bộ Quốc phòng Việt Nam mặc dù trước đó Tổng thống Obama đã xóa bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Sự việc là thế này:

Vào tháng 7/2017, hãng tin tình báo quốc phòng của Anh- Shephard Media tiết lộ rằng, các quan chức chính phủ Việt Nam yêu cầu các đối tác của Mỹ trả 25% hoa hồng cho các thương vụ mua bán vũ khí. Nghĩa là bên Mỹ phải nâng giá bán rồi sau đó thối tiền lại cho quan chức Việt Nam. Ví dụ lô vũ khí ấy trị giá 750 triệu USD nhưng phía Việt Nam yêu cầu phía Mỹ ghi vào hợp đồng là 1 tỷ USD, rồi sau đó chuyển lại cho quan chức CS Việt Nam 250 triệu USD để họ đút túi riêng. Tuy nhiên, phía Mỹ đã từ chối vì họ không muốn tiếp tay cho tham nhũng.

Với Mỹ thì họ không chấp nhận thói làm ăn gian lận của phía Việt Nam mặc dù phía Mỹ không thiệt thòi gì. Tuy nhiên phía Nga thì khác, Nga sẵn sàng ghi vào hợp đồng bất cứ giá nào, miễn sao Nga bán được hàng. Vì thế nên mới có chuyện giá T-90S của Việt Nam cao hơn giá mà các quốc gia khác mua. Các quốc gia như Iraq, Ai Cập, Algeria cũng là các quốc gia tham nhũng, tuy nhiên họ không ăn dày như quan chức Cộng sản Việt Nam, nên giá mua (trên hợp đồng) của họ thấp hơn.


Nguyễn Ngọc Chu: Sao Tổng thống lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng?

 1. Sao Tổng thống lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng?

Tổng thống Nga Putin hôm 5/5/2022 đã phải xin lỗi Thủ tướng Israel Naftali Bennett vì phát biểu của Ngoại trưởng Lavrov nói rằng “Hitler có gốc Do Thái”(https://zingnews.vn/israel-tong-thong-putin-xin-loi-vi...).

Một người thường xuyên “phô trương sức mạnh” như ông Putin, lại đứng đầu cường quốc quân sự thứ 2 thế giới là Nga, mà phải “hạ mình” xin lỗi Thủ tướng một nước nhỏ như Israel - đã nói lên rất nhiều về tình thế của Nga và vị thế của Israel. Nếu Nga ở thế “thượng phong” trong cuộc chiến Nga - Ukraine thì ông Putin đã không “hạ mình” xin lỗi, cho dù Israel là một quốc gia mạnh, vì ông Putin đã coi thường cả NATO lẫn Châu Âu khi ngang ngược tiến đánh Ukraine. Ở mặt khác, nếu Israel là quốc gia “không có trọng lượng” thì dù ở tình thế nào, ông Putin cũng không cất lời xin lỗi. Trên tất cả, nếu Ngoại trưởng Lavrov có sai thì Ngoại trưởng Lavrov xin lỗi là đủ, sao Tổng thống Nga lại phải xin lỗi thay cho Ngoại trưởng Nga?

Tất cả đã nói lên rằng, tình thế của ông Putin rất khó khăn, và Israel là một quốc gia “có trọng lượng lớn”, cho dù diện tích Israel (22 145 km2) rất bé, còn nhỏ hơn tỉnh Gia Lai-Kon Tum (25 000 km2) của Việt Nam trước đây, và dân số Israel rất ít (9,61 triệu người), còn ít hơn dân số TP HCM (11 triệu người).

Việc Ngoại trưởng Nga Lavrov cố tình khoác chiếc áo “tân phát xít” cho ông Zelensky”, không chỉ thất bại, mà còn làm cho Nga có thêm kẻ thù mạnh, đẩy Nga vào tình thế đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Đó là lý do tại sao Tổng thống Putin phải "hạ mình" xin lỗi Thủ tướng Bennett để giải cứu tình thế.

 

2. Không chỉ chiếm đất mà “ở lại vĩnh viễn”

Khác với Ngoại trưởng Lavrov đeo bám lý do “tân phát xít” đến mức mù quáng gán cho Hitler có nguồn gốc Do thái, thì các tướng lĩnh Nga tuyên bố rõ ràng mục tiêu giai đoạn 2 là chiếm toàn bộ miền Đông và miền Nam Ukraine. Còn rõ ràng hơn cả các tướng lĩnh Nga chỉ nói về chiếm đóng, các quan chức Kremlin tuyên bố sẽ “vĩnh viễn” ở lại miền Nam Ukraine.

Ngày 05/5/2022, khi đến thăm Kherson, thành phố gần 30 vạn dân của Ukraine đang bị quân Nga mới chiếm được, nghị sĩ Nga Andrey Turchak đã thẳng thừng tuyên bố:


Vương Trí Nhàn: Sự nghèo nàn của văn hóa Sách ở ta

Viết về tình trạng của những con đường bảo đảm giao thông đi lại ở nước VN cổ, một nhà nghiên cứu nước ngoài đã dùng đến hai chữ ấu trùng.

       

Tôi nghĩ rằng cũng có thể dùng hai chữ ấy để mô tả tình trạng của sách vở ở ta từ xưa tới nay 

       

Gần như dân ta chưa biết làm sách, lại càng không tạo ra được một không gian có ý nghĩa tinh thần cho sách tồn tại và phát triển.   

       

Sự nghèo nàn của văn hóa sách Việt Nam là một căn bệnh kéo dài kinh niên trong lịch sử.

 

1. Văn hóa Việt Nam thường được miêu tả qua các phương diện như tín ngưỡng tôn giáo lễ tiết, thi cử, các ngành nghệ thuật, rồi phong tục tập quán, các nghề thủ công, nhà ở, đồ ăn thức uống.

     
Giở những cuốn lịch sử văn hóa quen thuộc từ Việt Nam văn hoá sử cương (1938) của Đào Duy Anh, qua Văn minh Việt Nam (1943) của Nguyễn Văn Huyên, Hiểu biết về Việt Nam(1954) của P.Huard và M.Durand, không đâu người ta thấy nói tới nghề làm sách và vai trò của sách trong xã hội.

  

Bắt đầu từ quan niệm :  Đọc lướt qua các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, thấy những chữ lên ngôi, thiết triều, hạ chiếu, chinh phạt, khởi loạn, rồi ban thưởng, xướng họa,… đầy rẫy và lặp đi lặp lại dày đặc bao nhiêu thì chữ sách, đọc sách, soạn sách, dịch sách hiếm hoi bấy nhiêu. Chưa một triều đại nào trong quá khứ có thời giờ nghĩ nhiều đến sách và coi sách là việc lớn của vương triều mình.


Trần Doãn Nho: Hè 1972 - nỗi Huế, làm sao nguôi!

Gửi Cai, Lễ, Hải, Sinh, Đắc, Thôi, Đủ, Phương, Thất, Hòa, Huế, Vệ, Chớ…

Tuần lễ đầu tháng 5/2022 vừa qua, nhân kỷ niệm 50 năm “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tạp chí mạng Da Màu, cho đăng lại một bài ký sự của nhà văn Trùng Dương, “Đi nhặt xác đồng bào Quảng Trị trên đại lộ kinh hoàng. Trong “Lời Giới Thiệu”, bà viết: “Trong thời gian này, vào đầu tháng Năm, 1972, khoảng gần 2,000 đồng bào đã bị thiệt mạng trên đường chạy khỏi Quảng Trị khi quân Cộng sản tấn công. Họ chết phần lớn vì pháo kích của Cộng quân rót xuống từ rặng Trường Sơn, xác nằm rải rác trên một quãng đường dài 5.274 mét trên Quốc lộ 1, từ cầu Bến Đá tới cầu Trường Phước thuộc Quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Vì giao tranh còn tiếp diễn, xác các nạn nhân này đành chịu cảnh phơi bầy cùng nắng mưa gió và cả những trận mưa pháo trong nhiều tháng trời. Đúng ra con số nạn nhân chiến cuộc chắc nhiều hơn, nhưng nêu ra con số trên là dựa vào tổng số xác đã nhặt được, đích xác là 1,841 thi hài thường dân, do anh Nguyễn Kinh Châu, người điều khiển chương trình “hốt xác”, và các thân hữu Huế đã bốc được trong suốt “bẩy tháng giữa những xác người” vào mùa hè năm 1972.” [1]


Ký sự này đẩy tôi trở lại với những tháng ngày Huế 1972, rất xa xăm mà vô cùng gần gũi. Như mới đâu đây!

*

Năm 1968, Huế tơi bời khói lửa Mậu Thân:

thành quách nín
đất đá nghẹn
cỏ cây câm
hố hầm co quắp ngột
âm bản cuộc liêu trai [2]

Huế chết đứng, chết ngồi trong hoang tàn, đổ nát!

Jill Biden: Những bà mẹ Ukraine đã dạy tôi điều gì về cuộc chiến này (Nhã Duy chuyển dịch)

Bạn không thể đến một vùng chiến sự và rời đi mà mình chẳng bị thay đổi gì. Bạn không cần phải dùng mắt để thấy được nỗi buồn vì bạn có thể cảm nhận được nó bằng con tim.

Chuyện đau buồn thì cứ lộ trên mặt người. Tựa như một đám mây mờ đã phủ xuống. Những giọt nước mắt của những bà mẹ cứ thường trực trên khóe mắt, như thể họ khó cầm được nỗi buồn. Họ nắm tay con hoặc vuốt tóc con mình như thể họ không thể kham nổi sự chia lìa thể lý. Họ mang những bộ mặt cương nghị nhưng cảm xúc của họ hiện rõ trên đôi vai trĩu nặng cùng nỗi bất an gánh trong mình.

Thiếu vắng một điều gì đó. Tiếng cười, ngôn ngữ chung của phụ nữ.

Các bà mẹ Ukraine tại các trường học Romania và Slovakia mà tôi đến thăm đã kể cho tôi nghe về nỗi kinh hoàng trong cuộc di tản về phía Tây trong những quả bom rơi từng mỗi đêm. Nhiều người đã phải trải qua những ngày không có thức ăn và ánh sáng mặt trời khi phải trốn dưới hầm trú bom.

Một người mẹ trẻ mà tôi gặp ở Uzhhorod, Ukraine đã kể với tôi rằng khi cô và gia đình của cô đánh liều ra ngoài tìm thức ăn thì những lính Nga sẽ bắn vào hàng người đang chờ một mẩu bánh mì. Những bà mẹ Ukraine này rất biết ơn người dân Romania và Slovakia đã giúp đỡ họ. Còn một người mẹ khác là Anna đã nói với tôi rằng, "không có ranh giới nào giữa những con tim chúng ta".

Những người lính biên phòng đã kể cho tôi nghe những câu chuyện về hàng ngàn người mang theo chút ít hành lý băng vào Slovakia. Một biển người tuyệt vọng, những người mà cuộc sống của họ đã vĩnh viễn bị đổi thay vào ngày 24 tháng Hai, cái ngày mà Nga đi xa hơn trong một cuộc chiến xâm lược phi nghĩa đã bắt đầu từ nhiều năm trước.

Trong cái lạnh của tháng Hai, nhiều người đến bằng chân không, vượt bộ nhiều dặm đường. Họ chạy trốn trong cơn sợ hãi, mang theo khát khao có thể được trở về nhà. Một cậu bé 11 tuổi đã tự mình đến với số điện thoại liên lạc gia đình được ghi vào tay. Rồi có cả những chú chó, mèo cũng chạy giặc cùng với chủ. Những người lính bảo tôi, “Chúng tôi chưa chuẩn bị cho những điều như vậy”.

Phạm Thị Hoài: Gốc

Mỗi lần nghe nhắc, mất gốc là nghệ sĩ mất nguồn sáng tạo, tôi lại có cảm giác không yên ổn. Như thể mình đang là một công dân đứng đắn của quốc gia nghệ thuật mà thỉnh thoảng đội bảo vệ cứ gõ cửa, hỏi mình có cần họ giúp gì không. Cũng gần giống cảm giác như khi bị nhắc, rằng nghệ thuật muốn thế nào cũng phải phát sinh từ hiện thực. Tôi vô cùng biết ơn gốc rễ, hiện thực, mọi quê hương và căn cứ địa khác của nghệ thuật, cũng như biết ơn đội bảo vệ sốt sắng, song trong thâm tâm thì mong các quý vị đó đừng ở chơi quá ba ngày. Phần đông các nghệ sĩ không sáng tạo gì hết. Một số ít sáng tạo trong một giai đoạn ngắn. Một số vô cùng ít sáng tạo tương đối lâu dài. May ra đếm trên đầu ngón tay được những nghệ sĩ suốt đời sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Như vậy tìm ra nguồn cơn của sáng tạo thì khó và điều đó mãi mãi là bí ẩn, chứ một lần nữa cho sự không sáng tạo thêm một nguyên cớ nào có ích gì. Nhà văn Việt ở bên ngoài có thể cho rằng mình không viết nổi, vì thiếu nước Việt chẳng hạn. Nhà văn Việt ở bên trong, nếu viết cũng không nổi, có lẽ vì quá thừa nước Việt chăng?

Tôi vốn tin rằng theo bất kỳ một nghĩa nào người ta cũng không thể mất gốc. Nếu không có, chưa bao giờ có một gốc rễ nào đó, thì mất nó khác nào mất con cá ở ngoài lưới, một con cá thật to. Những thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại, tuy được mệnh danh là người Mỹ, người Pháp, người Đức… gốc Việt, nhưng chữ gốc này cùng lắm chỉ tiết lộ những đặc trưng chủng tộc nào đó chứ không phải đặc trưng văn hoá. Những thế hệ ấy bắt rễ trong văn hoá của các quốc gia mà họ sinh trưởng, họ không thể đánh mất văn hoá Việt, là thứ họ không thực sự sở hữu. Cái gốc thứ hai này mới đáng kể. Thậm chí cái gốc thứ nhất, vận vào họ, tôi cho là đã khiên cưỡng. Chẳng những bản năng thứ hai mà bản năng tự nhiên ở những thế hệ ấy cũng đã thay đổi. Da họ phản ứng với ánh nắng và độ ẩm nhiệt đới khác da người Việt, răng họ mắc hay không mắc những bệnh khác răng người Việt. Họ không rung đùi. Không lê dép loẹt quẹt. Không nhai chóp chép. Không ngồi xổm. Không xỉa răng tung tóe và kháo chuyện ầm ĩ nơi công cộng. Không chen lấn. Không sợ công an. Không mang những cái gene thuần Việt như vậy. Chúng ta thường cảm động trước những cố gắng tìm hiểu về Việt Nam của họ và gọi đó, một cách đầy thiện cảm và cũng đầy mơ hồ, là những cố gắng “tìm về cội nguồn” và lại càng nhiệt tình khích lệ họ viết tiếng Việt. Trong phần lớn các trường hợp ăn giải khuyến khích như vậy, phẩm chất văn chương – mà biểu hiện hiển nhiên nhất là ở chất lượng ngôn ngữ – xếp hàng cuối cùng. Tôi không muốn làm kẻ phá đám khuyến Việt, song thương tiếng Việt như thế cũng khổ cho tiếng Việt lắm.

Đoan Trang/Người Việt: Little Saigon - Ra mắt sách minh oan cho cụ Phan Thanh Giản vào 15 Tháng Năm

LITTLE SAIGON, California (NV) – “Lý do tôi viết cuốn sách ‘Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân’ là vì nhận thấy sự bất công cho cụ Phan Thanh Giản.”

Tác giả, Luật Sư Winston Phan Đào Nguyên, nói với nhật báo Người Việt khi chuẩn bị ra mắt cuốn sách này vào 2 giờ chiều, ngày 15 Tháng Năm, tại Viện Việt Học, 15355 Brookhurst St., Suite 222, Westminster, CA 92683.

Bìa cuốn sách cuốn sách “Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân'” (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Cùng họ với cụ Phan Thanh Giản, nhưng Luật Sư Đào Nguyên khẳng định: “Tôi không phải là ‘hậu duệ,’ cũng không có liên hệ bà con gì với cụ. Thêm lý do tôi viết cuốn sách này, là vì sau cuộc hội thảo về Petrus Ký, Giáo Sư Nguyễn Trung Quân, cựu học sinh, và cũng là cựu hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ, cùng ông Phạm Phú Minh (tức nhà văn Phạm Xuân Đài) ‘gửi gấm’ tôi nghiên cứu về cụ Phan. Quá trình nghiên cứu tôi mới thấy có một sự dàn xếp, bịa đặt của các sử gia miền Bắc Việt Nam, để cố tình hạ nhục cụ Phan Thanh Giản.”

Cuốn sách “Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân’” được tác giả viết trong vòng một năm, khoảng thời gian đại dịch COVID-19. Ông cho biết lúc dịch bệnh, do “không được đi chơi đâu” nên ông dành thời gian cho việc viết sách, ngoài công việc thường nhật không thể bỏ.

Cuốn sách có nhiều các tài liệu bằng tiếng Pháp, tiếng Hán.

Võ Phiến: Quanh Mình

Nàng giặt mấy món đồ. Hai con vịt xiêm loanh quanh bên cạnh, tìm bắt những con bọ màu đen, nhỏ bằng hạt cải, sinh sôi rất nhiều ở những chỗ đất ướt.

Hai con vịt nhỏ bằng hai cái hột xoài, mình cũng dẹp như hột xoài. Chúng lại ưa nằm bẹp xuống đất, vừa nằm vừa ăn: từ xa chạy tới nơi, rồi nằm xuống, mổ lia mổ lịa. Trông chúng lăng xăng, láu táu.

Sống lưng và chóp đầu màu đen, còn lại là vàng. Ở khoảng đen trên sống lưng có bốn chấm vàng, tròn. Hai bên đuôi mắt lại có hai vệt đen kéo dài ra đến tận sau cổ: hai vệt ấy như hai nét vẽ nghịch ngợm làm cho con vịt trông buồn cười, lố bịch.

Lộc được một người đàn bà trong xóm cho hai con vịt từ năm hôm trước. Bà ta mua sáu con, đem về nuôi, một đêm chuột cắn chết ba con, đêm sau lại cắn thêm con nữa. Nàng đến chơi nhà bà ta sáng hôm ấy, đúng lúc bà tìm thấy xác con vịt thứ tư. Người đàn bà nóng tính xách chân con vịt chết giơ lên cao la lối om sòm, rồi tức mình cho nàng luôn hai con vịt còn lại.

Lộc chưa bao giờ nuôi vịt xiêm, không biết tính chúng, nên ngạc nhiên thấy chúng mau quyến luyến mình quá sức: nàng giặt đồ, chúng theo ra giếng, nhưng lát sau nàng vào nhà, chúng sẽ bỏ ăn lúc thúc chạy vào, quanh quẩn và phóng uế đầy bếp. Mới nuôi có mấy hôm, chúng đã mến nàng, không chịu rời.

Người con gái lấy tay lật một mảnh gạch bể: đám bọ rúc dưới gạch hoảng hốt nhảy lung tung, vịt mừng rỡ đuổi bắt. Nàng trông theo vịt, và khi lũ bọ đã tẩu tán hết, nàng ngước mắt lên thì bắt gặp ngay Tín đang rình mình.

Tín đứng ngoài rào nhìn vào. Không biết chàng đã đứng đó từ lúc nào. Bị bắt gặp, Tín cười xòa, cười thật lớn. Người con gái đã bối rối, may nhờ tiếng cười ấy nên lấy lại được bình tĩnh.

Tín bảo “nhân đi ngang qua... tình cờ trông thấy...sẵn dịp v.v...” Chàng giải thích đại khái, qua quít. Rồi chàng ném qua rào cho nàng một quả cam lớn. Lộc đón bắt, quả cam đã rơi đúng vào tay, nhưng vì nàng không giữ kịp nó lại lăn xuống chậu nước. Tín cười lớn lần nữa, rồi vẫy chào, đi luôn.

Vợ Tín đẹp lắm, Lộc không dám tự so sánh. Thiếu phụ ấy vừa đẹp vừa sang trọng, lại khôn ngoan và có trình độ học vấn cao hơn Lộc nhiều. Vả lại trong gia đình đó, người chính là bạn của nàng là chị ấy chứ không phải là anh Tín.

Hồi nàng còn ở Plei-Piom, có một độ Tín thường lui tới địa điểm dinh điền để theo dõi việc khoan mấy cái giếng nước. Tín là kỹ sư học ở Mỹ vừa về được vài năm, dáng dấp nhanh nhẹn, trẻ trung; người ta có cảm tưởng chàng chưa vợ con gì. Một hôm, chàng trông thấy Lộc ở văn phòng địa điểm trưởng, vô ý để lộ một vẻ ngạc nhiên sững sờ. Người con gái đỏ mặt. Tín vội vàng nói chữa thẹn:

– Các cô tài thật. Ðến đây mà vẫn giữ đầu tóc uốn: mỗi bận làm tóc phải đi hàng trăm cây số. Khiếp.

Người chung quanh cùng cười với chàng. Và sự việc không hề đi xa hơn những câu chuyện trao đổi lớt phớt. Sáu tháng sau, khi gặp người vợ xinh đẹp của Tín, người con gái chợt đau nhói trong lòng, nhưng nàng tự dưng muốn làm quen cho kỳ được. Vợ Tín là một người vui vẻ, không bao lâu hai bên chị chị em em với nhau thân mật. Mối quan hệ giao du với gia đình người kỹ sư ấy thật lành mạnh. Vả lại họ không có dịp ở gần nhau lâu: trong những năm qua hai bên đã nhiều lần thuyên chuyển, mỗi bên mỗi nơi.

Nhưng cách đây bốn tháng, khi Lộc đến Bảo Lộc thì gặp gia đình Tín đã ở đấy từ ba tháng trước. Vợ Tín mở một quán cà-phê, nhạc hay, trang hoàng khéo, thu hút được giới trẻ đông đảo. Chị đề nghị với Lộc:

– Em rảnh không? Tối tối em đến giúp chị một lát đi. Ðược không?

Nàng chưa kịp trả lời, chị đã mau mắn phân trần:

– Cả ngày chị ngồi hoài ê ẩm cả người, mà không giao được công việc cho ai. Ờ, ngồi két ấy mà. Em làm việc ở sở ban ngày, chứ ban đêm... Quán chị không mở cửa khuya đâu.

Sự thực chị Tín đâu có cần thuyết phục? “Giúp” chị, Lộc quá sẵn sàng. Nàng mơ hồ lo lắng về cái tâm lý sẵn sàng của mình: chính vì vậy mà nàng chùng chình, ngại ngùng, không dám mở miệng nhận lời ngay.

Tới lui nhà Tín để làm gì? Nàng cần gì, mong đợi gì ở Tín? Nàng không biết, không có ý định nào rõ rệt cả. Tuy nhiên, một cảm tình mơ hồ, khuây khỏa, nhạt nhòa, từ nhiều năm tháng, vẫn hướng nàng về phía gia đình ấy. Làm sao nàng không nhận lời đến “giúp” chị Tín được?

Quán cà-phê ấy, ban ngày với “bà kỹ sư” ngồi két, ban đêm với Lộc, càng thu hút nhiều khách, mà một thiếu phụ một thiếu nữ, cả hai đều kín đáo đoan trang. Chính cái vẻ hững hờ, thản nhiên của họ làm họ càng xa cách và càng có sức hấp dẫn.

Ðêm đêm đến quán cà-phê của Tín, thực ra Lộc không có mấy dịp gặp chàng. Nàng gặp chàng ở sở này sở nọ hay ngoài phố nhiều hơn. Tuy vậy, cái việc ngồi két ở quán của chàng khiến Lộc có cảm tưởng gần với chàng hơn. “Gần” một cách hết sức mơ hồ.

Vào tuần lễ cuối cùng trước nghỉ Tết năm vừa qua, một buổi chiều, sau giờ làm việc, Tín đến sở của nàng trong lúc nàng sắp mãn phiên trực. Sở không còn ai, nàng thờ thẫn ra sân rồi đi lần ra đứng bên cánh cổng sắt, chờ người nhân viên trực đêm đến thay thế.

Ðúng vào lúc ấy, Tín đến. Chàng hỏi:

– Giờ này cô còn ở sở?

– Em trực, sắp về.

– Ông cụ có trong ấy chứ?

Nàng lắc đầu:

– Ðâu có. Ông ấy về từ bốn giờ rưỡi.

“Ông cụ” là trưởng ty của nàng. Tín tới tìm ông ta tại nhà, không gặp, tưởng ông ta còn bận việc ở sở. Sau câu trả lời của Lộc, hai người không thấy có gì để nói về vấn đề “ông cụ” nữa. Và cái phút lặng yên, kẻ phía trong người phía ngoài cánh cổng một tòa nhà vắng vẻ làm cho họ bất ngờ lúng túng.

Hồi sau Tín hỏi:

– Ngày mốt cô về Sài Gòn?

– Có lẽ em ở lại thêm một hôm nữa.

– Mùng mấy lại lên?

– Có lẽ đến mồng mười.

– “Có lẽ” hoài. Không cái gì nhất định hết.

Giọng hai người bất giác thấp xuống. Tiếng cười cùng hạ thấp. Lộc đang nắm mấy cái kẹo trong tay, đưa ra mời. Nàng lặng lẽ mở bàn tay, không nói gì. Tín đưa tay nhón lấy một cái. Hình như chàng toan làm một cử chỉ gì hay nói một câu gì đó thì có tiếng dép ở xa xa.

Không cần quay lại, Lộc đã biết đó là vợ người lao công. Nàng rút tay về, xô rộng cánh cổng, nói lớn:

– Mời anh vào. Chờ một tí, không chừng ông cụ lại đến.

– Thôi khỏi cô. Tôi sẽ lại đằng nhà đúng vào giờ ăn tối, thế nào cũng bắt được.

Sáng hôm sau thật sớm, Lộc đang giặt giũ ở giếng nhà trọ thì Tín “nhân đi ngang qua” gọi chào nàng, và ném vào cho nàng một trái quít, bảo vừa hái ở đồn điền ông Tâm về. Rồi một hôm khác nữa...

Những chuyện như thế, tự nó cũng chưa có hẳn một ý nghĩa gì, một hứa hẹn gì rõ rệt. Nhưng thỉnh thoảng Lộc chợt nghĩ đến, nhớ lại một vài chi tiết, và nàng nhận thấy nó có một sức “ngấm” đáng sợ. Nó ngấm dần, ngấm dần.

Cuối cùng Lộc nghĩ: nên về ở hẳn với mẹ nàng, ở Thủ Ðức. Mẹ nàng nhắn đã nhiều lần. Lương bổng chẳng bao nhiêu, trước đây đã có lúc nàng muốn xin nghỉ việc về ở với mẹ. Lần này thì không nên dần dà nữa. Về đi thì hơn.





Một mặt nàng đã chán cuộc sống lênh đênh, lẻ loi, đầy bất trắc. Mặt khác nàng về với mẹ, việc ấy có nghĩa như một sự tha thứ, sẽ đem lại cảm tưởng yên ổn để mẹ nàng vui sống trong tuổi già.

Tha thứ tội lỗi gì? Lộc cũng không rõ lắm. Cái biến cố kinh khủng ấy trong quá khứ của mẹ nàng, nàng chưa gặp một người nào chịu trình bày đầy đủ cặn kẽ cho nàng biết. Những người thân thì vì cảm tình đối với mẹ nàng mà không nỡ nói đến chuyện ấy, nhất là nói với đứa con gái của bà. Nhưng cũng có lẽ là thực ra chẳng mấy ai hiểu biết tường tận câu chuyện xảy ra làm sao.

Mẹ nàng mà lấy một lượt hai người chồng? Không tưởng tượng được. Bà đâu phải con người lẳng lơ. Từ ngày khôn lớn tới giờ Lộc càng ngày càng ngạc nhiên về mẹ mình. Nàng đâu có ngây ngô gì? Nàng biết phán đoán chứ, nàng đi đây đi đó nhiều, giao thiệp nhiều hạng người, nàng biết nhận xét chứ: mẹ nàng không những không phải một người đàn bà lẳng lơ, bà lại còn quá bảo thủ, cố chấp. Mẹ nàng cũng kín đáo như nàng, ngoài ra bà lại là con người nề nếp thuộc lớp trước.

Người đàn bà như thế lấy hai chồng cách nào? đã ăn ở, chung sống một lượt với hai người đàn ông nọ ra sao? Trời ơi, mẹ nàng! Không tưởng tượng được.

Mà chính bà mẹ của Lộc, chính bà, bây giờ có lẽ cũng không nhớ, không nghĩ ra thái độ của mình hồi đó. Biến cố nọ như một chuyện dị thường, từ đâu xảy đến, rồi mất đi, không cắt nghĩa nổi. Trong số những người ngạc nhiên có cả chính bà.

Ðại khái những điều Lộc được biết là sau khi cha mẹ nàng sống với nhau êm đềm được ba năm, nàng đã được một tuổi rưỡi, thì trong số bạn bè của cha nàng có một kẻ bỗng tới lui thân mật. Hình như là một người làm thầu khoán gì đó. Người ấy đau một trận thập tử nhất sinh tại nhà gia đình nàng, mẹ nàng săn sóc. Lành bệnh, người đàn ông nhất định không đi đâu nữa: Chết sống chỉ biết có một người đàn bà là mẹ nàng, ông ta nói vậy. Nói thành khẩn, chí tình.

Tất cả gia đình, họ hàng, xóm giềng v.v... đều lấy làm một sự kinh hoàng. Nhưng còn biết làm gì được nữa?

Cuộc sống của bộ ba kéo dài ba năm. Có nhiều sóng gió dữ dội xảy ra trong thời gian ấy, đưa tới hai kết quả: thứ nhất, Lộc được bà nội đem về nuôi, không cho ở chung với mẹ (từ đó nàng sẽ lênh đênh từ nhà nội đến nhà bà cô này bà dì kia cho tới lớn); thứ nhì, cha nàng bỏ nhà đi biệt tích.

Nghe nói ông đi vào dịp mẹ nàng hạ sinh một đứa con trai. Con của ai? Mẹ nàng không trả lời được cái thắc mắc ấy. Cha nàng và cả người đàn ông kia, cả hai không thể không băn khoăn. Rồi lồng lộn lên. Cho nên một người phải ra đi.

Còn người chồng sau của mẹ nàng thì ông ta không thể đi đâu, không thể rời được mẹ nàng. “Sống chết” với mẹ nàng, “ông Trời bắt tôi...”, ông ta phân trần với mọi người như thế. Ðó là một người đam mê liều lĩnh đến bất thường. Mẹ nàng vốn điềm đạm bình tĩnh như vậy mà rồi cũng lao vào cuộc tình này, ấy có lẽ là do sức lôi cuốn khốc hại của người đàn ông nọ. Sức đam mê của ông ta lôi cuốn như cuồng phong, như lốc bão. Mẹ nàng bấy giờ còn trẻ, không đủ sức tự chủ, lại vì tính tình chậm chạp cho nên bà đã bị hút vào trận lốc mà vẫn chưa kịp hiểu tình thế.

Ðứa em trai duy nhất của nàng sinh ra chẳng bao lâu rồi mất. Mà người chồng sau của mẹ nàng cũng chết trong một tai nạn lao động: ông ta bị ngã từ trên trần nhà xuống, đập đầu vào một đống gạch, ngắc ngoải năm tuần lễ, rồi đi luôn.

Sau khi chôn cất người đàn ông ấy, mẹ nàng như tỉnh một giấc mơ. Bà bước ra khỏi một thời kỳ cuồng loạn, và như thể không bao giờ dám ngoảnh mặt ngó lại. Không ai nghe mẹ nàng nhắc một lời nào tới quá khứ. Mẹ nàng dứt khoát: bà không có quá khứ nữa.

Cái việc mẹ nàng trôi giạt vào tận Thủ Ðức, lập nghiệp ở đây, một phần là do sự run rủi của công việc làm ăn, nhưng một phần khác chắc chắn cũng là do ý bà muốn rời xa quê hương, thân thuộc. Trong nhà, Lộc đã để ý tìm kiếm mà không hề thấy một vết tích gì của đời vợ chồng hay tình ái của mẹ nàng xưa kia: không một món đồ nào của đàn ông còn sót lại, không một tấm hình của người nào trong hai người.

Mẹ nàng mất hẳn quá khứ, tưởng như cũng không còn tình cảm nữa. Từ ngày khôn lớn, Lộc tuyệt nhiên không biết đến một mối tình nào của mẹ. Thậm chí nàng cũng không hề có lúc nào bắt gặp ở mẹ nàng một lời nói, một cử chỉ, một ánh mắt biểu lộ sự xúc động đối với nam phái. Bà như tắt ngấm đi. Nguội lạnh, uể oải.

Càng lớn Lộc càng thương mẹ. Những bất trắc tình cảm ở đời, ai cho khỏi? Chẳng qua là tai họa, có gì đáng trách đâu. Bấy lâu nàng không về ở được với mẹ không phải là vì thành kiến gì đối với chuyện cũ của bà, thực ra chỉ vì tính nàng dùng dằng bất quyết. Bây giờ nàng về, chắc bà mừng lắm.

Nàng về chứ. Lúc này nàng đang cần một chỗ để về, để trốn nấp. Nàng đang bối rối vì sự đe dọa của một thứ tình cảm không lành.





Hôm qua, hai con vịt đã biểu diễn một màn thân ái làm nàng ngạc nhiên. Nàng ngồi lặt mớ rau muống ngoài sân, chúng chạy loanh quanh, vung vung cái đuôi, rồi nằm bẹp xuống bên cạnh. Một lát, nàng bưng rổ rau đã lặt xong vào bếp. Nàng vừa ngồi xuống trước cái hỏa lò, nghe có tiếng líu ríu sau lưng, quay lại thì đã thấy đủ hai con vịt xiêm con. Chúng nằm bẹp từ lúc nào sát chân nàng, nghểnh cao cổ, mở những con mắt đen lay láy, vung vung cái đuôi... Buồn cười, chúng bám theo nàng như trẻ con theo mẹ. Trông ngây ngô, tội nghiệp.

Vài ngày nữa Lộc về với mẹ, và sẽ bỏ lại hai con vịt xiêm con với sự quyến luyến của chúng. Nàng đã bỏ sau lưng những “tình cảm” quấn quít như thế ở nhiều nơi. Một con chó quắn ở Gia Nghĩa mỗi lần trông thấy nàng bế một đứa bé trên tay hay ôm một con gà ra vẻ tưng tiu là nó khốn khổ chạy quýnh lên, rên ư ử. Nó ganh tị. Nàng đi đâu vắng vài ngày, lúc về tới nhà, nó lăng quăng, sủa ăng ẳng, mừng vãi cả nước tiểu ra, lúc được bồng lên nó ngậm lấy tay nàng giữ trong miệng thật lâu.

Còn những con mèo của các nhà trọ ở đây đó chúng đều tinh khôn và mến nàng kín đáo. Có con ngày đêm quanh quẩn bên gối giường nàng, nó quen hơi hướng của nàng và nàng quen nó. Có con mỗi bữa ăn lặng lẽ nép bên mình nàng, và thỉnh thoảng lấy chân trước khều thật nhẹ để nhắc nhở, để xin món ăn. Nó khều nàng mà như biết tránh sự chú ý của mọi người khác.

Hồi ở trên Pleiku, công việc bàn giấy tại địa điểm dinh điền chẳng có bao nhiêu; nàng vẫn lãnh phần đi chợ hàng ngày cho mấy anh chị em cán bộ ở chung với nhau. Lần nào đi chợ Lộc cũng xin một ít đầu tôm đuôi cá đem về cho mấy con gà. Gà ăn quen, riết rồi mỗi lần nàng đi chợ về, nghe tiếng nói hay tiếng chân của nàng từ ngoài sân hay trước ngõ, chúng nó đã mừng rỡ rối rít, đập cánh, nhảy nhót, la lên quang quác trong chuồng. Người đàn bà ở căn nhà sát vách bật cười, kêu: “Má về, tụi bay ơi. Má về rồi đó”. Ít khi lũ gà lầm lẫn: chúng phân biệt tiếng chân và bóng dáng của nàng từ xa thật đúng.

Những thứ tình cảm như vậy đều có đi có lại. Ðối với những con gà, con vịt, con chó, con mèo ấy Lộc cũng có một thái độ âu yếm theo cách riêng. Nàng có cảm tưởng mình sống ở đâu xung quanh cũng có một bầu không khí tình cảm ấm áp bao bọc. “Bao bọc những người con gái muộn chồng”, có lúc nàng chua chát.

Lần này tại sở của nàng làm, vợ chồng người lao công có một đứa con trai vào khoảng tám, chín tuổi gì đó. Gia đình người lao công ở một căn nhà phụ ngay trong sở, cho nên nàng vẫn trông thấy đứa bé hàng ngày. Hai tháng gần đây, Lộc nhiều lần bắt gặp nó hoặc quanh quẩn bên chiếc xe gắn máy của nàng, hoặc đứng từ xa nhìn nàng làm việc, hoặc lảng vảng đón đợi nàng lúc đi lúc về.

Cái rung động mông lung, ngây thơ trong lòng một đứa trẻ ấy, có mấy người khác trong sở cùng để ý. “Nó yêu đấy”. Nàng cười: “Nếu tôi có chồng sớm con tôi cũng bằng nó.”

Nàng nói để đuổi câu chuyện đi. Nhưng thực sự, nàng không thể xua đuổi được khỏi tâm trí “mối tình” nọ. Quanh nàng bầu không khí tình cảm bao bọc càng ấm càng nồng.

Lộc lúc nào cũng được yêu mến. Nhưng yêu mến vậy vậy thôi, chẳng đi tới đâu, mà tuổi trẻ của nàng thì... tuổi trẻ bất cứ của ai cũng thế, nó không chịu chờ đợi. Chờ đợi mỏi mòn trong những tình yêu gà yêu vịt.

Lộc không ở hẳn với cha, không ở với mẹ. Từ bao nhiêu lâu nàng không có hẳn một quê hương, dù là quê cha hay quê mẹ. Dần dần, lớn lên, nàng thấy mình sắp mất đi một thứ quê hương nữa: là tuổi trẻ. Xa tuổi trẻ nàng mất tự tín, nàng bơ vơ, hoang mang.

Tự nhiên Lộc thấy mình cần về ở với mẹ, về hẳn.




Khi cha nàng bỏ nhà ra đi, ông bặt tin luôn bốn năm. Rồi vẫn không thư từ tin tức gì, một hôm thình lình ông về thăm nhà thì bấy giờ ông đã thành một quân nhân rồi. Cũng như nhiều người khác từ ngoài Trung ra đi, ông cũng vào trong Nam tìm sinh kế, nhưng không hiểu làm sao ông lại vào lính. Bây giờ cha Lộc là một đại úy ở dưới Cần Thơ.

Hình như mẹ nàng có biết về những điều đó: cha nàng lấy vợ ở Vĩnh Long, có thêm hai con trai ba con gái, cha nàng thỉnh thoảng về thăm nhà ngoài Trung, vẫn gặp Lộc, cha con vẫn liên lạc với nhau, lâu lâu cha nàng gửi cho nàng một món tiền, một món quà v.v... Mẹ nàng không biết gì rõ rệt lắm, bà cũng không trực tiếp hỏi nàng lần nào. Tuy nhiên mỗi khi có cái áo dài, cái ví của cha nàng mới cho, Lộc vẫn khéo léo cho mẹ biết.

Thái độ của người đàn ông làm cho nàng ngạc nhiên. Cha nàng không giấu được sự thù hận. Thật lạ lùng: Ông không phải không biết đại khái mẹ nàng bây giờ sống ra sao, nhưng càng ngày ông càng thâm thù. Sau cuộc đổ vỡ, giữa hai người ông được nhiều “thành công” hơn chứ, ông vẫn lập lại một gia đình, ông đang sống sum vầy. Còn người đàn bà thì cuộc đời tan hoang rồi, còn gì đâu. Vậy mà ông không tha thứ được. Ông vẫn như còn ngượng ngùng, dằn dỗi: không bao giờ về quê mà ông chịu đem theo người vợ sau hay những đứa con của người vợ sau. Lộc chưa gặp bà dì Vĩnh Long và mấy đứa em. Bà nội nàng thì có một lần vào Cần Thơ nửa tháng, nhưng Lộc và bao nhiêu người khác ở phía nội đều chưa được ghé mắt nhòm vào cuộc đời sau của cha nàng.

Quả là khi cần về, nàng chỉ có thể về ở với mẹ mà thôi, dù bà có ra sao đi nữa.



Phơi xong các món đồ vừa giặt lên dây, Lộc xách cái thau nhựa và nhặt trái cam lên. Nàng vừa bước vào nhà vừa nghĩ: “Anh ấy mà biết những trái cam trái quít này tống xuất mình ra khỏi Bảo Lộc?”

Người con gái nghĩ đến những giây phút xúc động, những cái nhìn những câu nói trao đổi với Tín... Nàng nghĩ đến những cái nhìn những câu nói đêm đêm trong quán cà-phê của những người con trai, trong số đó có mấy khuôn mặt mà chắc chắn nàng sẽ không quên được, dù không quen biết... Trong cái quán cà-phê mà nàng sẽ rời bỏ mãi mãi.

Nàng nghĩ... quanh nàng không phải chỉ có những cặp mắt đen láy của vịt xiêm con, của thằng bé nhà bác lao công, không phải chỉ có tình gà tình vịt. Quanh nàng không phải chỉ là một bầu không khí ấm áp, mà có cả một bầu không khí chất chứa những luồng điện nguy hiểm, luôn luôn sẵn sàng phát nổ vì một tia lửa, một bầu không khí đầy bất trắc...

Nàng mà ngại sự bất trắc? Vâng, chán cảnh lênh đênh thì có, chứ còn đối với sự bất trắc...

... Một người con gái chỉ thực sự “sống” trong sự bất trắc. Ðến lúc quyết định về với mẹ, với cảnh an toàn, Lộc mới cảm thấy mình đang thu xếp cho một cái gì như là một cảnh hạ màn. Thu xếp rời bỏ cuộc sống thực sự. Không còn đe dọa bất trắc nào nữa, đời nàng còn gì sống động? Ðối với một người con gái, như vậy có còn là sống nữa chăng?

Những ánh mắt lén lút, những câu nói lập lờ...: tới phút chót người con gái đoan trang bỗng thấy mình vẫn yêu thích sự bất trắc.

Khi bất trắc bùng nổ như bom trong đời mẹ nàng thì suốt một đời bà không lấy lại được thăng bằng. Trái lại ở một cuộc sống như của nàng thì nàng gần như không ngớt chờ đợi sự bất trắc, những bất trắc làm run rẩy cuộc sống. Chờ đợi âm thầm, vô ý thức, nhưng mà thiết tha, như thể mong mỏi cái ý nghĩa của cả cuộc đời, ít ra là ý nghĩa của tuổi xuân mình vậy. – Ô hay!


1974

Phạm Phú Minh: Ði thăm Nguyễn Xuân Hoàng

Để chuẩn bị cho cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn vào tháng Bảy 2013 vừa rồi, tôi đã mời nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tham dự ban điều khiển các buổi hội thảo, và anh đã nhận lời, khoảng nửa năm trước. Tôi rất yên tâm, vì ban điều hành gồm Bùi Bích Hà, Đỗ Quý Toàn và Nguyễn Xuân Hoàng thì coi như là "mạnh"; đề tài nào, tình huống nào những nhà cầm bút lão luyện này cũng có thể lèo lái xuôi chèo mát mái được.

Tại nhà Nguyễn Xuân Hoàng, San Jose. 

Từ trái : Phạm Phú Thiện Giao, Hà Tường Cát, Phan Huy Đạt, Nguyễn Xuân Hoàng, 

Phạm Phú Minh, Vy, Đinh Quang Anh Thái, Đỗ Quý Toàn, Hoàng, Vy và nhóm anh em Người Việt


Thế nhưng hai tuần trước ngày hội thảo thì Hoàng gọi cho tôi từ San Jose, giọng yếu ớt, cho biết không thể xuống quận Cam tham dự hội thảo được, vì lâm trọng bệnh một cách bất ngờ. Vé máy bay đã mua nay đã phải trả lại, chứng đau lưng tưởng là thông thường hóa ra có nguyên do trầm trọng từ cột sống, và đang chuẩn bị một chương trình chữa chạy dài ngày trong nhà thương. Hoàng tỏ ý tiếc bỏ lỡ một chương trình hội thảo quan trọng và hứa hẹn nhiều hào hứng. Tôi vội trấn an Hoàng là đừng lo gì về cuộc hội thảo, mà hãy lo chữa bệnh, sức khỏe của bạn là cái quan trọng nhất hiện nay. Tuy vậy trong lòng tôi dấy lên một nỗi tiếc nuối và lo lắng về chỗ trống do Hoàng vừa để lại trên bàn chủ tọa đã phác họa, vì Hoàng là một người điều khiển các chương trình hội thảo văn học đầy kinh nghiệm và kiến thức. Cách đây sáu năm, vào năm 2007, khi tổ chức hội thảo về văn học Việt Nam hải ngoại cũng tại Little Saigon, tôi cũng đã mời Hoàng vào ban điều khiển chương trình, và buổi hội thảo đã diễn ra rất tốt đẹp. Hoàng tiếp nhận nội dung thuyết trình nhanh và chính xác, tóm tắt ngắn gọn và thông minh để khán giả nắm vấn đề, từ đó lèo lái cuộc thảo luận lịch sự và xây dựng.

 


Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

Ngô Nhân Dụng: Mặt trận văn hóa trong cuộc tranh cử 2022

Ông Joe Biden mới nhận được một tin vui: Số dân Mỹ ủng hộ chính phủ ông tăng thêm 3 phần trăm trong tháng qua. Bất cứ chính trị gia nào cũng phải thấy mừng lớn. Nhưng đối với Tổng thống Joe Biden thì không. Vì ông vẫn chỉ được 42% dân tín nhiệm, so với 39% trước đó.

Vị tổng thống được khoảng 40% dân chúng ủng hộ thì vẫn có thể tìm cách khôi phục niềm tin trong một năm, hai năm. Ông Biden có thể phấn đấu từ nay đến năm 2024, khi ông phải tái tranh cử, nếu muốn. Nhưng đảng Dân chủ sẽ chỉ còn 6 tháng để thay chuyển bàn cờ tranh cử quốc hội năm 2022.

Bình thường, trong năm thứ nhì của nhiệm kỳ một tổng thống Mỹ, đảng của ông sẽ mất bớt ghế trong quốc hội. Ba vị tổng thống trước, Obama, Bush và Trump đều nếm mùi cay đắng này. Nếu vị tổng thống đó lại không được tới 50% dân ủng hộ (như ông Trump năm 2018 và ông Biden hiện nay), thì đảng họ thua càng đậm. Đảng Dân chủ hiện chỉ chiếm đa số 5 ghế trong Hạ viện, và 50/50 trên Thượng viện. Tháng 11, 2022 họ có thể mất quyền kiểm soát cả hai.

Trận cờ tranh cử cho thấy Cộng Hòa chiếm ưu thế. Trước hết là mặt trận kinh tế. Kinh tế Mỹ đã hồi phục sau khi bệnh dịch Covid-19 thuyên giảm, nhưng lại bất ngờ tuột dốc trong ba tháng vừa qua. Mối lo lắng vì lạm phát, mới lên cao mức kỷ lục mới thấy trong 40 năm, sẽ kéo dài tới sang năm chưa hết. Người dân không hay đọc các thống kê kinh tế, nhưng khi giá sinh hoạt tăng thì ai cũng thấy. Dân cũng không cần biết tại sao giá cả tăng lên, nhưng đảng nào đang nắm quyền thì chịu trách nhiệm, ai cũng nghĩ vậy.

Ông Biden sẽ khó thay đổi tình trạng lạm phát, trong khi Ngân Hàng Trung Ương Mỹ chắc chắn sẽ tăng lãi suất, khiến kinh tế Mỹ phải giảm tốc độ, có thể sẽ suy thoái. Cho nên trong tháng qua thêm được 3% dân ủng hộ ông Biden là nhờ những thành công ngoại giao. Khối NATO đã đoàn kết cùng chống lại cuộc xâm lăng Ukraine của Vladimir Putin. Ông Biden có công lớn vì theo một chính sách ngoại giao khôn khéo, mềm mỏng và cương quyết.


Neil MacFarquhar & Alina Lobzina: Vụ chìm tàu Moskva - Phép thử đối với thông tin sai sự thật của Nga (Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành)

Neil MacFarquhar & Alina Lobzina, “With sunken warship, Russian disinformation faces a test”, New York Times, 21/4/2022

Một tuần sau vụ soái hạm Moskva của hạm đội Nga bị chìm ở Biển Đen, ngày càng có nhiều gia đình các binh sĩ mất tích đặt câu hỏi về số phận con em của họ, trong khi Bộ Quốc phòng và các quan chức cấp cao trong chính phủ Nga vẫn im lặng.

Thông qua mạng xã hội hoặc các cơ quan truyền thông, ít nhất đã có 10 gia đình công khai bày tỏ sự bất bình của họ. Nhiều người, kể cả các quan chức, đã đưa ra những câu trả lời khác nhau, nói rằng con em các gia đình kể trên vẫn còn sống, hoặc đã mất tích hay đã chết. Tuy nhiên, Nhà nước không thay đổi nội dung bản thông báo ban đầu, trong đó nói toàn bộ hơn 500 thành viên thủy thủ đoàn của tàu tuần dương Moskva đã được cứu thoát.

“Họ không muốn đối thoại với chúng tôi”, Maksim Savin, 32 tuổi, nói khi trả lời một cuộc phỏng vấn, ông đang tìm kiếm người em trai Leonid 20 tuổi của mình. Leonid là lính nghĩa vụ cũng từng ở trên tàu Moskva. “Chúng tôi rất đau buồn. Họ đã gọi em trai tôi đi lính và có thể chú ấy sẽ không bao giờ trở về.”

Im lặng về số phận của thủy thủ đoàn tàu chiến Moskva là một phần trong hành động tổng thể của Điện Kremlin nhằm ngăn chặn việc đưa ra những tin tức xấu về cuộc chiến tại Ukraine và nhằm kiểm soát phát ngôn của công chúng Nga về diễn biến cuộc chiến này. Nhiều thủy thủ mất tích là lính nghĩa vụ — đây vốn là một chủ đề nhạy cảm ở Nga kể từ sau cuộc chiến Chechnya, hồi ấy những lính trẻ chưa được huấn luyện đầy đủ đã bị đưa ra trận, họ bị chết hàng loạt — sự việc đó đã làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc chiến Chechnya.

Nguyên nhân tàu Moskva bị chìm đang gây tranh cãi, phía Nga cho rằng đó là do hỏa hoạn làm kho đạn trên tàu bị nổ, con tàu bị hư hỏng đã chìm trong quá trình lai dắt dưới điều kiện thời tiết xấu. Phía Ukraine cho biết họ đã phóng hai tên lửa Neptune trúng con tàu này, tuyên bố đó được các quan chức Mỹ xác nhận. Dù thế nào đi nữa, đây là một trong những tàu chiến lớn nhất bị tổn thất kể từ Thế chiến 2, một sự kiện làm Nga bối rối.


Joaquin Nguyễn Hòa (BBC): Trước chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Hoa Kỳ nghĩ gì về quan hệ Việt-Nga?

Cuộc xâm lăng của nước Nga vào Ukraine làm dấy lên một liên minh phương Tây chưa từng thấy từ Chiến tranh Lạnh cho đến nay, thì tin "tập trận với Nga" của Việt Nam quả là một cơn chấn động đối với nhiều người quan sát Việt Nam, trong cũng như ngoài nước.

Tin này lại được tung ra ngay sau ba lần bỏ phiếu tại hội đồng Liên hiệp quốc để đưa ra những nghị quyết chống đối cuộc xâm lược của nước Nga, trong đó Việt Nam hai lần bỏ phiếu trắng, một lần bỏ phiếu chống, đi ngược lại với đa số các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc.

Thế nhưng truyền thông Việt Nam lại hầu như im lặng.

Nếu những người Việt trong nước chỉ đọc báo chí Việt Nam thì chỉ biết đến tin tập trận này vào ngày 21/4/2022, khi bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên bộ ngoại giao Việt Nam trả lời báo chí. Bà Hằng phải trả lời câu hỏi về tin tập trận nhưng chỉ nêu những quan điểm chung chung về chính sách quốc phòng của Việt Nam, bà không hề đề cập đến hai tên Việt Nam và Nga, cũng như không hề nói đến cuộc tập trận cụ thể này.

Những người Việt đọc báo Việt Nam cũng có thể sẽ bỏ qua tin này vì nó chìm ngập trong hàng hà sa số những tin tức khác, được đưa ra với tần suất cao hơn rất nhiều.

Trong giới quan sát Việt Nam, đa số nói đến những ràng buộc lịch sử, kinh tế, quốc phòng của Việt Nam đối với nước Nga, đã dẫn đến thái độ của Việt Nam trong những lần bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc. Bên cạnh đó, những người này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Việt Nam về địa chính trị trên bàn cờ toàn cầu của Hoa Kỳ, vì thế đã có những ưu ái trong chính sách với Việt Nam, chẳng hạn như không cấm vận Việt Nam vì Việt Nam mua vũ khí Nga, rằng Việt Nam phải có thời gian để đa dạng hóa nguồn vũ khí của mình, hay là vũ khí Nga rẻ hơn,…

Nhưng cũng có những ý kiến rằng Việt Nam sắp tới đây sẽ gặp rắc rối với Mỹ vì cứ theo phe Nga, mà nghiêm trọng nhất là cuộc tập trận (?) với nước Nga trong năm 2022 này. Trong số này có nhà báo chuyên về Đông Nam Á là David Hutt. Ông Hutt viết trên tờ Asia Times rằng Việt Nam có thể bị "dính" lệnh trừng phạt của Mỹ nếu cứ tiếp tục quan hệ quân sự với Nga. Bài này được viết hai ngày sau khi tin về kế hoạch tập trận được truyền thông Nga đưa ra.


Thu Hà: Hội nghị Trung ương 5 và nội tình của đảng

Hội nghị Trung ương 5 khoá 13 của đảng cộng sản Việt Nam sẽ nhóm họp vào ngày 4-5-2022 và dự kiến sẽ bế mạc sáng 10-5-2022. Thông tin cho hay, hội nghị lần này ngoài việc “lập trình” và định hướng các nội dung cho kỳ họp thứ 3 quốc hội khoá 15 diễn ra từ ngày 23-5 đến 17-6-2022, thì nội dung còn lại chỉ tập trung vào xây dựng tổ chức đảng, chỉnh đốn đảng và kỷ luật đảng. Ngoài ra, Bộ Chính trị trình đề nghị trung ương bàn và thông qua việc thành lập Ban phòng chống tham nhũng và tiêu cực cấp tỉnh.

Đúng như nhiều đồn đoán, ông Nguyễn Phú Trọng không có ý định chuyển giao quyền lực để rút lui khỏi chính trường lúc này. Ba lý do mà phe ông Trọng loan ra: Một là thời điểm chưa “chín muồi”, hai là chưa có được sự đồng thuận cao trong đảng cho nhân sự kế vị, ba là dân chúng mong ông Trọng ngồi hết nhiệm kỳ để “đốt lò”.

Sau cú đột quỵ ở Kiên Giang hồi tháng 4-2019, ngày 6-4-2022, ông Nguyễn Phú Trọng “vi hành” đoạn đường dài hơn…150km để thăm tỉnh Quảng Ninh. Có lẽ ông Trọng muốn minh chứng cho đồng đảng thấy được sức khoẻ của ông vẫn ổn, không vấn đề gì.

Thật ra, nguyên nhân lớn nhất buộc ông Trọng ở tuổi 78 phải ngồi lại là, do nội bộ đảng ở thượng tầng đang lục đục, các phe nhóm chính trị tranh quyền không nhượng. Trước thềm hội nghị 5, trong hai ngày 28 và 29-4-2022 khi Vương Đình Huệ thăm Trà Vinh, Vĩnh Long, thì Phạm Minh Chính cũng làm việc ở Sóc Trăng. Hình như cả hai nhân vật ứng viên sáng giá kế vị chiếc ghế Tổng Bí thư đang tranh thủ lấy lòng các đồng chí Nam Bộ.

Những cuộc “so găng” để hạ bệ lẫn nhau đã thành truyền thống trong đảng CSVN. Chỉ cần tung bằng chứng một trong ba yếu tố: Có vấn đề về lý lịch và lập trường, sai phạm trong đạo đức và lối sống, tham nhũng và bảo kê; thì lập tức một chính trị gia sẽ nhanh chóng trở thành tội đồ của đảng.

Hội nghị Trung ương 5 lần này, dự kiến là hai Uỷ viên BCH Trung ương Chu Ngọc Anh và Nguyễn Thanh Long sẽ lên “thớt”, do dính vào đại án Việt Á. Nhẹ thì bị cách chức, nặng thì có thể bị đuổi ra khỏi Trung ương đảng khoá 13  như trường hợp Trần Văn Nam, bí thư tỉnh Bình Dương.


Song Thao: Nước Mắm

Nước mắm Red Boat.


Mỗi khi đi chợ Á đông, tôi thường la cà vào quầy nước mắm. Thấy có nhãn nước mắm mới là đứng…nghiên cứu. Dân nước mắm mà lỵ! Dân Mít ta vẫn cừ đùa giỡn với nhau là dân nước mắm nhưng thực ra dùng nước mắm không phải là chỉ dấu của người Việt. Trên thế giới có tới 500 triệu người sử dụng nước mắm trong nấu nướng. Toàn vùng Đông Nam Á là dân nước mắm. Thái Lan có nam-pla, Malaysia có budu, Indonesia có ketjap-ikem, Hàn Quốc có aek jeot, Kampuchia có toeuk trey, Philippine có patis. Tôi đã có thời gian gần một năm phải dùng patis của Philippine khi ngụ tại Quezon City vào năm 1973. Dở ẹc. Cũng phải thôi vì patis chỉ là phụ phẩm của mắm nêm bagoong. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Thời gian đó có patis cũng đỡ khổ cho cái miệng đã quen với nước mắm. Mới đây, khi vào một chợ Á đông ở Montreal, tôi chợt nhìn thấy patis. Nhớ lại một thời, cũng bồi hồi ra gì!


Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc cũng dùng nước mắm nhưng ít hơn. Hai nước đậm mùi nước mắm là Việt Nam và Thái Lan. Nhưng có một chút khác biệt. Không biết các nước khác ra sao nhưng dân Thái chỉ dùng nước mắm để nấu nướng chứ không dùng để chấm trên bàn ăn. Nếu dân các nước khác cũng chỉ để chai nước mắm trong bếp như Thái Lan thì chỉ có dân Việt ta thượng nước mắm trên bàn ăn. Vậy thì dân Mít tự cho là dân nước mắm là đúng chỉ số!


Nguyễn Lệ Uyên: Gia tài của Võ Hồng

Lời giới thiệu: Vào ngày 24/4/2022 vừa qua một cuộc hội thảo khoa học quốc gia mang tên “Hoài cố nhân - Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Võ Hồng”, được trường đại học Phú Yên, phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, Viện Khoa học Giáo dục - Văn hóa - Thể thao - Du lịch Đà Lạt, Trường Đại học Thái Bình Dương, đứng ra tổ chức tại thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. Cuộc hội thảo này đáng lẽ đã diễn ra vào tháng 5/2021, nhưng vì dịch bệnh nên được dời lại đến năm nay. Theo tin tức của báo chí trong nước, có hơn 60 bài tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, người thân, và học trò của Võ Hồng gửi đến buổi hội thảo.

Trong số những người được mời tham gia hội thảo, có nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, một cây bút đã từng cộng tác với các tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi Hành…trước tháng 4/1975.  Anh đã lấy vé  đi Tuy Hòa vào chiều thứ Sáu 22/4 để dự hội thảo. Nhưng đến trưa hôm đó (22/4/2022), hai ngày trước ngày hội thảo, hiệu trưởng trường đại học Phú Yên, ông Trần Lăng, gọi điện báo cho anh biết là bài tham luận của anh đã bị rút ra, không cho vào kỷ yếu và bản thân anh cũng không được tham dự hội thảo. Ngoài Nguyễn Lệ Uyên, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và một nhân vật khác ở Hà Nội mà Ban tổ chức giấu tên, cũng cùng chung số phận. Phạm Xuân Nguyên, trong một bài đi trên trang mạng “Văn Việt” ngày 26/4/2022, cho biết “công an tỉnh Phú Yên yêu cầu họ [Ban tổ chức] không được để tôi và hai người nữa (trong đó có nhà văn miền Nam cũ Nguyễn Lệ Uyên tức Đoàn Việt Hùng) tham dự hội thảo, bài của cả ba không được đưa vào kỷ yếu. Lý do bên an ninh đưa ra, theo người của ban tổ chức cho biết, là do tôi tham gia “Văn Đoàn Độc Lập.”


Theo Nguyễn Lệ Uyên, bài tham luận của anh, “Gia tài của Võ Hồng”, bị Công an và ban Tuyên giáo tỉnh Phú Yên yêu cầu Ban tổ chức hội thảo loại bỏ vì  đã sử dụng tài liệu của các nhà văn lấy từ các trang mạng ở nước ngoài, trong đó đáng chú ý là đoạn trích dẫn cho biết nhà văn Nguyễn Mộng Giác mượn 150 trang viết về chiến tranh của hai  sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa là Hoàng Khởi Phong với “Ngày N+”  và Cao Xuân Huy với “Tháng Ba gãy súng” để đưa vào bộ trường thiên tiểu thuyết “Mùa biển động” của ông. 

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài tham luận không-được-thừa-nhận này của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên. (Thế Quân)

 

1. Võ Hồng mất đi, không chỉ để lại một gia tài khá lớn, góp phần tô thắm cho dòng văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, mà hơn thế, ông còn được các thế hệ lớn nhỏ tôn kính, từ những học trò học trực tiếp với ông, các nhà văn cùng thế hệ, các nhà văn trẻ viết sau ông và cả những độc giả từng đọc các tác phẩm của ông tạo thành một vòng đai ấm áp mà không phải nhà văn nào cũng nhận được.

Võ Hồng: Xuất Hành Năm Mới

Lời giới thiệu.- Nhà văn Võ Hồng sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921 tại làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Từ năm 1956 ông sống tại Nha Trang cho đến lúc qua đời vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.

Là nhà văn, đồng thời ông cũng là nhà giáo. Tác phẩm của ông ghi lại khá chân thực và tinh tế cuộc sống, sinh hoạt của người dân vùng Nam Trung Bộ. Nhiều tác phẩm của Võ Hồng đã được trích giảng trong sách giáo khoa văn cho chương trình trung học trước năm 1975. Sau năm 1975, văn nghiệp của ông là đề tài cho nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ văn chương.

Võ Hồng lập gia đình, đến năm 1957 thì vợ ông qua đời, để lại ba con nhỏ: lớn nhất 9 tuổi và nhỏ nhất 3 tuổi. Từ ngày vợ mất, ông không lấy người khác, vì ông sợ lấy vợ lần nữa sẽ làm khổ các con.

Truyện ngắn Xuất Hành Năm Mới dưới đây gần như là một tự truyện về cảnh gia đình ông đi thăm mộ vợ ông.
***

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng.

Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia.


Phạm Xuân Đài: Cái Chết Trong Ca Khúc Phạm Duy

Trong buổi lễ tưởng niệm Đỗ Ngọc Yến vào tối ngày 23 tháng Tám 2006 tại phòng sinh hoạt Lê Đình Điểu của báo Người Việt, Bích Liên với giọng cao vút trong phong cách opéra, đã hát những lời này:


1.

Hồn xuân vừa tàn hơi

Hay nắng ấm lung linh qua đời

Hay gió tuyết mưa sa bay ngang trời

Người yêu dù xa xôi 

Xin nhớ tới quê hương u hoài

Trong giá rét đêm đông đang trông vời


Một lần người đưa tiễn nhau

Như vẫn cầu lời hứa năm nào

Đằm thắm cho vui lòng nhau

Một lần người xa cách nhau

Trái tim sầu còn vẫn tươi mầu

Vì đó... không ai quên đâu...


2.

Người đi về mai sau

Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu

Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu

Người đi vào không gian

Nghe nhớ tiếc đau thương vô vàn

Nghe tiếng hát êm êm ru linh hồn


Người về dần trong cõi mồ

Như lúc nào vừa mới ra đời

Chào đón xuân tươi ngày mới

Cuộc đời từ trong chiếc nôi

Đã quay về cùng với gió bụi

Về chốn không tên, xa xôi...

(*)


Bài hát nói về cái chết, Phạm Duy dựa vào điệu nhạc Chanson de Solvejg viết lời lâu rồi, đã trên nửa thế kỷ, ít người biết, nhưng chạm sâu xa đến một vùng mà không mấy người có khả năng nói tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ hiếm hoi nhiều lần nói về cái chết, và Khúc Ca Ly Biệt trên đây là bài hát hoàn toàn về sự biệt ly của chết chóc, một cách toàn diện, trong không gian, trong thời gian, trong thân phận kẻ lìa trần cũng như trong lòng người ở lại.

Phạm Duy là một nhạc sĩ sáng tác mãnh liệt về khắp các mặt của cuộc đời, nhưng lại luôn luôn nhắc đến cái chết, tuồng như ông thấy chết cũng là một hình thái biểu hiện sự sống. Ngay từ khi còn rất trẻ, trong khi say sưa viết lên cái khí thế bừng bừng đánh quân ngoại xâm giữa thời điểm 1945, ông cũng đã mường tượng đến sự chết rồi. Ông vừa viết xong bài Xuất Quân lẫm liệt Ngày bao hùng binh tiến lên thì đã nghĩ ngay đến hình ảnh ma quái của những Chiến Sĩ Vô Danh


Mờ trong bóng chiều 

Một đoàn quân thấp thoáng


Quân này là quân ma, họ đã ra đi chiến đấu và đã ra người thiên cổ, ông dùng ngay hình ảnh ấy để lay động lòng người đang đứng trước cuộc chiến giữ nước


Ra biên khu trong một chiều sương âm u

Âm thầm chen khói mù

Bao oan khiên đang về đây hú với gió

Là hồn người Nam nhớ thù.


Một thanh niên đang ở độ tuổi ngoài hai mươi, mang bầu máu nóng phụng sự cho đất nước mà đã sớm nhìn ra những hình ảnh của “cõi bên kia” như thế thì cũng là chuyện lạ. Bài Nợ Máu Xương lại càng lạ hơn nữa, vừa hiện thực vừa siêu thực, tả toàn cảnh chết chóc vì chém giết


Ai nghe không sa trường lên tiếng hú?

Tiếng lầm than, những tiếng người đời quên.

Đi lang thang tiếng cười vang tiếng hú

Xác không đầu nào kia?


Nghe phảng phất như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du! Phải chăng linh cảm mẫn nhuệ của một nghệ sĩ lớn đã khiến Phạm Duy nhìn thấy trước cảnh chiến tranh tàn phá kinh hoàng trên đất đước Việt Nam suốt ba mươi năm sắp tới, dù thời điểm viết Nợ Xương Máu là vào năm 1946, trước khi toàn quốc kháng chiến với Pháp. Ông đã dùng những hình ảnh cổ điển của thi ca thời đó để vẽ nên sự chết chóc, nhưng bản chất của tấn thảm kịch chiến tranh thì thời nào cũng thế


Lá rụng tơi bời

Đoàn quân tiến qua làng.

Từng thanh kiếm đứt ngang, 

Từng lớp áo rách mướp,

Từng cánh tay rụng rời!

Qua làn mây trắng

Đoàn quân tiến về trời

Ầm rung tiếng sa trường...


Tiếng ầm rung chết chóc đó còn vang mãi trong lòng người không biết bao nhiêu thế hệ nữa khi họ có dịp ôn lại những trang sử xưa, không phải những trang chính sử ghi lại một cách vô cảm các biến cố, mà là những trang sử như của Phạm Duy viết khi “đoàn quân tiến qua làng” với những chiếc áo rách mướp, những thanh kiếm gãy ngang, những cánh tay không còn nguyên vẹn... và nói rõ họ đang “tiến về trời.” Lịch sử một dân tộc không thể không ghi những trang như thế, cũng như mấy năm về sau khi sáng tác ông đã đóng vai một ký giả chiến tranh tả thực cái cảnh dã man rùng rợn “quân thù đã bắt được con đem ra giữa chợ cắt đầu” từ một thảm cảnh của làng Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Hoặc một cách gián tiếp, chỉ dùng một số hình ảnh ước lệ, nhưng hiệu quả gợi cảm thương về sự chết chóc vẫn lớn:


Người đi không về

Chắc rằng có người nhớ

Hương khói chiêu hồn

Hiu hắt những chiều trận vong.

(Đường Ra Biên Ải)


Một số năm về sau ông rời khỏi các ám ảnh chiến tranh, đề tài sáng tác càng phong phú, nhưng cái chết vẫn không rời ông. Ông đã viết về việc sáng tác của ông vào khoảng đầu thập niên 1960: “Đối với tôi chỉ có ba điều quan trọng: Tình Yêu, Sự Đau Khổ và Cái Chết.” Nhưng cái chết vào thời điểm này đã được trừu tượng hóa thành một loại tư tưởng, không còn cụ thể có khi đầy ghê rợn như trong thời kháng chiến Pháp. Như về bài Đường Chiều Lá Rụng, tác giả đã tâm sự như thế này: “Lúc này tôi đang yêu đời lắm, nhưng tôi vẫn nói tới cái chết, chẳng hạn, qua những kiếp lá trong đường chiều. Lá đang như những chiếc thuyền rung rinh trong ngọn gió, bỗng nghe đất gọi về, lá rơi xuống đất để trở thành những ngôi mộ úa trên con đường chiều, nơi đó có tôi và người yêu đang đi trong cuộc tình.”


Lá vàng bay! Lá vàng bay!

Như dĩ vãng gầy, tóc buông dài, bước ra khỏi tình phai

Lá vàng rơi! Lá vàng rơi!

Như chút hơi người giã ơn đời trên nẻo đường hấp hối!


Khi một người lên tiếng Tạ Ơn Đời thì tâm hồn hẳn đầy sung sướng vì những gì đời đã cho mình. Quả thế, tác giả ca ngợi “bao nhiêu là thương mến, bao nhiêu là quyến luyến,” rồi “tay hái biết bao niềm yêu,” và “đời vẫn cho ta ngọt bùi”... nhưng cuối cùng vẫn không quên cái chết đang chờ ở cuối đường


Mang ơn đời nâng đỡ

Dâng nấm mồ thô sơ

Với dâng hương hồn thương nhớ

Còn vấn vương trong chiều tà.


Bài Một Bàn Tay là một bài hát triết lý, qua hình ảnh bàn tay mà thấy ra toàn diện cuộc đời, từ bàn tay bà mụ “đưa anh ra khỏi lòng người” đến bàn tay làm lụng, bàn tay  yêu đương..., nhưng cuối cùng, cũng sẽ bàn tay ấy làm động tác giúp kết thúc một đời người


Một mai đưa anh thăm thẳm lìa đời

Mùa đông khăn tang mây bỏ đường dài

Bàn tay thương nhớ, ôi gặp anh băng giá

Lạ lùng, tay khép làn mi.


Suốt cuộc đời sáng tác của mình, kể cả khi còn rất trẻ, Phạm Duy không bao giờ quên cái chết, và ông diễn tả nó một cách tài tình, khiến ta khi hát lên cảm thấy như vừa chạm vào cái cõi bi thương đáng sợ ấy. Thật ra ông không đi sâu vào chính cái chết như Tolstoi tả phút hấp hối của André trong Chiến Tranh và Hòa Bình, ông chỉ nói về tình huống bề ngoài, nhưng cách nói nghệ thuật của ông khơi dậy gần như đầy đủ “kinh nghiệm chết” hình như vẫn luôn luôn có sẵn trong mỗi chúng ta. Đó có thể là kinh nghiệm tử biệt sinh ly về cái chết của bao người khác ta hằng chứng kiến, nhưng cũng rất có thể là của chính ta, lưu trữ bằng một cách nào đó sâu trong tâm thức sau hàng vô số kiếp luẩn quẩn trong vòng tử sinh. Đôi khi ta vẫn có cảm tưởng “nhớ” lại một cái gì đó không hề được kinh nghiệm trong đời này.

Tương truyền bản nhạc Sombre Dimanche (Chủ nhật buồn) là một bản nhạc gây chết chóc, vì không hiểu sao nhiều người nghe nó đã tự tử. Quả là thỉnh thoảng vẫn có những tác phẩm mang cái ma lực kỳ dị như vậy. Bản nhạc ấy vào tay Phạm Duy đã mang lời Việt Nam như sau:


Chủ nhật nào tôi im hơi

Vì đợi chờ không nguôi ngoai

Bước chân người nhớ thương tôi

Đến với tôi thì muộn rồi

Trước quan tài khói hương mờ bốc lên như vạn ngàn lời

Dẫu qua đời mắt tôi cười vẫn đăm đăm nhìn về người

Hồn lìa rồi nhưng em ơi tình còn nồng đôi con ngươi

Nhắc cho ai biết cuối đời có một người yêu không thôi

Ơi hỡi... ơi... người!...

(Chủ Nhật Buồn)


Đó là luyến tiếc, vướng víu, là không siêu thoát, phải không?

Khi chúng ta còn nhỏ, sự chết đối với chúng ta là chuyện... của người lớn. Khi vào đời ở tuổi thanh niên thì đó là chuyện của... người già. Chính mình thì chối hết. Nhưng khi bắt đầu vào tuổi già thì như một khả năng tự nhiên, càng ngày ta càng cảm nhận được trong thân tâm mình cái “khả năng chết” một rõ hơn, mãi đến một lúc, hết chối nữa, đành nhận nó là của mình. Nó dần dà, tự nhiên biến thành một phần của sự sống. Phạm Duy là một người hiếm hoi “biết” cái chết, “sống” với cái chết ngay từ tuổi thanh niên. Tại sao? Để làm gì? Trong nhân loại, thỉnh thoảng nẩy ra một người có khả năng trình bày hộ cho mọi người khác ý nghĩa toàn bộ cuộc nhân sinh mà thông thường người phàm mắt thịt chỉ thấy rất ngắn, toàn là chuyện eo sèo trước mắt. Chứ sao, phải nói về cái chết chứ, làm sao có sự sống nếu không có sự chết? Cái chết chờ bên đầu kia cuộc đời mỗi người, nào có xa xôi gì, trong chớp mắt của thời gian đã tới nơi, để bắt đầu một chuyển hóa mới, một cuộc du hành mới


Người là ai? Từ đâu tới?

và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao?

Người vì sao mà chớm nở?

rồi sớm tối cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa?

Người là chi? là cơn gió? là giọt mưa?

là cát trắng hay bụi xanh lơ? 

Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ?

Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô?

(Xuân Hành)


Một loạt câu hỏi từ muôn đời của loài người nhưng không bao giờ cũ, vì ngày nào con người không còn biết đặt ra những câu hỏi như thế về thân phận mình thì cũng có nghĩa là đã dừng lại trên con đường hoàn thiện chính mình.


*


Chết là cái mà không ai có kinh nghiệm, nhưng không phải vì thế mà người ta hoàn toàn không thể viết gì về cái chết. Đang sống mà “chuyển sang từ trần” là một sự bí nhiệm, từ ngàn xưa con người vẫn suy nghiệm, vẫn cảm xúc đau đớn và vẫn... thờ phượng cái chết. Đặc biệt các tôn giáo và các tín ngưỡng lo săn sóc đến cái chết một cách kỹ lưỡng nhất, vì biết rõ đó không phải là một cái gì  có thể đối xử một cách bình thường theo cung cách cuộc sống trần thế. Trước sự chết, con người bàng hoàng và sợ hãi, phải tìm mọi cách trấn an nỗi sợ. Đông hay Tây đều đặt ra sự tự kỷ cho mình về một cõi sau khi chết: sinh ký tử quy, sống gửi thác về, về với ông bà, về ngôi nhà Cha, về miền Cực lạc... cố dẫn dụ mình rằng cuộc sống trần thế này tuy ai cũng tưởng là quan trọng cần hết sức bám víu lấy, nhưng thực chất chỉ là cái rất phụ, chỉ là một sân khấu tạm bợ để múa may trong một thời gian thoáng qua, rồi sau đó thì “về” với cái đích thực. Lời hứa hẹn và giải thích thì rất nhiều, người ta nghe theo lời này hay lời kia, hoặc chẳng nghe lời nào cả, là tùy khuynh hướng và căn cơ của mỗi người, nhưng nhìn chung mọi tín ngưỡng đều nhằm khuyên làm tốt khi sống để được an ổn khi chết, làm như cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài chuẩn bị cho cái giây phút không còn cuộc đời nữa. Thế mới biết cái chết nó ám ảnh con người đến thế nào. Ám ảnh đến gần như biến thành một mục tiêu của sự sống.

Riêng Phạm Duy chấp nhận hết trong sáng tác của mình: Tình Yêu, Khổ Đau và Cái Chết. Đó là thái độ của một nghệ sĩ lớn, sống tận cùng từng phút giây của cuộc nhân sinh. Và, nghe như có vẻ mâu thuẫn, cũng “sống” tận cùng với phút giây không còn sự sống nữa, là lúc Cõi Chết bắt đầu.


(2006)


(*) Viết thêm :


Trước khi Phạm Duy mất một thời gian không dài lắm, anh có gửi một email cho tôi cho hay anh sửa một ít lời trong bài Khúc Ca Ly Biệt (lời Việt cho Chanson de Solvejg của Grieg). Bài viết về cái chết tuyệt hay, tôi mê từ hồi còn trẻ. Ở phân đoạn 2 có câu

 

Người đi về mai sau

Nghe khóc lóc xe tang đưa sầu

Nghe bóng xế khăn sô bay ngang đầu...

 

Phạm Duy bảo thay hai chữ khóc lóc thành lóc cóc

 

Nghe lóc cóc xe tang đưa sầu 

 

tôi điếng cả người.

 

Cách đó mấy dòng có câu

 

 Người về dần trong cõi mồ

Như lúc nào vừa mới ra đời

Chào đón xuân tươi ngày mới

 

Anh dặn sửa chữ mồ thành chữ 

 

Người về dần trong cõi

 

Đến đây thì tôi hiểu tâm trạng của ông già ngoài chín mươi, ông nhìn cái chết thản nhiên rồi, không khóc lóc nữa mà chỉ có tiếng lóc cóc của chiếc xe ngựa đưa tang, có thể nghe cũng vui tai ! Và cõi mồ thành cõi mơ, diễn tả một tâm thức nhẹ nhõm thảnh thơi lắm rồi...

Rõ ràng đó là lời nhắn gửi cuối cùng của Phạm Duy cho tôi : Tôi đã nhìn ra cõi đó rồi, chẳng sao cả, thích lắm...


(Ghi thêm vào ngày 3 tháng Năm, 2022)