Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Bùi Văn Phú: Vĩnh biệt Du Tử Lê, ngôi sao của thơ cách tân và hoà giải

Từ phải: Giảng viên Việt ngữ Trần Hoài Bắc, Du Tử Lê cùng vợ Phan Hạnh Tuyền và Jimmy Tiến Phan tại Đại học U.C. Berkeley đầu thập niên 2000 (Ảnh: Jimmy Tiến Phan)
Một sao sáng trên bầu trời thi ca Việt Nam vừa vụt tắt. Nhà thơ Du Tử Lê đã qua đời tối thứ Hai 7/10/2019 tại Quận Cam, California.

Nhắc đến Du Tử Lê, giới văn học nghệ thuật nhớ đến một thi sĩ có sáng tác trải dài hơn 60 năm, từ quê nhà ra đến hải ngoại. Ông bắt đầu làm thơ khi tuổi mới hơn mười và có sáng tác đầu tay được đăng trên tạp chí văn học Mai năm 1958, lúc 16 tuổi với bút danh Du Tử Lê. Năm 1973 ông đoạt giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc Việt Nam Cộng hoà thể loại thi ca, với tập thơ “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”.

Rời nước trong biến cố 30/4/1975, nhà thơ đến Mỹ định cư tại Quận Cam, California cho đến ngày qua đời.

Một trong những bài thơ đầu tiên trong đời tị nạn, ông viết từ trại Camp Pendleton:

“em đâu biết tôi có những giấc mơ
buổi sáng, camp Pendleton, xếp hàng, đợi bữa
có rất nhiều chuyến xe buýt miễn phí
nối liền Processing Center với Trại Một
người con gái ốm o ngồi cùng băng ghế
hỏi có phải tôi là người mới tới, vài hôm…”

Trước đó, năm 1969 Du Tử Lê đã đến Mỹ tu nghiệp về báo chí. Thời gian xa nhà ông có những vần thơ mang cảm giác xa lạ nơi xứ người:

Nguyễn Vạn An: Chuyện Liễu Trai Thời @

Hồi trẻ còn là sinh viên, muốn học hỏi về ngoại ngữ, tôi có làm một blog bằng tiếng Pháp. Trong site đó các thành viên viết cho nhau rất tử tế. Có điều là họ rất kín đáo về đời tư. Khi tự giới thiệu, chỉ cho biết là nam hay nữ, còn phần lớn không ai cho biết tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Rất ít khi cho điện thoại, còn địa chỉ thì không bao giờ cho.

Vào blog ít lâu thì một số người cùng gu nhận ra nhau, và chúng tôi thành một đảng khoảng ba bốn chục người, nam nữ trẻ già đủ cả, viết thơ, tản văn, vẽ, chụp hình, thăm thú đi lại. Khi quen nhau rồi, thì ai cũng kín đáo nói về mình một chút, và bản tính, tuổi tác, trình độ học vấn, sở thích, gia đình, dần dần lộ ra.

(ảnh minh họa, lấy trên mạng, nhân vật này không ăn nhập gì tới người trong chuyện)

Trong nhóm có một cô rất nổi tiếng, tên hiệu là cô Lan (Orchidée, Orchid). Đọc bài thì thấy ngay cô là một người có trình độ học vấn cao, đọc sách báo nhiều (sau này tôi mới biết cô là một luật sư rất thành công). Cô không làm thơ nhưng viết tản văn rất hay. Cô viết nhiều và đưa nhiều ảnh về đạo Thiên Chúa. Ngoài ra, cô rất thích tìm hiểu triết lý, nghệ thuật Á Châu, Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản. Cô viết và đưa tranh và lý luận sâu sắc về Lão Tử. Cô viết về các bình và tách trà cô mua được bên Tầu, về các loại trà đủ xứ, phân biệt cách uống trà của nguời Nhật và người Trung Hoa, đọc rất mê say. Cô cũng cho xem rất nhiều bức tranh các ikebana cô làm, rất tinh khiết, trang nhã, chứng tỏ cô có theo học về nghệ thuật này. Một lần cô đưa hình một đôi mắt xanh, to, rất đẹp, lông mi dài cong vút, dưới đầu xoã một bộ tóc vàng ánh. Chỉ có đôi mắt thôi. Chẳng biết hư thật ra sao, đôi mắt đó có phải của cô hay không, nhưng bài này cô được gần 100 cảm nhận lao xao. Cô kể chuyện đã học yoga từ nhiều năm và bây giờ là giáo sư trong một club yoga, tuy đó không phải là nghề chính. Vậy chắc là cô có một thân hình rất đẹp. 

Đàm Trung Pháp: Nét Tương Đồng Thú Vị Giữa Các Tục Ngữ Thế Giới


Mọi ngôn ngữ đều có những câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng những nhận xét sắc bén và cảnh giác khôn ngoan về kinh nghiệm sống. Tên của những câu nói ngắn gọn đó là tục ngữ trong tiếng Việt, súyu (俗語) trong tiếng Tàu, proverb trong tiếng Anh, proverbe trong tiếng Pháp, dicho trong tiếng Tây ban nha, proverbio trong tiếng Ý, và Sprichwort trong tiếng Đức. Với khả năng tóm gọn ý tứ, tô điểm cho lời văn thêm mặn mà, và chứng minh lý lẽ một cách hùng hồn, tục ngữ đóng một vai trò đáng kể trong ngôn ngữ thường nhật. 

VỀ HÌNH THỨC CẤU TẠO 


Về hình thức cấu tạo, khá nhiều tục ngữ của nhân loại giống nhau ở điểm chúng có thể được chia ra làm hai phần “đối xứng” qua một lối văn “biền ngẫu” với cú pháp và từ vựng giản dị tương ứng, âm điệu và âm vận song hành. Quả thực, các tục ngữ tương đương của xa mặt, cách lòng trong một vài ngôn ngữ khác cũng cho thấy một hình thức cấu trúc và một nội dung tương đồng với tiếng Việt: out of sight, out of mind (Anh: khuất mặt, khuất tâm trí); loin des yeux, loin du coeur (Pháp: xa mắt, xa tim); aus den Augen, aus dem Sinn (Đức: khuất mắt, khuất tâm trí); ojos que no ven, corazón que no siente (Tây ban nha: mắt không thấy, tim không cảm); và lontano dagli occhi, lontano dal cuore (Ý: xa mắt, xa tim).

Thụy Khuê: Nói Chuyện với Tạ Trọng Hiệp - Phan Khôi, người xa lạ (Tiếp theo và hết)

TK: Trong khi chờ đợi những nguồn tư liệu như thế, anh là người có thể cho độc giả biết những điều sơ khởi về Phan Khôi?

TTH: Bài tiểu sử của ông Hoàng Văn Chí cũng nói một vài điểm rất rõ là khoảng Đông Kinh Nghĩa Thục đang hoạt động, thì cụ Phan Khôi có liên lạc với cụ Phan Chu Trinh và có nhận công tác gì đó, ra Bắc. Lúc đó Phan Khôi còn trẻ lắm, vì các bạn nhớ là ông Phan Khôi sinh năm 1887. 1907 là ông mới 20 tuổi. Lúc đó hình như ông mới đậu tú tài rồi bị bắt giam cho đến năm 1911. Sau đó được thả ra. Kiếm ăn bằng nghề làm báo. Bắt đầu với Nam Phong.
Nhưng mà một người có cá tính gai góc như Phan Khôi thì khó mà hợp với cái ông ôn hòa chủ nghĩa là ông Phạm Quỳnh. Đó là không nói đến vấn đề quan điểm chính trị, Phan Khôi có những người bạn tiền bối hoặc cùng tuổi với mình, toàn là những nhà hoạt động duy tân, cách mạng cả.

Những bài bôi nhọ Phan Khôi những năm 56-57, nói cụ là người phản động từ đầu, là nói bậy. Qua những bài báo cũ còn giữ được, thì ta thấy rằng Phan Khôi suốt đời là một người tranh đấu cho duy tân, cho nhân quyền, cho phụ nữ bình đẳng, cho nhiều thứ lắm. Cụ không phải là một người an phận để chạy chọt một chỗ có công ăn việc làm cho ngon, cho béo bổ, vinh thân phì gia đâu. Cụ long đong suốt đời cũng vì con đường lập thân của cụ những năm đó. Bây giờ, ít nhất chúng ta cũng nên biết rằng trong suốt thời gian từ 1918-20 đến 40-45, cái nôi hoạt động, cái địa bàn hoạt động, cái espace sociale Phan Khôi đó là báo. Báo miền Bắc, báo miền Trung, báo miền Nam. Trong đó có tờ Phụ Nữ Tân Văn. Phan Khôi viết nhiều trong đó. Bây giờ làm sao có cách nào mà in lại một tuyển tập hàng trăm hàng nghìn bài mà Phan Khôi đã viết trong 50 năm như thế, thì ta mới có cơ sở để khám phá ra một vài nét cơ bản trong văn tài Phan Khôi.

TK: Anh có thể lược kể nội dung những văn bản mà anh hiện có về Phan Khôi?

TTH: Hiện bây giờ, tôi chỉ có trong tay một tài liệu, mà với thời gian trôi qua từ 20 năm nay, tôi thấy càng ngày nó càng quý, chứ hồi đó... Vì cái tính ưa sưu tầm của tôi, tôi đã xin tác giả là ông Thanh Lãng, hồi Thanh Lãng còn là giáo sư đại học Văn Khoa Sài Gòn. Ông ấy đứng trước vấn đề như mình đang nói chuyện đây, là muốn cho sinh viên hiểu về những tác giả mà mình nói, không thể chỉ ngồi mà bình luận với họ về cái nhân vật ấy một cách trừu tượng, ông này hay, ông kia dở, ông này yêu nước, ông kia phản bội, câu văn ông này du dương, ông kia chán ngắt. Phải đưa cho họ cái đương sự bị phê bình. Thế thì Thanh Lãng đã thử giải quyết vấn đề đó bằng cách bỏ tiền ra, thuê người ta đánh máy lại rất nhiều số báo, trong đó rất may cho chúng mình là có tờ Phụ Nữ Tân Văn mà ở đấy có gần 5, 6 trăm trang dành cho các bài của Phan Khôi. Bên cạnh cái mớ đó còn một vài xấp khác nữa. Thỉnh thoảng cũng có lạc bài của Phan Khôi vào. Hôm nay, chưa phải là lúc để tìm hiểu xem Phan Khôi, với tư cách nhà báo, đã có tài năng và tung tích gì không? Hôm nay việc đầu tiên là Thụy Khuê phải ngồi mà đọc Phan Khôi nhà báo để xem ông ấy đã có những đặc tính gì? Hôm nọ tôi đã thử đọc lướt qua rồi, đọc hết 5, 6 trăm trang của Phan Khôi. Vừa thú vị. Vừa hơi mệt. Bởi vì ông này, ông cãi nhiều khi cũng gàn, cũng bướng lắm. Giống cụ Phan Chu Trinh hay cãi. Đấy là một việc.

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh?

PHẦN 3.
Sự sống: vẫn sống được? Khó sống được? Không thể sống được?


Khi nhân học môi sinh biết dựa vào các kết quả khoa học về môi trường, thì chính nhân học môi sinh này phải cẩn trọng ngay trong ngữ văn và ngữ pháp trên các phân tích và giải thích về các hậu quả mà môi trường phải gánh chịu với sự khai thác, tiêu xài, phá hoại của con người:

· Ô nhiễm môi trường chỉ là một phần tử của tổng thể về biến đổi môi trường trong đó có biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng lên, từ đây nếu nóng thêm vài độ hay nóng thêm hằng chục độ thì trái đất sẽ ra sao? Từ đây, con người phải trả lời là tăng bao nhiêu độ thì vẫn sống được? Khó sống được? và không thể sống được? Đây là câu hỏi về sự sống đang bị đe dọa bởi nhiệt độ tăng.

· Khủng hoảng môi trường, cũng là một ngữ pháp cần sự nghiêm túc trong lý luận, vì theo định nghĩa thì khủng hoảng là hậu quả xấu làm nên một chu trình tiêu cực, và khi các hậu quả xấu qua đi thì tình trạng ban đầu sẽ trở lại như lúc đầu. Như vậy phạm trù khủng hoảng môi trường đã sai ngay khi ta dùng nó, vì nhân loại đã vào một quy trình mới sau khi làm thiệt hại môi trường, và con người sẽ không còn có điều kiện để tái tạo lại môi trường khi nó chưa bị thiệt hại, chưa bị tàn hủy.

· Thay đổi kỹ thuật khai thác, cũng là một loại ngữ pháp mang nhiều nhược điểm, vì thay đổi kỹ thuật khai thác hoặc canh tác, tức là chỉ thay đổi cách vận dụng, sử dụng, tận dụng thiên nhiên, mà không hề làm thay đổi những gì đã mất trong môi trường, trong môi sinh, trong thiên nhiên. Như vậy, những sinh vật bị diệt chủng sẽ là những mất mát vĩnh viễn, không sao lấy lại được.

Khi nhân học môi sinh cẩn trọng từ ngữ văn tới ngữ pháp, thì chính nó cũng rất nghiêm túc từ lý luận tới lập luận, từ giải luận tới diễn luận, trước những thực trạng nhân sinh sau đây:

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

Ngô Nhân Dụng: Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng không dự trận Normandie!

Người Syria và người Kurd di tản, chạy trốn khỏi cuộc tấn công của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ vào các khu vực do người Kurd kiểm soát ở phía Đông Bắc Syria hôm 11 Tháng Mười, 2019, tại thị trấn Tal Abyad, Syria. (Hình: Delil Souleiman/AFP via Getty Images)

Các chính phủ Nixon và Ford rút quân rồi ngưng viện trợ từ năm 1973 đến 1975, bỏ mặc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu cho đến khi kiệt lực. Người Việt miền Nam cay đắng mãi, tự hỏi tại sao bạn đồng minh bỏ rơi mình tàn nhẫn như vậy?

Bây giờ, có thể đoán được lý do tại sao, chút đỉnh!

Trước hết, người Mỹ vẫn nói một quốc gia không có bè bạn, chỉ có quyền lợi. Khi hai nước cùng chung một kẻ thù thì có thể hợp tác với nhau, vì quyền lợi chung. Người Việt mình thì quen gọi như thế là “đồng minh.”

Từ năm 1954, nhiều người Việt ở miền Nam nghĩ chế độ Cộng Hòa của mình là “đồng minh” của nước Mỹ. Bởi vì nước Mỹ lúc đó đang tìm cách chống Trung Cộng, không cho bành trướng khắp vùng Đông Nam Á; trong khi dân miền Nam thì chống Việt Cộng, một đảng Cộng Sản đàn em giúp Trung Cộng theo đuổi cùng mục đích đó. Thế thì hai nước là đồng minh chớ còn là chi nữa?

Nhưng bây giờ mới hiểu, có lẽ mình nghĩ như vậy là nhầm to!, Không chắc người Mỹ đã coi mình là đồng minh! Đặc biệt là chính phủ Mỹ. Khi nói đến các lực lượng quân sự đã chiến đấu cùng với quân Mỹ, người Mỹ có thể gọi đó là “bạn chiến đấu” hay “bạn cùng phe,” nhưng nhiều người không gọi là “allies – đồng minh!”

Nguyễn Nam An: Chanh


Cô bảo làm lại ngôi vườn đi. Cây lá xơ xác lắm rồi. Cô đưa cho anh tên vài loại hoa, loại cây trong đó có cây chanh ngọt! Phía sau căn gác một phòng đất đâu có nhiều. Cô nói thêm:

“Làm gì thì làm cũng phải có cây cuối cùng. Chanh!”

“Ờ chanh. Mà trồng cây đó để làm gì?”

“Em thích.”

Cô lại đòi thêm một cây như thế để trồng ở nhà. Người yêu hoa yêu trái theo mùa đã làm anh khốn đốn, chạy tới chạy lui những vườn bán cây để tìm mua cho được. Đến khi anh mang về, cô nhìn tên loại cây anh vừa tìm ra, đinh ninh là “chanh ngọt” rồi nhăn mặt: “Không phải. You trồng đi!” “Cái gì. This hybrid is thought to be a cross between a lemon and a mandarin or orange... mà không phải thì cây gì phải?” Cô giận bỏ về.

Giờ anh không còn ở căn gác nhỏ đó nữa. Cây cối anh cũng quên luôn vì chẳng hứng thú gì để đụng đến. Con đường cũ anh đã không còn qua lại. Phần cô, biết cô có quên? Lâu rồi hai người không nói chuyện bình thường, nhắc gì đến hoa và trái! Ngay cả những khóm lan quí có thời gian cô nâng niu và tốn bao công sức. Một lúc cô đã bảo: “Ê you, mua hết lan của em đem về trồng đi! Hồi nào có hoa em lấy.” Anh làm theo như một đứa bé ngoan. Mua lại hết. Biến cái phòng khách của căn gác thành một green house nho nhỏ. Vài ngày trong tuần tốn thời giờ để mong lan ra hoa. Cũng như cây chanh, anh lẩm bẩm một đôi lần khi tưới nước: “Chờ ra quả. Lạy trời chanh ngọt như nhà vườn ghi trong giấy. Coi đứa nào đúng.”

Cô cứ bảo anh hay cãi. Anh sinh ra ở cái xứ gì mà thích cãi. Không nghe lời cô nên cô phật ý. Cô nghỉ chơi coi đứa nào chết. Chẳng biết, nhưng cây trái hoa quả anh trồng chết là cái chắc. Lúc di tản, một đứa xong trung học. Đứa kia còn đâu lớp tám. Tuổi nhỏ qua rồi nhưng mà sao con nít tệ. Anh chơi với cô vài năm rồi nhiễm tính. Cách cư xử đôi khi “nghe sao sao” mà hai đứa không biết. Những ngày còn vui:

Thụy Khuê: Nói Chuyện với Tạ Trọng Hiệp - Phan Khôi, người xa lạ

Thụy Khuê: Hợp Lưu có ý định ra một số báo chủ đề Phan Khôi. Người đầu tiên Hợp Lưu cần hỏi ở hải ngoại là anh, bởi vì anh giữ tương đối đầy đủ tài liệu về Phan Khôi và anh cũng đã đọc, đã suy nghĩ nhiều về Phan Khôi. Việc đầu tiên khi nhắc đến Phan Khôi, theo ý anh, là việc gì?

Tạ Trọng Hiệp: Xin cảm ơn Thụy Khuê đã nghĩ đến tôi. Thật ra những gì Thụy Khuê vừa nói là do tình cảm quen biết nhau trong văn hóa cho nên Thụy Khuê khen thế thôi, chứ tôi thấy không đúng đâu. Nếu có ai am tường về Phan Khôi thì chắc không phải là tôi. Nếu tôi có chú ý đến Phan Khôi là vì cố gắng cá nhân, bên cạnh công việc chính là nghiên cứu Hán Nôm cổ. Theo tổ chức trong sở tôi thì không có chỗ cho sự nghiên cứu Phan Khôi. Và tôi xin tiếp tục cải chính, tôi nghĩ là trong nước hình như còn có người biết hơn chúng ta nhiều lắm về thân thế và sự nghiệp Phan Khôi. Rất tiếc vì ở xa nên không liên lạc được. Tôi đã nghĩ đến một người, người này -ông Nguyễn Văn Xuân- là nhà văn kỳ cựu ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Ông đã bước vào làng văn từ những năm đầu của chiến tranh thế giới thứ hai. Ông viết cả truyện ngắn và biên khảo về văn học và môi trường văn học ở miền Trung và miền Nam. Đặc biệt cuốn sách Khi Những Lưu Dân Trở Lại đã khiến tôi chú ý rất sớm về ông Nguyễn Văn Xuân. Và ông ấy lại sinh hoạt ở một vùng không xa lắm, vùng quê hương đã sản xuất ra những người như cụ Phan Chu Trinh hay là gia đình cụ Phan Khôi. Tôi đọc thêm cuốn Phong Trào Duy Tân của ông Nguyễn Văn Xuân, đó mới chỉ là tập đầu của một bộ ba quyển. Cho nên tôi vẫn hy vọng phập phồng rằng trong tập 2 và tập 3, có khi ông nói đến hiện tượng Phan Khôi chăng? Một hiện tượng rất lớn đối với địa phương ấy.
Bây gìờ trở lại vào đề. Ngày hôm nay tôi xin được nói một hai ý kiến vụn vặt về Phan Khôi. Nếu tôi có can đảm viết, có thì giờ, và tôi không đau ốm quá, thì tôi sẽ viết về Phan Khôi, và sẽ đặt nhan đề là Phan Khôi: Người Xa Lạ.

TK: Tại sao anh lại chọn nhan đề như vậy?

TTH: Đây là một nhận định rất bình thường. Nếu Thụy Khuê có dịp phỏng vấn thanh niên trong và ngoài nước, những người chưa đến tuổi 40, 45, thì tôi sợ là sẽ đi đến một kết quả rất buồn là người ta không biết tên Phan Khôi là ai, chứ đừng nói đến chuyện đánh giá Phan Khôi cao hay thấp, khen hay chê, chửi hay bênh. Mà như vậy là một tình hình đã kéo dài nhiều năm rồi.

Lê Hữu Khóa: Môi Sinh & Nhân Sinh  - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh? (Tiếp theo)

PHẦN 2.
Môi trường của quê hương, môi trường của đất nước.


Khi các khoa học khác nhau nghiên cứu về môi trường, họ sẽ gặp ít nhất 3 loại lịch sử về môi trường rất khác nhau:

· Lịch sử hình thành trái đất có đơn vị tính toán hằng triệu năm,

· Lịch sử con người trên trái đất có đơn vị tính toán ngàn triệu năm

· Lịch sử của công nghệ hóa tác động trên môi trường có đơn vị tính toán ngàn trăm năm.

Khi các chuyên gia khoa học khác nhau khảo xác về môi sinh, họ sẽ gặp ít nhất 3 loại địa lý môi sinh khác nhau

· Địa lý môi sinh không có con người, ở dạng nguyên thủy.

· Địa lý môi sinh có mặt con người; sống chung với thiên nhiên.

· Địa lý môi sinh có con người là yếu tố quyết định sự sống còn của môi sinh.

Khi các công trình khoa học khác nhau đi sâu vào điều tra về môi trường và môi sinh, thì các công trình này gặp ít nhất 3 loại nhận định làm nên định đề nghiên cứu môi trường và môi sinh:

· Trái đất là một thực thể sống, trong môi trường có môi sinh, trong môi sinh có đa sinh vật cùng chung sống trên không gian chung là trái đất. Thực thể sống này đa đạng chung sống trong một tổ chức phức tạp, tính đa dạng này làm nên sự phong phú của môi trường, sự phong phú này tạo ra sức mạnh tự sinh sôi nảy nở của các sinh vật sống cùng một không gian kín là trái đất.