Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Trần Mộng Tú: Mùa Xuân Ở Đây Đến Chậm

Hình minh hoạ, ML
Mùa xuân ở đây đến chậm
hoa đào nở đầu tháng Tư
nụ hoa mềm như mí mắt
ngập ngừng trên mặt bé thơ

Trên những cành khô rạo rực
từng chùm nụ về khai xuân
tại sao tháng Tư cúi mặt
lau giọt nước mắt âm thầm

Nụ hoa có màu hồng nhạt
nước mắt thì không có màu
nụ hoa và giọt nước mắt
chao ôi sao lại giống nhau

Nắng lên nụ hoa sẽ nở
nắng lên nước mắt sẽ tan
tháng Tư ôm từng cánh một
đóa hoa từ chối héo tàn

Mùa xuân ở đây đến chậm
tháng Tư ở đây nhiều hoa
tôi hái cho mình một đóa

tháng Tư tháng Tư…vỡ òa

tmt
Tháng Tư 2021



Hòa Đa: Nếu Sách Biết Nói

Anh tôi là người mê sách, ngay thời còn đi học, tháng nào anh cũng dành tiền mua một cuốn sách, dù thư viện trường và thư viện quốc gia là nơi anh mất nhiều thời gian nhất trong ngày. Hai tiệm sách quen thuộc của anh là nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi và nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do. Ngày Chúa Nhật, bạn bè muốn tìm anh cứ quanh quẩn ở các tiệm sách, thế nào cũng gặp.

Sau này, khi ra đi làm, ở tỉnh không có tiệm sách lớn, anh đặt mua hai tạp chí Paris Match của Pháp và Life của Mỹ. Trong nhà, số sách báo chất đầy các kệ sách lớn nhỏ, thứ nào theo thứ ấy, như một thư viện nho nhỏ, từ các sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Việt, đến các bộ truyện lừng danh của Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Đông Châu Liệt Quốc, Sử Ký Tư Mã Thiên... Sách tiếng Pháp và tiếng Anh cũng không ít, tiểu thuyết của A. Camus, F. Sagan, E. Hemingway; loại viết về chiến tranh Việt Nam của B. Fall và D. Pike cũng nhiều... Nói chung, thứ nào cũng có, từ triết học Á Đông như bộ Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh... đến các loại sách tham khảo kiểu Bách Khoa Toàn Thư Britanica...

Năm Mậu Thân, nhà nào cũng có một hầm trú ẩn trong nhà, phòng khi giữa lúc tên bay đạn lạc có nơi trú. Ở nhà, Ba tôi cũng dựng một hầm nổi mà một mặt là những giá sách và trên nóc hầm, ông xếp những bao sách thay cho những bao cát. Trong trận tấn công thứ hai vào thị xã, phía trước nhà có cả lô cốt phòng thủ của quân đội; trước khi khu vực nhà tôi lọt vào giữa trận chiến, cả gia đình phải di tản, gần một tuần sau, khi tình hình lắng dịu, tôi mới có dịp quay về thăm chừng nhà; nóc nhà mất một góc, phần mặt tiền coi như tiêu, nhưng kiểm điểm mọi vật trong nhà, tất cả còn nguyên vẹn, kể cả nồi cá kho còn trên bếp và thùng gạo dự trữ trong góc nhà, nhưng tủ sách bị lục tung, hai bộ Tam Quốc Chí và Đông Châu Liệt Quốc được đóng bìa da biến mất, chắc cũng lọt vào tay nào mê sách như anh tôi.

Trần Yên Hòa: Đi Qua Bóng Tối

Đêm tối với Ngàn là những đêm khổ hạnh. Anh sống một mình trên cái “chuồng cu” thuê ở đường Huỳnh Văn Bánh. Căn nhà lầu ba tầng, trên chót vót ở tầng thứ ba. Người chủ làm một cái sân thượng, phía sau làm một căn gác gỗ nhỏ. Vì để lâu ngày không ai săn sóc, chùi rửa, lau quét, nên “chuồng cu” này bụi bặm bám lên một lớp dày. Người chủ thấy bất tiện nên đăng báo cho thuê với giá rẻ. Ngàn chộp được mẫu rao vặt trên tờ báo, anh tất tả đạp xe tới. Leo lên ba tầng lầu, lên hai bậc thang nữa mới tới cái “chuồng cu”. Ngàn mệt ngất thở phì phò. Người chủ sợ anh chê, liền nói ngay:

“Nếu anh ở được, cứ ở cho vui. Tôi chỉ lấy anh tượng trưng chút đỉnh.”

Người chủ không đoán nổi ý Ngàn khi thấy anh trầm ngâm. Anh trầm ngâm là vì anh thích chí quá. Ở đây là một thế giới riêng biệt, có thể ngắm sao trời và hưởng không khí trong lành. Anh có thể đứng giữa trời không mà đọc thơ ông ổng, không ai bị phiền hà, hoặc anh có thể hát những bài tình ca vang động một góc trời. Giọng của anh, nếu có người nghe, chắc nhiều người phẫn nộ.

Người chủ lấy tượng trưng anh mỗi tháng một trăm ngàn đồng. Thế là anh đã định cư trên cái chuồng cu này gần mười năm từ ngày anh ra trại. Mười năm, anh đi về lầm lủi. Cất chiếc xe mobilette cà tàng trong một góc xó xỉnh, rồi anh bước lên tám bậc cầu thang. Có lúc say bét nhè, leo lên tám bậc cầu thang, mất gần một tiếng đồng hồ.

Anh sống một mình, làm một mình, ăn một mình. Ngơ ngơ, ngác ngác. Những cơn gió lạnh làm xước hồn anh, rách tươm thân thể anh thành từng mảng lớn.

Hôm qua, anh đem cái đơn xuất cảnh lên công an phường. Người công an phụ trách hỏi:

“Sao anh đi xuất cảnh một mình?”

“Tôi có một mình, tôi đi một mình, chứ anh biểu tôi đi với ai nữa.”

Võ Phiến: Nằm Chơi

Hồi xưa, khi vừa biết chữ võng (hán tự) có nghĩa là cái lưới, tôi liền hoan hỉ thấy công việc tầm nguyên chữ nghĩa xem ra thoải mái quá. Cái võng do cái lưới mà ra: Đích rồi. Mặt võng khác gì mặt lưới? Giăng ra bắt chim bắt thú, gọi là lưới; còn treo nó lên để nằm đu đưa thì gọi là võng. Cũng nó thôi. Thừa thắng xông lên, tôi phăng ngay ra quê quán của chiếc võng. Lại gốc từ phương bắc nữa đây. Tiếp xúc với văn minh Trung Quốc có nhiều cái lợi; ít nhất là cái lợi cho thuở bé nằm bú sữa mẹ, và khi lớn lên thỉnh thoảng được nằm cáng toòng teng về nhà ngoại.

Tôi hài lòng về sự học hỏi của mình, và xếp vấn đề qua một bên, cái bên những chuyện đã được giải quyết thỏa đáng.

Đến khi gặp bài thơ ‘Tức sự’ của Cao Bá Quát liền nhận ra sự lố lăng của mình. Cao Bá Quát mở đầu:

“Nhãn khan cao điểu độc phàn lung
Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung”

(Ta lặng lẽ nằm trên võng, mắt nhìn con chim trơ trọi bị nhốt trong lồng.) Hóa ra cái võng nó không hề là cái lưới bao giờ cả; nó là “thằng sàng”, là cái giường dây!

Giường dây là cái quái quỉ gì lạ vậy? Văn thơ của Siêu của Quát, nó “vô Tiền Hán” có phải do chỗ này chăng? Trong vô vàn thơ phú từ đời Hán đời Đường đời Tống để lại, đâu có thơ nào có thằng sàng? Thua họ Cao là cái chắc. Thậm chí đi ngược lên tới thời cổ đại xa xưa, lục soát các câu hò câu hát của dân gian do cụ Khổng sưu tầm, e cũng không thể tìm ra cái giường dây.

Các cụ ta xưa kia vung tay viết lách, hễ cái gì Tàu nói thì ta nói, Tàu không nói đến thì ta cho qua luôn. Tuyết, liễu, con chim oanh, con phượng hoàng, cây phong, lầu hồng, gác tía v.v... đầy dẫy trong thơ ta. Còn cái võng, cái áo tứ thân, tiếng sáo diều v.v... thì không thấy trong văn thơ cổ điển của ta bao giờ, mặc dù hàng ngày chúng nó sờ sờ ngay bên mình. Ông Cao đưa luôn cái võng vào câu thơ: ông tả chân, ông cách mạng, ông táo bạo quá.

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

Thy An: Lục bát tháng tư

Hình minh hoạ, FreePik

tháng tư tìm lại nhu mì
bỗng đâu kỷ niệm khắc ghi đổ về
nhớ xưa giọt lệ sơn khê
ngày tàn cuộc chiến lầm mê vẫn còn

hòa bình hoa héo đầu non
trống cờ réo gọi mỏi mòn cuộc chơi
tháng tư hoa nở giữa trời
có con chim sẻ khóc đời trần gian


tháng tư nhớ nỗi buồn vàng
nghe như đâu đó bài than thở buồn
bóng chiều kinh nguyện đồi chuông
thuyền nhân biển lớn lệ tuôn đoạn đành

tháng tư ngõ vắng mong manh
núi đồi trơ quạnh ngọn ngành xác xơ
quê hương ngã bóng xa mờ
đồng hoang cỏ dại nỗi mơ thấm tàn

tháng tư mưa gió nhẹ nhàng
bỗng nghe đâu đó âm vang thấm lòng
quanh co ngõ vắng đường cong
dấu chân trên cỏ mấy vòng mộc lan

tháng tư viễn xứ miên man
mùa xuân hoa nụ trên bàn tay ai
núi sông mấy nẻo đường dài
thắp lên nhang khói một bài vị riêng…

thy an
tháng 04-2021




Lê Thiệp: Làng Báo Sài Gòn Thiếu Chân Chạy

Khi Nguyễn Huỳnh bị động viên vào Thủ Đức ắc ê, Huỳnh nhờ chúng tôi coi nhà hộ. Một hôm buổi trưa nóng nắng giữa khu Bàn Cờ, tôi và một lô bằng hữu đang ở trần ôm bia băm ba nghe nhạc Khánh Ly thì có tiếng gõ cửa, dù cửa không đóng.

Một ông cụ trông hiền lành đứng đó hỏi :

-Thưa các ông, đây có phải nhà của thằng Huỳnh không ạ?

Tụi tôi nhanh như chớp bật dậy, vì biết ngay ông cụ là thân sinh của Huỳnh từ Đà Nẵng vào thăm con. Sau khi mời cụ ngồi, đứa thì lo thu dọn chiến trường la de, băng nhạc, sách báo, đứa thì lo rót nước hầu chuyện cụ. Sau một hồi, ông cụ chỉ từng đứa “Thế ông này làm gì? Ông kia làm gì?” Chúng tôi khai cả lũ từ Ngô Đình Vận đến Du con, Nguyễn Bá Quyền đều làm báo cả, ông cụ trầm ngâm :

-Thế ra các ông đều là nhà báo. Ờ, lúc thằng Huỳnh nó đỗ xong tú tài, tôi bảo nó học sư phạm, học y khoa, nó lắc đầu, đi học văn khoa, văn khiếc gì đó. Cử nhân văn khoa là cử nhân gì vậy các ông? Học xong thì làm gì để sống? Đã vậy học xong nó lại đi làm báo với các ông mới khổ chứ. Thế hàng xóm họ hỏi tôi, tôi trả lời làm sao? Không lẽ lại bảo tôi nuôi con tôi khổ cực cho nó đi ăn học để rồi làm ông nhật trình à? Mà nó có sung sướng gì đâu. Nhà này tôi gửi tiền vào mua cho nó. Tháng tháng tôi vẫn phải chu cấp thêm. Thế tại sao các ông cũng làm báo vậy?

Giọng cụ đều và trầm, rõ từng tiếng một. Cả lũ ú ớ kể cả những tên già mồm lớn miệng nhất. Ông cụ nhìn lên tường thấy phó bản của viện bảo tàng Louvre in bức họa nổi tiếng Mona Lisa, bỗng thở dài :

- Tôi thật không hiểu các ông. Nhà tôi đạo Phật mà nó lại đem hình Đức Mẹ to thế kia về treo giữa phòng khách. Chúng tôi lâm vào ngõ bí, vội vàng thu vén, đưa chìa khoá nhà cho cụ rồi dọt mất.

Phong Tử Khải: Cuốn Sổ Lớn (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán)

Cuốn Sổ Lớn
大帳簿
Phong Tử Khải
豐子愷
(1898-1975)

Pháo đạn tác hoa bình/
Vạn thế lạc thái bình/
Nhật bản bản giáng tự cổ/
Tử Khải/
/Đạn pháo làm bình hoa/
Vạn đời vui thái bình/
(bài)Nhật Bản đã thua liểng xiểng từ xưa /
Tử Khải//(Chú: Hai con lật đật người Nhật)
Hồi còn nhỏ, tôi đã có lần đi tàu về quê tảo mộ. Khi tôi tựa vào cửa sổ tàu mà chăm chú nhìn lớp lớp sóng không cùng cạnh mép thân tàu sát nước, con lật đật giữa lòng bàn tay tôi, trong một thoáng, trở thành hình bóng mờ mịt thăm thẳm và hoá thân vào một thế giới mênh mông bát ngát, rồi nhìn lớp sóng bạc điệp trùng không cùng dưới cửa sổmột chốc, đoạn, với cái lòng sầu muộn của con lật đật không chân,một lần nữa, tôi buồn bã nhìn vói làn nước bạc mêng mang phía sau đuôi tàu. Lòng tôi đột nhiên lo lắng và buồn rười rượi. Tôi ngờ vựcvề hướng của chuyến đi này và cuối cùng chuyến đi sẽ ra sao. Con lật đật có thể giạt vào bờ sông, mép nước nào đó, rơi vào tay một đứa bé nào đó nơi thôn làng, hay mắc vào lưới, và từ đó trở thành con lật đật trên thuyền đánh cá, hoặc mãi mãi chìm nơi đáy một con sông, và sau những năm tháng dài sẽ biến thành bùn đất, người thế từ đó về sau chẳng còn gặp lại nó. Tôi biết rằng hiện tại con lật đật đang ở đây với tôi, nhưng trong tương lai rốt cuộc nó nhất định sẽ ở đâu đó, nhưng ai sẽ kiếm ra nó? Ai có thể nói lên được cái vận mệnh không thể biết trước được của nó? Cái mối ngờ vực và sầu muộn này, chúng cứ chờn vờn trong đầu tôi. Cuối cùng tôi nghĩ ra: Cha tôi có thể biết được kết cục của chuyện này và có khả năng gỡ tôi ra khỏi mối ngờ vực và sự sầu muộn này, nếu không, khi tôi khôn lớn, tôi rốt cuộc sẽ biết được, và có thể tự gỡ tôi ra khỏi mối ngờ vực và sự sầu muộn như vầy.

Thế rồi đến lúc tôi đã thực sự lớn khôn. Tuy nhiên, ngờ vực và sầu muộn không những chẳng bỏ đi mà theo năm tháng chúng càng tăng lên, và trở nên thâm sâu hơn. Tôi cùng với một anh bạn cùng lớp thời tiểu học đi dạo nơi khu ngoại ô, và tôi đột nhiên bẻ một cành cây. Sau khi dùng nó làm gậy một lúc, tôi vứt nó vào một khoảnh ruộng, nhưng tôi như thường lệ nhìn nó một lúc, và tự hỏi, tự đáp trong lòng: ”Mình chẳng biết lúc nào sẽ gặp lại nó nữa. Từ nay về sau không biết nó sẽ ra sao đây? Mình sẽ vĩnh viễn không gặp lại nó?” Nếu tôi đi một mình, mà gặp chuyện đại loại như vậy, thì tôi còn nán lại lâu hơn nữa vì lòngtôi dằng dặc lưu luyến, chẳng thể bỏ đi được. Cũng có lúc mới bước được vài bước, tôi đã quay lại,nhặt lại vật vừa mới vứt, trịnh trọng nói lời từ biệt, rồi mới cắn răng quay mặt mà đi. Thế rồi tôi lại cười cho cái trạng thái bệnh tật ấy, nhưng sau đó thì hiểu ra rằng đó chẳng qua chỉ là những chuyện lặt vặt trong đời mà có hối đi nữa rồi sau lại vẫn cứ phải làm, và sự ngờ vực cùng lòng sầu muộn ấy cứ nằm lỳ trong đầu tôi, thành ra không làm thế, không được.

Hồ Đình Nghiêm: Tình Ngoài

Tôi ngồi đợi em ở công viên. Muốn đến cái đồi cỏ thoai thoải ấy, tôi tốn hai đồng bảy lăm xu và mất khoảng một giờ cho chuyến xe buýt chở đầy nhóc bọn học sinh với những công nhân còn nguyên nét ngái ngủ trên các khuôn mặt dường như chưa thích nghi với sinh hoạt đầu ngày.

Đêm qua tôi ngủ chẳng đầy giấc. Bần thần không phải là chữ đủ nghĩa để nói lên cái trạng thái mà tôi hứng lấy. Tựa như trước mỗi một cuộc đi xa, quần áo đã gói ghém có thứ lớp, nhưng ngổn ngang là loại hành lý luôn hiện diện trong tâm tưởng, bừa bộn những cảm giác nửa lo âu nửa thích thú. Người ta có thể đắn đo để sau rốt quyết định vất lại cái khăn tắm, chiếc áo ấm ra khỏi va-ly; nhưng đầu óc thì phải chịu đeo cứng những nỗi niềm chẳng dứt bỏ được, có vẻ như càng lúc càng nặng thêm.

Gió ở công viên mang theo mùi lá mục, chút ẩm thấp. Đồi cỏ hứng lấy vạt nắng vàng, tinh khôi; và nó cho nhãn quan nhận ra sương còn phủ long lanh một lớp mỏng trên màu diệp lục. Yên tĩnh. Vài tiếng chim kêu gần và nơi nào xa gửi theo gió về tiếng còi tàu hú cách khoảng. Tôi chọn một băng ghế gỗ mà khi ngồi xuống tôi có thể dõi trông những bộ hành đi tất bật qua về ngoài con lộ chính. Rồi em sẽ xuất hiện ở hướng đó. Tôi tự nhủ. Mường tượng ra dáng em đi. Khoan thai hay hối hả? Ngó trước trông sau hay cắm cúi bước? Màu áo nào em sẽ chọn mặc vào một sáng lạ thường? Mặt trời chưa lên cao, nó còn ẩn mình đằng sau những khu chung cư, tuy vậy khi đi làm, có những thứ công việc buộc người ta phải rời khỏi nhà khi trời còn nhá nhem. Mưa nắng có thể buồn vui để thay đổi diện mạo cảnh quang, nhưng một cái đồng hồ báo thức thì bao giờ cũng chuyên cần réo gọi, không sai trật một phút giây. Ngoài trời còn tối hay đã sáng? Nó cóc cần. Hà khắc, vô cảm. Một ngày có hai mươi bốn giờ, người ta có được bao nhiêu thời gian để ôm giữ niềm hạnh phúc riêng tư? Tôi không biết. Tôi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng hồ là thứ tôi chẳng màng tới. Đó có thể gọi là hạnh phúc? Có lần em biểu tôi nên sắm một cái cell phone. Nó thật tiện lợi, anh thấy không? Em nói, đồng thời lấy từ xách tay ra cái điện thoại nhỏ bé hiệu Motorola như thể làm mẫu cho tôi xem. Tôi ậm ừ cho xong chuyện, để em khỏi mắng lạc-hậu-như-người-âm-lịch. Tôi không mấy cảm tình với máy móc và chúa ghét mấy đứa đi ngoài đường nói huyên thuyên qua máy những điều gần như riêng tư tế nhị. Nói điếc con ráy! Chính bọn chúng đã khiến người ta đi tới một biểu quyết không khoan nhượng: Trong những phát minh tai hại của nhân loại, ngoài súng đạn phải kể thêm mobile phone! Nếu tôi đang làm chủ vật quái quỉ đó, không chắc nó sẽ réo lên giờ này. Bởi tôi chẳng quen biết ai. Và em, người thân duy nhất của tôi thì đang bước lại gần. Chẳng được bình thường, điệu bộ kia tựa như một người mẹ nóng ruột đi tìm con thơ mãi nghịch cát ở công viên, quên mất giờ cơm cả nhà đang ngóng đợi.