Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Ngô Thế Vinh: In Retrospect - Nguyễn Văn Trung - Nhìn Lại Một Hành Trình Trí Thức Lận Đận

“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1]Nguyễn Văn Trung

*
Hình 1: trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019. [nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]

TIỂU SỬ


Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930, tại làng Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; còn có bút hiệu là Phan Mai và Hoàng Thái Linh. Xuất thân trường Dòng Puginier và chủng viện Hoàng Nguyên trước khi chuyển qua học Chu Văn An, Hà Nội. Từ 1950 đến 1955 ông được gửi đi du học Âu châu, ban đầu ở Pháp rồi qua Bỉ, đậu cử nhân triết học Đại học Louvain, Bỉ. Năm 1955 về Sài Gòn dạy trường trung học Chu Văn An, và sau đó là Đại học Huế.

Năm 1961 ông trở lại Bỉ, trình luận án tiến sĩ về Phật Học cũng tại Đại học Louvain với đề tài: “La Conception Bouddhique du devenir, Essai sur la notion du devenir selon la Stharivanâda.”

Về nước ông dạy Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Đại học Huế. Tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ông là Trưởng ban Triết Tây phương, có thời gian được bầu làm Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sài Gòn (1969).

Khánh Hà: Mùa thu chết

Hìnnh minh hoạ, FreePik


Mùa thu chết là mùa thu đang sống
Cả đất trời vạn vật bỗng nở hoa
Sống một lần rồi tan tác lìa xa

Hẹn trở lại một mùa sau diễm tuyệt


Thu của đời nguời nhắc giờ từ biệt
Ra đi rồi là khuất bóng ngàn năm
Hạc nội mây ngàn mấy cõi xa xăm
Thanh thản tiêu diêu, không lần ngoảng lại


Đuờng trần thế còn đây sao xa ngái
Nguời đi rồi vẫn để lại dấu chân
Từng con đuờng, từng hè phố bâng khuâng
Sớm nắng chiều mưa, còn ai đứng đợi


Cuối nẻo đuờng sao nghe vời vợi
Kỷ niệm gánh gồng một kiếp nhân sinh

KH



Nguyễn Đặng Bắc Ninh: Một Thoáng Về Hoàng Cầm

Nhà thơ Hoàng Cầm và tác giả

Hà Nội 1994:

Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo.

Suốt thời gian chúng tôi ở Hà Nội ông đến thăm nhiều lần vì khách sạn chúng tôi ở gần nhà ông trong khu phố cổ. Tôi nhớ một buổi sáng ông dẫn chúng tôi đi ăn bún riêu ở ngõ Tạm Thương. Lâu rồi không được ăn cua đồng, thấy ngon tuyệt. Ông tặng chúng tôi mấy quyển thơ và một cuốn băng do ông đọc. Và cả những lời thơ ông viết trên cuốn Tự Điển Việt Nam tặng chúng tôi, mang nặng hình ảnh quê hương:

Ta con chim cu về gù dặng tre
đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng
đưa mây lành những phương trời lạ
về tụ nóc cây rơm…

Trịnh Thanh Thủy: Cung Tích Biền, một đời hoa sương cỏ

Trong tuyển tập "Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử" nhà văn Cung Tích Biền đã cảm nhận đời mình là "đời hoa sương cỏ" và ông đang đi cho hết một đời hoa sương mỏng manh, bé nhỏ ấy. Tuyển tập này ghi lại toàn bộ các cuộc phỏng vấn ông và là một trong năm cuốn sách được ra mắt hôm nay. Bốn đứa con tinh thần khác của ông được trình làng là "Nhạc điệu của bầy Ong", "Bạch hoá", "Thằng Bắt Quỷ", và "Mùa xuân cô mơ Bay".

Nhà văn Cung Tích Biền và phu nhân Hoàng Thị Kim

Một sáng Thứ Bảy, giữa mùa thu Cali của quận Cam, quán Café & Té xinh xắn, thanh nhã được đón tiếp rất nhiều bằng hữu của Cung Tích Biền đến tham dự buổi ra mắt sách rất đặc biệt này. Đặc biệt là vì ông chưa từng ra mắt sách tại VN hay bất cứ nơi nào trước đây. Buổi RMS được tổ chức với mục đích chính là giới thiệu sách mới in cùng bạn bè đã lâu không được gặp nhau, nên không có người ngoài tham dự.

Từ sáng sớm nhà văn Đặng Thơ Thơ và hoạ sĩ Paulina Đàm đã có mặt để giúp bà Hoàng Thị Kim là phu nhân của nhà văn Cung Tích Biền sắp xếp mọi thứ, sẵn sàng cho một buổi ký sách và đón tiếp bạn bè. Nhiều nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ và cả ca sĩ cũng có mặt. Những hiện diện ghi nhận được phía các nhà văn gồm có: Nhã Ca, Đặng Thơ Thơ, Phạm Phú Minh, Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Y Thư, Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương; phía các nhà thơ có Đặng Phú Phong, Thành Tôn, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần, Lê Đình Nhất Lang; bên hoạ sĩ có Nguyễn Đình Thuần và phu nhân, hoạ sĩ Paulina Đàm, cùng sự góp mặt của nhà báo Thanh Huy; ca sĩ Thu Vàng và phu quân Thân Trọng Mẫn. Một vài người bạn thân như Mai Tất Đắc và phu nhân, Lê Phước Bốn, Lê Hùng, Nguyễn Hà và phu nhân, Nguyễn Thị Phương Lan là em gái nhà văn Phùng Nguyễn và phu quân là Thắng….

h o à n g x u â n s ơ n: Biền

B I Ề N,
T Í C H T Ụ

[mừng hội sách Cung Tích Biền]



thao thao ừ*

viết

thaothao

viết bất tuyệt. viết

mời chào thế nhân

thập bát sung mãn như thần

dư vài tuổi lẻ

nắn gân cho đời


h o à n g x u â n s ơ n

tháng mười, 2021

*Thao: tên thật của tác giả CTB, và nhà xuất bản tên Thao Thao

Trần Thị Nguyệt Mai: Chúc mừng Thư Quán Bản Thảo Hai Mươi Tuổi

Thời gian như ngựa chạy tên bay. Thoáng chốc, TQBT đã hai mươi tuổi. Chẳng thể ngờ! Những người chủ trương dù lúc ban đầu đang ngấp nghé ở tuổi hưu xứ Mỹ nhưng vẫn còn mạnh tay khỏe chân, đầu óc, trái tim còn nồng nàn chữ nghĩa. Nay cộng thêm hai mươi năm, nghĩa là hai mươi lần sức lực đã giảm, đi đứng đã phải cần đến cái chân thứ ba, cộng thêm bệnh tật thời “máy móc rệu rạo” hoành hành. Họ chỉ còn lại trái tim mạnh mẽ với tình yêu văn chương và một tình bạn keo sơn, gắn bó. Văn chương thật diệu kỳ và thật đẹp biết bao!

Điển hình trong suốt ba ngày của tháng 7 năm nay, từ ngày 14 đến ngày 16, “nhóm Doãn Dân” gồm mười người từ những tiểu bang xa xôi đã cùng tụ họp đến nhà anh Trần Hoài Thư mang thêm sinh khí, tiếng nói cười nồng ấm cho ngôi nhà đã từ lâu hiu quạnh vì vắng bóng hiền nội của anh hiện trú ngụ trong nursing home. Họ đã giúp vệ sinh nhà cửa, vừa nói chuyện văn thơ: về nhà văn Doãn Dân, về những lần làm báo, đi sưu tập ở thư viện các Đại học Cornell và Yale của Hoa Kỳ, ... Ba ngày ấy đã được chị Doãn Cẩm Liên – con gái nhà văn Doãn Quốc Sỹ – ghi lại trong bài Thư Quán Bản Thảo và Trần Hoài Thư “Lì” đi trên số TQBT 94, tháng 8/2021:
... ba ngày dường như dài vô tận, với tràn trề âm thanh vui, với dư thừa màu xanh tưng bừng. Chúng tôi nói cười ròn tan, đọc thơ nói thơ, kẻ tung người hứng. Ai nấy đều vui vì có nhau.

Ba ngày khó quên

Cháu hỏi số 46
Chủ đề về Doãn Dân
Chú nói chú không còn
Nhưng sẽ in cho cháu
Thế rồi hai chú cháu
Cùng nhau xuống căn hầm
Cháu xếp giấy xếp trang
Chú dán bìa dán gáy…

*Song Thao: Vịt

Tượng ba chú vịt tại quê hương của foie gras Perigord (hình do tác giả chụp)

Vào một tiệm ăn Việt, mở tờ thực đơn, nếu có món bún măng vịt là có tôi. Tôi đã nghiện món tủ này đủ nơi đủ chỗ bên Canada cũng như bên Mỹ. Bên Mỹ, nhất là khu Little Saigon thì khỏi nói. Hầu như tiệm nào cũng có, tiệm nào cũng ngon. Không biết có phải vì ăn thịt vịt hay quên không mà tôi không nhớ tên một tiệm nào ở khu thủ đô của người Việt hải ngoại này. Có lẽ vì tiệm nào cũng sêm sêm như nhau. Tại Portland, đất của ông Từ Công Phụng, cũng có tiệm bán bún măng vịt rất ngon. Ông nhạc sĩ này dẫn tôi tới ăn nên tôi cũng chẳng cần nhớ tên tiệm. Bún măng vịt ngon thịt phải dày, mềm và đậm đà nhưng quan trọng là, theo khẩu vị của tôi, thịt phải để riêng trong một đĩa gỏi có nước mắm gừng. Chính đĩa gỏi này mới làm nên sự nghiệp của bún măng vịt. Thiếu nó là vất đi. Tại Vancouver, Canada, có nhiều tiệm đạt được tiêu chuẩn này. Nhưng tại Montreal chúng tôi thì hầu như không có tiệm bún măng vịt nào ra hồn. Trước khi có dịch Covid, có một tiệm mới mở trên đường Saint Laurent đạt được mức bún măng vịt ngon. Sau thời gian đóng cửa vì dịch, tiệm phẹc-mê-bu-tích vĩnh viễn luôn.

Thịt vịt không phải thứ hiếm ở Montreal. Tại các chợ tây cũng như chợ Việt, vịt của Lac Brome bán ê hề. Lac Brome chỉ cách thành phố Montreal chừng một tiếng lái xe là nơi nuôi vịt quy mô. Thành lập vào năm 1912, họ chuyên nuôi giống vịt Bắc Kinh. Vịt Bắc Kinh?

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

Trần Mộng Tú: Chùm Thơ Năm Chữ

Hình minh hoạ, Frepik

Lá Rơi


Một chiếc lá vừa rơi
Hai chiếc lá cùng rơi
Thôi em đừng ngờ vực
Mùa Thu đến thật rồi.

Hạt Nắng


Hạt nắng rơi rất tròn
Trên chiếc lá phai xanh
có con chim ngực đỏ
mổ hạt nắng rất nhanh

hạt nắng vỡ làm đôi
một nửa còn trên lá
một nửa chim mang đi
lá nghiêng mình ngơ ngác

Hình như Thu đã về.

Mưa Bụi


Xòe bàn tay ra hứng
Mưa lấm tấm trên tay
đường chỉ tay co lại
Trông giống như nụ cười

Mùa Thu Tới


Chân bước qua thềm nhà
nắng cũng vào tới cửa
nồi cơm ai vừa thổi
Cùng chín với mùa Thu.

Tiếng chim


Chim mổ trên mái nhà
Nghe như tiếng gõ cửa
ngập ngừng rồi bỏ đi
Không phải đâu, Thu về.

Khi Trở Về


Cầu thang thư và báo
chữ tràn ra đợi người
những phong thư chưa mở
ai lạ ai quen mình
những tờ giấy quảng cáo
Rao vặt cuộc tử sinh.

Mưa


Những hạt mưa lên tiếng
gọi mãi sợi tóc về
tóc đã đi theo nắng
Mưa như lệ đỏ hoe

Mặt Trời


Mặt trời gay gắt quá
Nên không soi rõ em
đốm lửa trong mắt anh
Một đời em soi suốt.

Trong Gương


Tôi nhìn tôi trong gương
Hai tôi hay là một
Hai mặt đối mặt nhau
Thời gian làm giám khảo

Nằm Mơ


Trong mơ thấy mình trẻ
thức dậy thấy mình già
muốn nằm xuống mơ lại
Trên gối tóc trắng phau

Trăng


Người đàn bà thức dậy
bỏ đi lúc mờ sương
vết trũng trên mặt giường
Còn ngập đầy bóng trăng.

Chiếc Lá


(Gửi BH)

Chẳng đọc được điều gì
Ngoài màu đỏ im lặng
chiếc lá ngậm câu Kinh
Tôi ngậm tên một người.

tmt-Tháng 10- 12- 2021

Trịnh Y Thư: Trần Vũ - Phép tính của một nho sĩ

1.

Hai phẩm cách đáng kể nhất của một nhà văn là ngôn ngữ và sự tưởng tượng. Nhà văn Trần Vũ – qua tập truyện Phép tính của một nho sĩ (Công ty sách Nhã Nam liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, 2019) – hình như có cả hai. Đây không phải là cuốn sách sáng tác theo công thức có sẵn, kể lể một câu chuyện mà người đọc chưa đọc hết mươi dòng đầu đã biết tác giả muốn nói gì, kết cục ra sao. Nó không phải là cuốn sách đọc qua là quên ngay, chẳng lưu lại trong bộ nhớ người đọc được vài sát-na. Nó khó khăn bắt người đọc trăn trở cùng nó, cùng chiêm nghiệm những góc cạnh đầy gai nhọn nhức nhối từ lịch sử đến siêu hình; từ bản thể đến bản nguyên con người; từ dục vọng thấp hèn đến lý tưởng cao vợi. Nó là cuốn sách đầy cá tính – You either hate it or love it, there is no midway here, no equidistance – để từ đó, hiển lộ một tính cách khai phá cực đoan hiếm thấy trong ngôi nhà văn chương Việt Nam. Những truyện ngắn của Trần Vũ trong tập truyện, tác giả viết không phải để làm cái gì phải đạo, viết không để làm vừa lòng ai, thậm chí viết để thách thức, để đưa ra một Cái Khác, một Lịch sử khác, một Thực tại khác. Bạn hoặc đồng ý, hăng hái tán thành, hoặc phẫn nộ phản đối, mà theo tôi, cả hai phản ứng đều là chỉ dấu cho sự thành công của ngòi bút, bởi như nhà văn Franz Kafka từng nói, “Một cuốn sách phải là chiếc búa tạ dùng để đập vỡ tan biển cả đóng băng bên trong chúng ta.”

Bao trùm trên tất cả những điều đó là thủ pháp siêu hư cấu mà tác giả sử dụng tới hạn trong hầu hết các truyện. Siêu hư cấu là một thủ pháp văn chương, trong đó phần tự sự, miêu thuật cũng như nhân vật luôn luôn nhắc nhở người đọc rằng những gì anh/chị đang đọc chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng, hư cấu, chẳng có gì thực. Siêu hư cấu phá bỏ bức tường ngăn chia giữa người viết và người đọc, xóa mờ đường biên, giải trừ tính lưỡng phân, giữa thế giới thực tại và thế giới hư cấu. Nó trực tiếp nhắm thẳng vào người đọc, khiến người đọc có thể tra vấn chính văn bản của câu chuyện. Hơn nữa, siêu hư cấu cho phép tác giả đắp thêm một tầng tưởng tượng bên trên tầng tưởng tượng thông thường thường thấy trong bất kỳ một tác phẩm tiểu thuyết hay truyện ngắn nào. Hiệu ứng của nó là một trải nghiệm văn chương bất chấp quy ước, gây thú vị cho người đọc, và làm bật mở những chiều kích bình thường không cảm nhận được. Sử dụng một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không gượng ép, thủ pháp siêu hư cấu đánh đổ rào cản nhận thức quy ước để sự thật hiển lộ, để đưa ra cái nhìn khác – tuy thậm xưng, gay gắt, nhưng lại vô cùng chính xác và đau đớn – về thân phận con người. Nói như thế bởi tôi đang nghĩ đến cuốn tiểu thuyết Chiến hữu trùng phùng của nhà văn Mạc Ngôn.

Gió ViVu: Abdulrazak Gurnah Được Trao Giải Nobel Văn Học - 2021

Abdulrazak Gurnah,
Hình 
PalFest - originally posted to Flickr as Abulrazak Gurnah on Hebron Panel,
CC BY 2.0, Wikipedia 

Abdulrazak Gurnah - nhà văn Anh gốc Tanzanian - người da đen đầu tiên đoạt giải Nobel văn học sau gần hai thập niên (sau Toni Morrison 1993) - ông được vinh danh là người cương quyết vạch trần thực chất của chủ nghĩa thực dân và niềm cảm thông sâu sa với số phận của những người tỵ nạn vì sự khác biệt về văn hóa lẫn cuộc sống ở mỗi đại lục.

"Đánh mất một quê hương" rồi đau khổ, nhớ thương, hoài niệm về quê xưa đã tạo cho Gurnah những nguồn cảm hứng để viết lên những tác phẩm để đời của ông."

Abdukrazak Gurnah sinh ngày 20 tháng 12 năm 1948 tại Sultanate, Zanzibar - bây giờ gọi là Tanzania (thuộc phía Đông Phi Châu - Ấn Độ Dương). Ông là người tỵ nạn đến Anh quốc sau cuộc nổi dậy ở Zanzibar vào thập niên 1960. Ông theo học tại University of London, sau đó lấy bằng tiến sĩ tại University of Kent, và ông cũng giảng dạy tại trường đại học này cho đến khi về hưu.

Sinh ra và lớn lên tại Zanzibar, một quần đảo ngoài khơi của Tanzania, Châu Phi. Từ thuở nhỏ, Gurnah không bao giờ nghĩ đến ông sẽ trở thành một nhà văn, vậy mà nay ông đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thế giới, đoạt giải Nobel văn học năm 2021.

Gió ViVu: Maria Ressa Được Trao Giải Nobel Hòa Bình - 2021

Maria Ressa
By Joshua Lim (Sky Harbor) -
Own work, CC BY-SA 3.0 ph,
Wikipedia
Maria Ressa - một phụ nữ Mỹ gốc Philippine - một nhà báo - một nhà tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận - đã được trao giải Nobel hòa bình. Bà Ressa là người đàn bà đầu tiên đoạt giải Nobel năm 2021. Cùng nhận giải với bà Ressa còn có nhà báo Dmitry Muratov, người đứng đầu tòa báo độc lập "Novays Gazeta"ở Nga.

Bà Maria Ressa sinh ngày 2 tháng 10 năm 1963 tại thủ đô Manila - Philippine. Cha mất lúc bà lên một tuổi. Bà theo mẹ đến Hoa Kỳ sống từ nhỏ. Bà tốt nghiệp tại Đại Học Princeton với hạng danh dự về tiếng Anh.

Đoạt giải Nobel về hòa bình là một vinh dự và cũng là một thắng lợi lớn lao của bà Ressa với sự tranh đấu không ngừng cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Philippine. Hội nhà báo hải ngoại của Philippine cũng hy vọng với giải thưởng danh dự này sẽ làm dư luận thế giới quan tâm đến sự đấu tranh đầy khó khăn, gian khổ của họ là hằng ngày luôn bị tấn công và đe dọa trên mạng thông tin xã hội. Những tòa báo trong nước bị kiểm duyệt, những nhà báo bị đánh đập, bắt bớ, tù đày và giết hại.

Philippine là một quốc gia thật đáng sợ đối với những nhà báo trên thế giới, vì những kẻ giết người rất ngang nhiên và không hề bị xét xử trước pháp luật.

Hội Nhà Báo Thế Giới đã xếp hạng: Philippine đứng hàng thứ ba trên thế giới là một quốc gia chuyên đàn áp, gây hại cho giới báo chí, chỉ thua sau Iraq và Mexico.

Trụ sở báo của Philippine ở Brussels, Bỉ đã đưa tin có 159 nhà báo đã bị giết ở trong nước Philippine từ năm 1990 đến 2020.

Đoạt giải Nobel về Hòa Bình - bà Maria Ressa đã thề quyết đấu tranh cho sự thật, cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Philippine và cho nền hòa bình lâu dài. Đối với bà Maria, việc thu thập tin tức là quan trọng hàng đầu và những người đưa tin phải được tự do nói lên sự thật, được luật pháp bảo vệ, và không nhượng bộ trước mọi bạo lực chống đối hay ngăn chận của chính phủ đương quyền muốn bưng bít sự thật.

Cung Tích Biền: Một Thời Nên Vắng Mặt

một

Lời âm u khói núi

Hãy rộng lòng với tôi những điều tôi đã nói.
Hãy hiểu cho tôi những điều tôi chưa nói.
CTB

Gọi rằng, tập thể những con người có-mặt-chúng-tôi, là một khu rừng. Rừng rú ấy non thế kỷ qua chỉ toàn cây trái độc. Cây này tỏa chất/khí độc làm tàn héo cây kia. Cây nọ rụng trái/giống độc xuống làm què quặt mầm non khác.

Cuộc anh em choảng nhau kịch liệt đang tới hồi cực điểm. Vừa mấy tháng qua là cuộc chơi nhãn hiệu Tết Mậu Thân. Một cuộc nhang khói quanh co, lẫn ngậm ngùi.

Quanh co, vì suy tới nghĩ lui vẫn ngần ấy nội dung tranh chấp. Có khi tới trăm năm cũng chỉ vậy. Có khi rối mù, tàn tật trí não hơn.

Ngậm ngùi qua-về, vì cái nôi mẹ ru con có giới hạn quá hẻo. Mẹ ru tuổi thơ. Tuổi lớn, tụi con chúng tự tính sổ với nhau. Bên này bên kia một lũy tre, cách một bờ mép chiến hào, qua một màn sương bờ lau sậy, vẫn ngần ấy anh em.

Cha lăn đùng rồi, có anh con cầm dao găm thay. Cha già nua, có anh con thông minh hơn nói hộ. Vẫn ngần ấy nội dung, ông cao từng nói, ông cố đã nói, ông nội từng khẳng định, cha của mình có bổ sung, tới mình thay mặt Buổi-hôm-nay, nói, phải đúng bon vậy. “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Tôi ngồi rất lâu trong đêm thâu. Nghĩ về khói hương một ngày đầu năm mới. Những đóa hoa sẽ nở trong mùa xuân tới.

Người ta đồn rằng có những bà mẹ còn ôm cuốn kinh Phật trong lòng tay, và nhiều em bé còn mang theo món đồ chơi quà tết cha mẹ cho trước khi tử nạn.

Ngự Thuyết: Ra Đi (Trích từ MẸ, xuất bản 10/2021, thêm nhan đề)

Một buổi trưa mùa đông. Trời lạnh lẽo dù vẫn còn sót chút nắng vàng vọt, yếu ớt. Đã ba mươi ta, năm hết tết tới. Làng xóm vắng teo. Mọi người đều lui cui quanh quẩn trong nhà lo sửa soạn đón ngày Tết Nguyên Đán. Học trò con nít, khách hàng nghèo nàn thường xuyên của mẹ, đã nghỉ học, mẹ vẫn nách rổ khoai sắn một mình đi lang thang như người lưu lạc ngay trong làng xóm của mình. Không biết đi đâu, không mục đích.

Ở nhà thì buồn quá. Bất cứ cái chi, nơi cánh cửa, góc xó bếp, trên bàn thờ, dưới mái tranh, trong chiếc phản, ngoài sân cỏ, cũng đều nhắc nhở tới hình bóng của chồng, của con. Đi ra ngoài đường khuây khoả hơn. Thì phải đi. Hơn nữa, biết đâu lại “gặp mối”, kiếm thêm năm đồng ba trự đỡ khổ.

Đôi chân uể oải, rã rời, tuy nhiên, cũng còn đủ sức đưa mẹ tới nơi nghỉ trưa quen thuộc hàng ngày.

Mẹ đặt rổ khoai sắn ngay dưới gốc cây bàng cành lá xác xơ. Vài ba con kiến mon men bò tới ngay. Mẹ lượm một chiếc lá bàng rụng đỏ ối cầm khua khua đuổi mấy con kiến đi chỗ khác. Chúng lì lợm, bò ngay lên chiếc lá đang xua đuổi chúng. Mẹ ném chiếc lá đó về phía gốc cây bàng, lượm lá khác để đuổi kiến. Mẹ không muốn sát sanh. Mẹ luôn luôn nghĩ rằng mình tu nhân tích đức, không giết hại ai cả, dù một con kiến, thì con sẽ mau thoát được mọi hiểm nguy để về với mẹ.

Đằng sau cây bàng, một cái miếu nhỏ bỏ hoang lâu ngày. Mái ngói nhiều nơi đã vỡ; bốn tường đều rêu phong, nứt nẻ; bàn thờ không đèn, không bát nhang, vôi loang lổ lâu ngày xám, đen. Một con chim bé nhỏ từ trong vòm cây bỗng kêu lên mấy tiếng, rồi vụt bay đi, bay xa, bay qua bên kia con hói. Chim chi rứa, mẹ không biết tên. Mẹ nhìn theo cho đến khi mất dấu chim bay, rồi ngồi bệt xuống đất trong lòng chiếc nón lá rách.

Mẹ có nhớ rõ bữa ni ba mươi Tết. Không chừng con chim nó muốn nhắc mình đi qua cồn mồ thăm “ba hắng”. Mà nhắc nhở như rứa là “dư hơi” thôi, mẹ nói lên thành tiếng. Vì chiều ni ba mươi Tết làm răng mình không qua được, mà còn nhắc khéo. Tức cười, mẹ lầm bầm nói chuyện với con chim đã bay xa. Khi không có ai trước mặt, mẹ thường nói năng lẩn thẩn như người mất trí.

SÁCH MỚI NHẬN

Diễn Đàn Thế Kỷ vừa nhận được các sách do tác giả hoặc nhà xuất bản gửi tặng sau đây :

Vũ Mạn Tạp Lục Thư, nguyên văn chữ Hán của Ôn Khê Nguyễn Tấn, xuất bản lần đầu năm 1898,
do Nguyễn Đức Cung sưu tầm, khảo cứu, dịch và chú giải, 526 trang,
do nhà xuất bản Hà Nội ấn hành.