Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Phạm Thảo Nguyên: Áo Dài Lemur và bối cảnh Phong Hóa & Ngày Nay

Tòa soạn Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được cuốn sách mới xuất bản của một thân hữu, chị Phạm Thảo Nguyên, viết về một thành tựu trong các cải cách của báo Phong Hóa - Ngày Nay trong thập niên 30 của thế kỷ trước : chiếc Áo Dài Lemur. 
Chúng tôi hân hạnh đăng lại dưới đây Tựa của cuốn sách, bài Cõi Đẹp của Gs Cao Huy Thuần, như một lời giới thiệu cao nhã công trình của họa sĩ Lemur Nguyễn Cát Tường, cha đẻ của chiếc áo dài Lemur đã mở ra một thời đại mới đem lại vẻ đẹp cho y phục phụ nữ Việt Nam suốt gần một thế nay.

CÕI ĐẸP


Cao Huy Thuần


Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật - nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Bùi Vĩnh Phúc: Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (Kỳ cuối)*

(Bài thuyết trình tại cuộc “Triển lãm và Hội thảo Tưởng niệm Trương Vĩnh Ký” tại nhật báo Người Việt, Westminster, Calif., USA, ngày 8 tháng 12, 2018)
(Tiếp theo và hết)
Quyển ‘Kim, Vân, Kiều Truyện’ tái bản năm 1911, với nhiều hình minh họa Việt hóa các nhân vật trong truyện.
*“Thoắt đâu thấy một tiểu kiều. Có chìu phong-vận, có chìu thanh-tân” (dị bản: có chiều). Trương Vĩnh Ký giải thích từ “Phong-vận” là xinh tốt , còn “Thanh-tân” là sạch sẽ. Trong quyển “Truyện Kiều” do Trần Nho Thìn chủ biên & Nguyễn Tuấn Cường khảo dị, chú thích, bình luận, ta thấy ghi:
Phong vận: yểu điệu, đoan trang; Thanh tân: còn trong trắng, còn son, chưa có chồng con. 

Ta thấy cách giải thích gọn ghẽ và giản dị, có phần mộc mạc của TVK, là để nhắm vào mục đích sao cho người dân hiểu được ngay những từ Hán-Việt có vẻ cao sang. Ông không dùng những từ Hán-Việt khác, như chúng ta sau này, khi trình độ Việt ngữ của người Việt đã được nâng cao, để giải thích một từ gốc Hán-Việt. Ông tìm những từ giản dị, dễ hiểu, thậm chí là mộc mạc, dân dã để giải thích. Bởi thế, ta không nên nói, như cách phê bình của Phạm Quỳnh sau này, là sách của TVK là để viết cho trẻ con đọc. Phạm Quỳnh là một

Tôn Nữ Thu Nga: tình yêu



Mong một ngày em đến, nắng mênh mang đầy sân
Và một ngày em đi. Có trăng soi đường về 
Xin mỗi lần em khóc, gió mưa qua hồn anh
Và giọng cười em vui, với chim non chuyền cành

Khi bầu trời đen tối ngàn sao sáng lung linh 
Em dịu dàng nắng sớm, ấm hồn ai bình minh
Mùa xuân xanh lá non, môi mềm như lá mới 
Mùa thu lá huy hoàng, lá bay lòng chơi vơi 

Xin đi chung đường dài, dìu nhau trong đời sống 
Em ơi thôi đừng ngại, nắm tay nhau cùng đi 
Chia mặn nồng cay đắng, khi lệ ngập tràn mi
Tình yêu như suối ngọt êm ái chảy trong rừng 
Một ngày xuân nắng ấm, sẽ về... em biết không? 

11/30/2018

Đàm Duy Tạo: Chương 16 - Kim Vân Kiều Đính Giải

Kim Vân Kiều Đính Giải
Hương Ngạn Đào Tử Đàm Duy Tạo
trước tác năm 1986
(Thứ nam) Đàm Trung Pháp hiệu đính năm 2018
o o o O o o o 
CÂU 1371 ĐẾN CÂU 1472
“Nghiêm phụ phân ly, Phủ quan tác hợp”


1371. Mượn điều trúc viện thừa lương, [1]
Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi.
1373. Chiến hòa sắp sẵn hai bài,
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la.
1375. Bắn tin đến mặt Tú bà, [2]
Thua cơ, mụ cũng cầu hòa, dám sao.
1377. Rõ ràng của dẫn tay trao, [3]
Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công. [4, 5]
1379. Công tư đôi lẽ đều xong, [6]
Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai.
1381. Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông.
1383. Hương càng đượm lửa càng nồng, [7]
Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen. [8, 9]
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen, [10]
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng. [11]
1387. Giậu thu vừa nảy chồi sương, [12]
Xe bồ đã thấy xuân đường đến nơi.
1389. Phong lôi nổi trận bời bời, [13]
Nén lòng e ấp tính bài phân ly.
1391. Quyết ngay biện bạch một bề, [14]
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.
1393. Thấy lời nghiêm huấn rành rành, [15]
Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu.
1395. Rằng: “Con biết tội đã nhiều,
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. [16]
1397. Trót vì tay đã nhúng chàm, [17]
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.
1399. Cùng nhau vả tiếng một ngày, [18]
Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.
1401. Lượng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc điên thôi có tiếc mình làm chi.” [19]
1403. Thấy lời sắt đá tri tri, [20]
Sốt gan ông mới đơn quì cửa công.
1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng, [21]
Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra. [22]
1407. Cùng nhau theo gót sai nha,
Song song vào trước sân hoa lạy quì. [23]
1409. Trông lên mặt sắt đen sì, [24]
Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời: [25]

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Bùi Vĩnh Phúc: Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (*)

(Bài thuyết trình tại cuộc “Triển lãm và Hội thảo Tưởng niệm Trương Vĩnh Ký” tại nhật báo Người Việt, Westminster, Calif., USA, ngày 8 tháng 12, 2018)
Giáo sư Bùi Vĩnh Phúc đang thuyết trình trong buổi hội thảo

.1.


Mục đích của bài này là trình bày một số tìm tòi, suy nghĩ của người viết về một vài nét đặc thù và thú vị trong ngôn ngữ Việt, cùng với việc tìm hiểu về một số biến đổi cả trên mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của một số từ ngữ trong tiếng Việt, kể từ giai đoạn phôi thai của nó đến bây giờ.

Sự tìm hiểu và suy nghĩ ấy được thực hiện, khởi đầu, qua việc đọc quyển Kim, Vân, Kiều Truyện, bản phiên âm đầu tiên Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ chữ Nôm qua chữ Quốc ngữ, của Trương Vĩnh Ký. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một nguồn sáng, về mặt ngôn ngữ văn học, của người Việt. Chúng ta hãnh diện vì Truyện Kiều, không hẳn vì những khía cạnh triết lý, đạo đức hay xã hội, v.v., trong truyện mà người đời sau đã tìm ra hoặc gán cho nó. Chúng ta hãnh diện vì đã có một nhà thơ Việt, dùng chữ nghĩa của dân tộc, một cách hết sức tuyệt vời và điêu luyện, với những chiều sâu trong ý nghĩa và sự lóng lánh của chữ, để diễn tả câu chuyện. 

Vũ Thăng Long: Đá Bóng, Tuổi Trẻ Và Lòng Yêu Nước - Về Một Thời Tuổi Trẻ Miền Nam 

Gửi từ California, 09/12/18

Ban ngày bên Mỹ vặn được YouTube xem buổi tối Saigon, ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê sữa giống như các lần ngồi ở quán Continental, nơi nổi tiếng của những lần họp mặt bạn bè xưa, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng chung quanh Nhà hát Thành phố của những người trẻ tuổi bây giờ. Họ đang diễn hành, la hét ầm ĩ, ngay cả vài cô ăn mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy đắt tiền hiệu SH hay Honda kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn bán kết lượt về thắng Phi luật Tân, để sửa soạn trận chung kết với Mã Lai tuần tới mong tái chiếm cúp vàng đã chờ từ 10 năm nay, sau lần đoạt cúp Suzuki năm 2008. 

Họ hét to sẵn “Việt nam vô địch” như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động. Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là “non trẻ” này khi tuổi trung bình của các nhóm trẻ chỉ là 24 tuổi.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những “mô tô bay” như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường “xuống đường” tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận đá bóng chung kết SEA Game hay Cúp vô địch Đông Nam Á thắng “kẻ địch truyền kiếp” thường là đội bóng Thái Lan, và tuần tới là đội Mã Lai. Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng.

Cảng Sài Gòn năm 1866. Nguồn ảnh: ASEMi - UNSA

Thy An: Lưỡi kiếm Damocles

quảy một bao nặng trịch lên đồi 
vứt bỏ xuống thung lũng đầy xấu xa phía dưới
mượn cớ mắt mờ tai điếc
chẳng muốn nghe những rỉ rả đêm ngày
chứng nhân của bất lương và trù dập
con trùng con dế cũng đau lòng, nói chi con người
con chim đứng trên song sắt
hót cho người tù thời đại,
cô đơn lãnh án mà không hiểu vì sao
lòng yêu nước trả giá quá đắt…
kẻ tình nhân níu kéo nhau giấu mặt
yêu trong vội vã
chẳng biết ngày mai ra sao
có lẽ nào
tình yêu cũng nhớp nhúa theo cơn bão của quỷ ?

bắn phát đạn vào lương tri
như bắn vào một thùng đầy rác rưới
ngụp lặn không ngoi lên được
sợi dây thòng lọng quanh cổ
sống lo âu với những dấu hỏi to lớn
khác chi lưỡi kiếm Damocles thời Hy Lạp
sớm chiều có thể mất đầu
lơ lửng,
thân phận con người quá rẻ…

thân già đi về đâu chiều mưa lất phất
nhìn đứa trẻ lớn lên từ hoang tàn
trường học, nhà thờ, chùa chiền biến dạng
cuối đường hầm chỉ còn le lói
chút ánh sáng ngục tù
nguy hiểm và đau đớn nhất vẫn là ngục tù lương tâm :
thở cùng hơi thở nhưng không cùng ý thức…
ai cũng nuôi giấc mơ đẹp cho quê hương
ngày hòa bình với những hoan hô
bị chà đạp bởi bao trí óc nhỏ
sống cuộc đời bé giữa hí trường vĩ đại
và tấm biểu ngữ nát nhầu mang hai chữ
‘Việt Nam’

thy an

Tiểu Muội phỏng vấn nhà văn Phạm Phú Minh: Ðặt lại giá trị văn học miền Nam trong lịch sử văn học Việt Nam

LTS. Mời quý độc giả đọc lại cuộc phỏng vấn của ký giả Tiểu Muội với nhà văn Phạm Phú Minh được thực hiện trong thời gian chuẩn bị cuộc hội thảo về văn học Miền Nam cuối năm 2014. Nội dung các câu hỏi và trả lời đã cho một cái nhìn tổng quát về tình hình văn học Miền Nam trước 1975, và cũng chính nền văn học ấy đã được gìn giữ và phát triển tại hải ngoại như thế nào.

DĐTK

TM: Thưa ông, nhân dịp sắp có cuộc hội thảo về văn học miền Nam vào ngày 6 và 7 tháng 12 năm 2014 sắp tới tại Little Saigon, và được biết ông đã từng tổ chức và tham dự nhiều sinh hoạt văn học/văn hóa trước đây, xin ông cho biết một cách tổng quát các cố gắng của giới cầm bút hải ngoại về việc sưu tầm, lưu giữ và tìm hiểu vốn liếng văn học/văn hóa Việt Nam trong quá khứ.

PPM: Ðây là câu chuyện rất dài, nếu muốn hiểu vì sao mà học giới Việt Nam ở hải ngoại phải làm những việc như cô vừa nói. Nếu chúng ta là những kẻ di dân đến Hoa Kỳ, đến Pháp, đến Úc... từ những nước như Nhật, Thái Lan, Ấn Ðộ, Ðức, Ý, Mễ Tây Cơ, v.v... thì có lẽ chúng ta cũng chỉ lo sinh sống làm ăn bình thường như họ, thỉnh thoảng tổ chức các loại lễ lạt trình diễn văn hóa của nước mẹ để tưởng nhớ gốc gác, chứ còn việc nghiên cứu, sưu tầm này nọ thì đã có nước mẹ lo. Nhưng người di dân Việt Nam thì khác.

Phóng viên Tiểu Muội trong buổi phỏng vấn nhà văn Phạm Phú Minh. (Hình: Người Việt)

TM: Xin ông giải thích khác ở chỗ nào.

PPM: Ở chỗ đúng ra chúng ta là người tị nạn, chúng ta thoát ra thế giới để trốn cái nạn Cộng Sản. Từ khi Cộng Sản cai trị nửa nước phía Bắc từ 1954, họ đã ra sức phá hủy rất nhiều thành tựu văn hóa, văn học của dân tộc Việt Nam; và khi chiếm lĩnh luôn miền Nam vào năm 1975, ngay lập tức họ triệt hạ toàn bộ nền văn học chữ quốc ngữ truyền thống Việt Nam vốn đã có từ lâu, đặc biệt rất khởi sắc từ 1954 đến 1975.