Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Ngô Nhân Dụng: Làm sao đủ vaccine cho thế giới?

Tổng thống Joe Biden ủng hộ việc miễn thứ tác quyền của các nhà sản xuất thuốc vaccine ngừa bệnh Covid-19 có thể là một nước cờ ngoại giao khéo léo; nhưng khó đưa tới kết quả nào.

Cộng Hòa Nam Phi và Ấn Độ đã đề nghị Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO) buộc các công ty chế tạo vaccine cho phép các nhà sản xuất thuốc ở các nước nghèo làm thuốc ngừa mà không phải trả tiền cho công nghiên cứu và sáng chế, như thông lệ. Nếu được miễn thứ không phải trả tác quyền, các xí nghiệp dược phẩm ở các nước nghèo có thể được tự do chế thuốc chủng cung cấp cho người đồng hương. Các nước giàu cũng được lợi vì bớt phải lo đối phó với các biến thái mới của vi khuẩn Corona. Từ tháng Mười năm ngoái đề nghị miễn thứ tác quyền được nêu lên, một trăm nước nghèo lên tiếng ủng hộ nhưng chính phủ Mỹ lúc đó từ chối.

Nạn dịch Covid-19 bùng lên ở Ấn Độ đe dọa cả loài người, ai cũng thấy phải góp sức ngăn chặn càng sớm càng tốt. Vì khi nhiều người bị bệnh trong một thời gian lâu dài thì loài vi khuẩn thêm cơ hội biến thái, đó là lối sống tự nhiên của mọi thứ vi khuẩn. Những vi khuẩn mới dần dần sẽ lan khắp thế giới. Các công ty sản xuất cho biết thuốc chủng của họ vẫn công hiệu ngăn ngừa các biến thái; nhưng vi khuẩn Corona sẽ còn tiếp tục tự biến đổi không ngừng. Không biết đến bao giờ các vaccine và phương pháp trị bệnh chống lại vi khuẩn cũ sẽ hết hiệu lực đối với những biến thái mới.

Tổng thống Biden ủng hộ đề nghị miễn thứ để ngăn ngừa mối nguy đó. Nhưng không biết WTO có thể quyết định miễn thứ tác quyền bào chế của các công ty dược phẩm hay không. Nếu có quyết định rồi thì cũng không biết có mang lại kết quả tốt như những người có thiện ý chờ đợi hay không.

Những người hoan nghênh biện pháp miễn thứ tác quyền nghĩ rằng nếu được tự do bào chế thì nhiều người sẽ có thuốc chích ngừa hơn. Nhưng điều này không đúng. Việc bào chế vaccine không giản dị, miễn thứ tác quyền sẽ không mang lại kết quả nào đáng kể so với các giải pháp khác không vi phạm quyền tư hữu.

VOA Tiếng Việt: Việt Nam và Mỹ đã thực sự tin nhau để trở thành đối tác chiến lược?

Phải mất 20 năm sau khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam và Mỹ mới bình thường hoá được mối quan hệ và hơn 1/4 thế kỷ kể sau đó, hai quốc gia cựu thù vẫn chưa thể nâng cấp mối quan hệ lên tầm chiến lược dù song trùng về lợi ích trước những quan ngại về Trung Quốc. Vì sao?

Với nhiều nỗ lực từ những thượng nghị sỹ Mỹ như John McCain và John Kerry trong hai thập kỷ sau chiến tranh, Việt Nam và Mỹ mới có được một sự tin tưởng và thiện chí để hoà giải mối quan hệ cựu thù. Từ đó, Tổng thống Bill Clinton mới ra quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam vào năm 1994 và hai nước chính thức bình thường hoá quan hệ một năm sau đó.

Nhưng trong một thời gian dài sau khi bình thường hoá, mối quan hệ của hai nước không thực sự là bình thường, theo nhận định của Tiến sỹ Nguyễn Tuấn Việt, trưởng khoa chính trị quốc tế và ngoại giao của Học viện Ngoại giao Việt Nam.

“Lòng tin là yếu tố lớn làm cản trở mối quan hệ giữa hai nước để có thể tiến xa hơn,” TS Việt nói tại buổi thảo luận về tương lai quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Mỹ do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) có trụ sở ở Washington tổ chức hôm 29/4 qua hình thức trực tuyến.

TS Việt, người có luận án tiến sỹ về mối quan hệ Mỹ-Việt tại Đại học Virginia, cho biết mối quan hệ giữa hai nước phát triển rất chậm trong những năm sau khi bình thường hoá. Ông Việt đưa ra ví dụ về sự khó khăn trong việc thương thảo giữa Mỹ và Việt Nam về Hiệp định Thương mại Song phương và Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn mà ông nói là đã mất rất nhiều thời gian. Theo TS Việt, một trong nhiều yếu tố, mà ông tìm hiểu được qua các nghị sỹ như John McCain và Jim Webb cùng nhiều quan chức cấp cao của Việt Nam cho biết, đó là “lòng tin.”

Cuộc chiến tranh kéo dài gần 20 năm đã khiến cho cả hai phía mất mát nhiều sức người và của. Hơn 58.000 binh lính Mỹ thiệt mạng ở Việt Nam trong khi phía Việt Nam cho biết hơn 2 triệu người dân và quân nhân Việt bị giết hại. Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Mỹ áp đặt lệnh cấm vận lên Việt Nam cho đến khi dỡ bỏ vào ngày 12/7/1995.

Bùi Văn Phú: Lại chuyện cờ vàng, cờ đỏ

Cờ vàng trong dịp tưởng niệm 30/4 tại Toà Thị chính San Jose, California (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Sự kiện một em du sinh từ Việt Nam sang Úc, đang học cấp 3 trong một trường ở khu vực Sydney, trong dịp 30/4 vừa qua khi thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ treo trên đường phố, em này đã giật xuống, dẫm chân lên, cùng lúc có những lời phát biểu tục tĩu để nhục mạ lá cờ đó.

Sau khi đoạn phim ghi hình ảnh của sự kiện được đưa lên mạng, cộng đồng người Việt tại Úc đã chính thức lên tiếng phản đối và yêu cầu giới chức trách nhiệm xử lý. Phía ủng hộ em học sinh này, là những người cũng chống đối cờ vàng, đa số là thành phần dư luận viên, đã ào ạt tấn công và đe doạ những người đại diện cộng đồng người Việt tại Úc.

Việc em học sinh bên Úc nhục mạ lá cờ vàng, nhiều tranh luận đã được đưa ra, tập trung là phương diện pháp lý, là về quyền tự do phát biểu theo hiến pháp và luật pháp Úc.

Sự việc đang được các giới chức thẩm quyền điểu tra và sẽ có những quyết định trong những ngày tới.

Tôi không hiểu về luật pháp Úc, nên chỉ theo dõi và chờ đợi xem kết quả ra sao.

Ở đây xin nhắc đến vài trường hợp liên quan đến biểu tượng cờ trong xã hội Mỹ, theo tinh thần luật pháp Hoa Kỳ.

Nguyễn Khoa: Cách mạng từ trên xuống ở Việt Nam

Đầu tháng 5/2021, nhà báo Huy Đức có viết một status trên Facebook của ông, đề nghị một cải cách cho nền hành chính công ở Việt Nam.

Status khá dài, tựu chung thì ý chính là việc bổ nhiệm các viên chức hành chánh ở các bộ của chính phủ trung ương, ở các sở của các tỉnh, nên xem là những viên chức chuyên nghiệp chứ không phải là nhà chính trị. Áp dụng được điều này, theo ông Huy Đức, là để tránh “tư duy nhiệm kỳ”, nôm na là “có làm tốt thì hết nhiệm kỳ thì hết chuyện, việc gì phải cố”.

Nếu tôi không lầm thì đây là mô hình được áp dụng ở hầu hết các nền dân chủ phương Tây, trong đó các nhà chính trị cứ cạnh tranh nhau, nhưng các viên chức hành chánh và chuyên môn thì làm việc không lệ thuộc vào ý thức hệ của người đó. Trong status ông Huy Đức kèm theo hai từ tiếng Anh là career (viên chức chuyên nghiệp) và political appointee (viên chức được bổ nhiệm theo đảng phái chính trị).

Ông Huy Đức cho rằng các nhà chính trị Việt Nam trong mô hình này cạnh tranh, “vận động” trong Đảng (cộng sản) để đạt được vị thế appointee.

Theo tôi ông Huy Đức sai ở vài điểm.

1/ Ở Việt Nam chỉ có một đảng, không thể so sánh các cuộc cạnh tranh chính trị trong các kỳ bầu cử công khai ở phương Tây và các cuộc tranh giành, ông Huy Đức gọi là vận động, kín như bưng ở các kỳ đại hội đảng ở Việt Nam.

2/ Ở Việt Nam toàn bộ các viên chức nhà nước, từ cấp sở của các tỉnh lên đến các bộ của chính phủ trung ương đều là … chính trị gia cả, vì họ đều là đảng viên Đảng cộng sản cả. Hiện nay khi một người quyết định vào Đảng Cộng sản, thì trong tâm trí anh ta/chị ta là để bảo đảm con đường hoạn lộ sau này. Điều thú vị là con đường hoạn lộ đảng viên có vẻ cũng phát triển sang cả các công ty tư nhân Việt Nam, khi mà các công ty này cũng có chi bộ đảng.

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Trần Mộng Tú: Mẹ Mở Lòng Ra

Minh họa Nguyễn Thị Hợp
Trong trái tim mẹ có ngăn nhỏ
vừa khít khao đủ chỗ con nằm
những khi con chán khung trời rộng
mẹ mở lòng ra một góc chăn

Trong trái tim mẹ có đốm lửa
cháy liu riu một mảnh than hồng
mẹ gom tóc trắng như gom củi
dự trữ cho con những ngày đông

Mẹ có đôi tay đủ một vòng
ôm con như một sợi dây cung
mũi tên con bay vào khoảng trống
lòng mẹ rung theo sợi dây chùng

Mẹ có đôi chân gầy theo tuổi
không thể cùng con chạy điền kinh
mẹ đi dẫm trước dùm con nhé
Những cành gai viên sỏi vô tình

Những áng mây bay qua trí nhớ
tuổi đời như lá quét trong vườn
mẹ nghiêng thân mỏng nghe hướng gió
tà áo con bay lộng mười phương.

(1997)

Vũ Thư Hiên: Hồ Dzếnh

Nhà văn Thanh Châu có một giang sơn riêng – một gác xép bằng gỗ ghép giống hệt gác xép của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái”, mà chúng tôi gọi đùa là “ông Giê Su ở phố Hàng Thuốc Bắc”...

Một thời nhiều nhà có thứ gác xép như thế. Nó tăng diện tích ở không nhiều, nhưng tạo ra một mảng riêng tư. Gác xép của Thanh Châu được dành riêng cho ông làm việc và tiếp bạn, người nhà không hề lai vãng. Để lên cái gác xép ấy tôi phải leo một cái thang dựng ngược, bám cứng vào hai thành lung lay của nó mà từng bước nhích lên rồi chui mới qua một lỗ vuông hẹp.

Từ khi nhà nước cách mạng về tiếp quản Hà Nội, Thanh Châu biến mất khỏi văn đàn. Đề tài, bút pháp thuộc dòng lãng mạn nay đã không hợp thời, lại còn nguy hiểm. Nó bị coi là nọc độc. Tác giả Tà Áo Lụa, Bóng Người Ngày Xưa… giờ đây ngồi lặng lẽ nơi mảnh đất tự tạo bên cái bàn trà nhỏ đã lên màu cánh gián và bộ ấm chén gan gà tí tẹo.

Người thường xuyên có mặt trên gác xép của Thanh Châu là Kim Lân, cây bút số một về chuyện nhà quê. Người thứ hai là Bùi Xuân Phái. Gày còm, xanh xao, với gương mặt rất giống Chúa Cứu Thế, tự xưng “nhát gan bậc nhất Hà Thành”, hễ gặp quá ba khách đến trước là anh lịch sự bắt tay mỗi người một cái rồi ù té.

Từ cái lỗ vuông ấy, vào một ngày không còn nhớ, nhô lên một mái đầu chải ngược, đường ngôi rõ ràng, một khuôn mặt xạm đen với nụ cười phô những cái răng dài.

- Hồ Dzếnh đấy! - Thanh Châu nói khẽ với tôi.

Tôi không quên được hình ảnh ấy – nó gắn chết vào trí nhớ.

Con người lộc ngộc, xương to, thịt ít, ngồi xuống bên tôi:

- Vũ Thư Hiên?

Thanh Châu gật.

Chắc hẳn Thanh Châu, hoặc Kim Lân đã nhắc đến tên tôi nhân đụng tới thế sự văn chương. Và còn một lẽ nữa - trong các khách của Thanh Châu tôi ít tuổi nhất.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thêm Một Bàn Huề


Sau khi gửi bản “Chương Trình Cải Cách Ruộng Đất” đến Stalin để xin chỉ dẫn, bắt đầu từ tháng Giêng năm 1953, Đảng và Nhà Nước phóng tay phát động quần chúng để thực hiện cuộc Cải Cách (long trời lở đất) ở miền Bắc Việt Nam.

Hệ quả (hay hậu quả) là hàng vạn nông dân bị hành hình. Tiếng kêu thương, rên xiết của nạn nhân vang lên đến tận Cửu Trùng nên đến tháng 2 năm 1956 thì Hội Nghị Trung Ương (lần thứ 9) ban hành lệnh sửa sai.

Tại kỳ họp thứ 6 Quốc Hội khóa I, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ nhận mọi khuyết điểm. Người vừa nói vừa lấy khăn tay lau nước mắt khiến thiên hạ vô cùng xúc động, và quên hết những “sự cố đáng tiếc” đáng tiếc vừa qua.

Vậy là kể như … huề!

Vụ Cải Cách Ruộng Đất vừa tạm lắng thì nổ ra Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngày 14 tháng 12 năm 1956, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh mới về báo chí, nghiêm cấm báo tư nhân. Phong trào này bị dập tắt vào tháng 6 năm 1958.

Nguyễn Tuân: Những chiếc ấm đất

Bóng nắng gần tới đỉnh đầu. Sư cụ chùa Đồi Mai thủng thẳng trở về trai phòng. Nhà sư già gỡ chiếc nón tu lờ, sắp ngồi vào thụ trai thì có tiếng con trẻ gọi ở ngoài cổng chùa. Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

- Bạch cụ, có người con trai cụ Sáu xin vào.

- Vậy chú vẫn đóng cửa chùa đó à? Chú ra mở mau không có người ta phải đứng nắng lâu. Cổng nhà chùa bao giờ cũng nên để ngỏ. Từ giờ chú nên nhớ: sáng sớm tụng kinh nhật tụng và thỉnh chuông xong là phải mở rộng cửa chùa và tối đến, lúc nào học xong kệ thì mới đóng. Kẻo nữa khách thập phương họ kêu đấy.

Tiểu ra được một lát thì một người con trai trạc mười bảy tuổi xúng xính trong chiếc áo dài thâm, chân xéo lấm, tay bưng cái khay tiến vào tăng xá, vái sư cụ:

- Bạch cụ, thầy con cho con mang xuống biếu cụ bình trà đầu xuân. Và xin phép cụ cho ra giếng chùa nhà gánh một gánh nước.

Nhà sư già đã quen với những việc biếu và xin mượn này ở dưới cụ Sáu, khẽ cất tiếng cười. Trên khuôn mặt khô xác, nụ cười không có gì là ấm áp thiết tha. Nó chỉ đủ là hiền lành thôi.

- Thế cháu đựng nước bằng cái gì?

- Dạ có người nhà quẩy nồi và gánh đi theo còn chờ ở ngoài.

- Ai di đà phật! Nắng này mà đi từ làng trên xuống tận đây lấy nước, cụ Sáu nhà có công quá. Cháu ngồi nghỉ chân đã. Để già bảo chú tiểu đưa tên bộc ra giếng. Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật.