Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2020

Đỗ Quý Toàn: Lấp ló sau mành

 Văn xuôi và thơ đều diễn đạt ý tưởng và biểu lộ cảm xúc, để truyền cho người khác các “thông báo” (information), các “tin tức.” Nhìn như các diễn trình truyền đạt thì văn và thơ khác nhau ở số lượng “tin tức” được truyền đi. Văn xuôi có thể nói rất nhiều nhưng số lượng thông báo trong nội dung vẫn ít, còn thơ thì ngược lại.

Dùng lý thuyết tin học, Umberto Eco giải thích rằng khi ý nghĩa (meaning) của một thông điệp càng rõ rệt bao nhiêu thì số lượng thông báo, information, càng ít đi bấy nhiêu.

Nếu nói một điều ra mà ý nghĩa rõ ràng sáng sủa nhất, người nghe hiểu trăm phần trăm,  thì thường thường lời nói trở nên nghèo nàn, không còn gì để truyền đạt nữa. Có khi nói ra là thừa, vì câu nói chỉ xác nhận một điều ai cũng biết rồi. Câu nói không tạo thêm “tin tức” mới nào cả. Không làm tăng thêm “gia tài tin tức” của người nghe, và giữa hai người cùng chia sẻ. Không làm giàu hệ thống ngôn ngữ mà hai người dùng chung với cộng đồng.

Ngược lại bài thơ với những vẻ đẹp lấp ló sau mành lại có khả năng kích thích nhiều tình ý phong phú hơn, ở ngoài những lời lẽ thốt lên.


Kín và Mở

 

Thí dụ có người nói: “Buổi sáng trời quang tôi thấy mặt trời mọc, ánh sáng mặt trời chiếu lên mây thành màu đỏ.” Tôi chắc rằng chúng ta đều hiểu của câu đó khá rõ ràng. Người nói định truyền tin tức nào, chúng ta nhận được khá đầy đủ. Vì cả người nói lẫn người nghe đều chia sẻ các hiểu biết về hiện tượng tự nhiên trên. Bây giờ tôi lại nói: “Quả trứng bể con gà chui ra, một con gà con mới ra đời.” Thông điệp này cũng rõ nghĩa. Nhưng số lượng thông tin của hai câu trên là số không. Vì cả hai câu không làm cho người nghe, và cộng đồng những người nói tiếng Việt, được giàu thêm một tin tức mới nào. Bây giờ chúng ta thử nghe một thi sĩ nói:

Rồi trời đất hừng đông như trứng vỡ

Tôi đã đầu thai thức dậy sơ sinh

(Tô Thùy Yên)

Hai câu thơ này khiến tôi thấy bừng bừng những ý tứ mới mẻ. Chỉ riêng một câu đầu thôi đã có thể làm tôi choáng váng. Tôi thấy có hình ảnh màu đỏ giữa trời và đất, và màu hồng của trái trứng gà. Tôi nhớ tới vỏ trứng tròn và liên tưởng đến bầu trời khum khum úp trên mặt đất. Tôi cũng thấy mặt trời làm sáng bật lên đường chân trời cắt đôi đêm tối, tách bầu trời ra khỏi mặt đất; cùng với hình ảnh vỏ trứng vỡ tách đôi. Trứng vỡ gợi một cảm giác đớn đau, nhưng không thể cưỡng lại; nếu trứng không vỡ ra thì không có hiện tượng khai sinh. Có thể được dẫn tới cả những tư tưởng siêu hình, thần bí: vũ trụ đã được tạo dựng,


Nguyễn Đức Tùng: Khi Chồng Bạn Gọi Bạn Một Tiếng Rồi Im Bặt

Khi chồng bạn gọi bạn một tiếng rồi im bặt, bạn đang bận. Chồng bạn khiêng chậu hoa trong sân. Đó là buổi sáng đẹp trời hai vợ chồng chuẩn bị ăn sáng. Bạn là người phụ nữ tất bật, dù về hưu nhưng công việc trong ngoài đều vào tay. Trong khi chồng bạn giống những người đàn ông khác, hết tuổi làm việc thường sinh tật, kẻ thích rượu, người bỗng phát hiện mình có tài làm thơ, kẻ mê hoa. Hai vợ chồng sống chung ba mươi lăm năm, hai con một trai một gái đã lập gia đình, và giờ đây bạn nghĩ đến việc an hưởng tuổi già. 

An hưởng tuổi già tức là suốt ngày đứng trong bếp. Vào lúc nghe chồng bạn gọi, bạn bỏ tất cả xuống, chạy ra cửa. Cuối sân, chồng bạn quỳ xuống bên chậu cúc, dáng điệu bất thường, hai tay bám chặt vào thành chậu, nghiêng người. Bạn cất tiếng gọi, anh ấy ngẩng đầu lên, tỉnh táo, nhưng tia nhìn thất thần. Bạn biết mọi thứ đang thay đổi. 

Bạn cúi xuống đỡ, anh ấy để yên cho bạn dìu vào nhà. Chồng bạn thường uống rượu, vẫn lên cơn đau dạ dày mỗi khi nghe tin thời sự, nhưng lần này có vẻ nặng hơn, toát mồ hôi, mặt tái xanh, vẻ mệt nhọc. Không nói được, tay phải mềm nhũn. Bạn gọi số điện thoại cấp cứu. 

Trong khi chờ đợi, bạn để anh ấy nằm xuống, đầu nâng cao để tránh ói mửa. Bạn để ý xem anh ấy có khó thở không, cởi cúc áo. Bạn phải bình tĩnh không được cuống quít, đắp cho anh ấy một cái chăn mỏng, đừng cho ăn một thứ gì. Bạn cho anh ấy uống một viên aspirine nếu có sẵn trong nhà. Bạn có thể nhầm đau tim với đột quỵ não, nhưng aspirine có ích cho cả hai. Năm phút sau xe cứu thương đến, bật đèn chớp sáng. Họ quyết định đưa chồng bạn vào bệnh viện. Vài phút sau xe hú còi chạy đi. Bạn lái xe theo sau. 

Vào lúc ấy bạn biết rằng mọi thứ đã thay đổi. Thiếu máu não hay đột quỵ não xảy ra khi động mạch đưa máu đến nuôi não bị tắc nghẽn, gọi là nhũn não, hoặc nặng hơn do mạch máu vỡ ra, gọi là xuất huyết não. Huyết áp là nguyên nhân hàng đầu. Tiểu đường, mỡ cao trong máu, rượu, thuốc lá, căn thẳng tinh thần, lo âu. Bạn thấy nhức đầu, hoa mắt, khó thở, tim đập loạn xạ, mệt mỏi, lú lẫn. Vào lúc ấy bạn biết rằng có thể chồng bạn ăn nhiều mỡ quá và các thành động mạch dày lên, đóng bám, làm máu bị tắc nghẽn, hay ăn nhiều đường quá và các thành mạch xơ cứng lại. Có thể anh ấy hay giận dữ và âm mưu nhiều quá, lo chạy quyền chạy chức nhiều quá, lo cho con cái vào trường này trường kia nhiều quá, khiến cho huyết áp vọt lên 170 mà bạn không biết, đôi khi 190 trên110 mà bạn không hay. Vì sao chồng bạn không hay? Vì cơ thể anh ấy cố hết sức làm việc, sửa chữa ngày

Lưu Trọng Lư: Một mùa đông

                           I

Đôi mắt em lặng buồn

Nhìn thôi mà chẳng nói,

Tình đôi ta vời vợi

Có nói cũng không cùng.

 

Yêu hết một mùa đông

Không một lần đã nói,

Nhìn nhau buồn vời vợi

Có nói cũng không cùng.

 

Trời hết một mùa đông

Gió bên thềm thổi mãi

Qua rồi mùa ân ái :

Đàn sếu đã sang sông.

 

Em ngồi trong song cửa

Anh đứng dựa tường hoa,

Nhìn nhau mà lệ ứa,

Một ngày một cách xa.

 

Đây là giải Ngân hà,

Anh là chim ô-thước

Sẽ bắc cầu nguyện ước

Một đêm một lần qua.

 

Để mặc anh đau khổ,

Ái ân giờ tận số,

Khép chặt đôi cánh song !

Khép cả một tấm lòng !

 

         II

 

Em là gái bên khung cửa,

Anh là mây bốn phương trời;

Anh theo cánh gió chơi vơi,

Em vẫn nằm trong nhung lụa.

 

Em chỉ là người em gái thôi,

Người em sầu mộng của muôn đời,

Tình em như tuyết giăng đầu núi,

Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.


Lê Hồng Lâm (Viết cho BBC Tiếng Việt từ Sài Gòn): Khôi phục những di sản điện ảnh Sài Gòn trước 1975

Tác giả Lê Hồng Lâm phỏng vấn bà Kiều Chinh tại Mỹ

Sau 1975, nếu văn chương và âm nhạc của miền Nam vẫn được lưu trữ chủ yếu thông qua các tác giả rồi dần dần được phổ biến trở lại qua các nhà xuất bản, các nhà xuất bản, trung tâm âm nhạc trong và ngoài nước, thì điện ảnh - vốn là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp tốn kém và chủ yếu được quay bằng phim âm bản (negative) 35mm nên khó lưu trữ hơn.

 

Nền điện ảnh miền Nam trong gần 20 năm tồn tại và phát triển đã sản xuất khoảng 300 bộ phim, nhưng sau năm 1975, hầu hết các bộ phim đều hư hỏng hoặc biến mất vĩnh viễn. Một số hãng phim còn lưu trữ được một số phim âm bản qua nguồn tư liệu của gia đình bắt đầu khôi phục trở lại những di sản của điện ảnh miền Nam thông qua các bản phim DVD nhưng chất lượng hình ảnh và âm thanh đều hư hỏng khá nhiều.


Tại Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc Tế (Viet Film Fest) lần thứ nhất tổ chức vào năm 2003 ở California (Mỹ), bộ phim Người tình không chân dung được mang trình chiếu lại sau đúng 30 năm bộ phim ra mắt lần đầu tiên (1973). Ghi nhận lại buổi chiếu đặc biệt này và trao giải Lifetime Achiviement Award (Thành tựu trọn đời) cho nữ tài tử Kiều Chinh, ký giả Phạm Xuân Đài viết trên tờ Tập san Thế kỷ 21:

 

"Người tình không chân dung có thể nói là một phim bề thế nhất về đề tài chiến tranh của miền Nam, do hãng phim Giao Chỉ sản xuất. Tuy là sản phẩm của hãng tư do Kiều Chinh thành lập và Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn, phim vẫn được sự hỗ trợ của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong việc thực hiện. Ngoài Kiều Chinh là nhân vật nữ duy nhất, các diễn viên còn lại khá đông đảo, hầu hết là quân nhân đang tại ngũ: Vũ Xuân Thông, Nguyễn Mộng Hùng, Hà Huyền Chi, Dương Hùng Cường, Minh Trường Sơn, Trần Quang, Tâm Phan… Điều đặc biệt là sau khi quay xong, phim này đã bị cấm chiếu trong hai năm sau cùng phải do một cuộc bỏ phiếu cả chính Hội đồng Nội các (20/21 phiếu thuận) phim mới được trình chiếu cho công chúng vào năm 1973. Lý do cũng chỉ vì những hình ảnh hiện thực của chiến tranh (những 'mộ bia như nấm' trong nghĩa trang, cảnh quân nhân bị thương, bị chết…) mà Hội đồng Duyệt phim các cấp đều chùn tay không dám thông qua, vì lý do "dễ làm nản lòng chiến sĩ'. Tuy nhiên, tại Đại hội Điện ảnh Á châu 1973, phim đã được hai giải thưởng cao quý: Giải phim chiến tranh xuất sắc nhất và giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất dành cho Kiều Chinh.

 


Giới thiệu Tập San Việt Học: Ấn Bản Sept 15, 2020 • Tập San Việt Học - http://viethocjournal.com

Lá thư chủ biên

Thưa quý độc giả:

Mỗ chủ biên sẽ mãi mãi ghi nhớ và biết ơn quý vị về những lời khen tặng rộng lượng, những điện thư động viên tinh thần mạnh mẽ, những nỗ lực đóng góp bài vở thường xuyên, và nhất là quyết tâm tiếp tay thăng hoa giá trị hàn lâm cho TSVH và Viện Việt Học. Thậm chí một số tác giả và độc giả còn coi hai thực thể giáo dục này như một “thư viện chọn lọc trực tuyến” hoặc một “virtual college of Vietnamese humanities”!

Để cải tiến việc sắp xếp nội dung ngày càng đa dạng, “menu” TSVH nay mở thêm tiểu mục “Diễn đàn tuổi trẻ gốc Việt” (thuộc mục “Văn học”) và tiểu mục “Địa danh lịch sử thế giới” (thuộc mục “Giáo dục”). Homepage TSVH cũng đã được sắp xếp lại giản dị hơn để tăng gia tối đa mức “user-friendliness” cho độc giả.

Trong ấn bản này, TSVH hân hạnh được đăng tải các bài viết gửi đến mỗ tôi từ quý tác giả Trần Huy Bích, Nguyễn Lương Duyên, Sóng Việt Đàm Giang, Nguyễn Tuấn Huy, và Đàm Trung Phán. Tiến sĩ Trần Huy Bích từng nhiều năm đặc  trách Á châu học tại thư viện của đại học UCLA và đại học USC tại Nam California. Tác giả Nguyễn Lương Duyênmột thời là hiệu trưởng Trường Nông Lâm Súc Pleiku trước 1975. Tác giả Sóng Việt Đàm Giang đã du lịch nhiều nơi để viết lên những du ký thế giới thật hấp dẫn và mãn nhãn với những tấm hình bà chụp. Tác giả Nguyễn Tuấn Huy (cựu môn sinh Việt ngữ của Thầy Nguyễn Văn Sâm) là một nhà văn trẻ tuổi đầy hứa hẹn. Sau hết, bào đệ Đàm Trung Pháncủa mỗ tôi đã về hưu sau hơn 30 năm dạy đại học, nhưng đang còn hăng say phục vụ cộng đồng người Việt tỵ nạn tại thành phố Mississauga, Canada.

Một vị Thầy được sinh viên quý trọng của Đại học Văn khoa Saigon: Giáo sư Nguyễn Đăng Thục (1908-1999) (mục Văn học Việt) là một tiểu sử biên niên soạn thảo rất công phu về một học giả lỗi lạc bởi tác giả Trần Huy Bích. Đây là một tài liệu tôn vinh một nhà giáo tài đức vẹn toàn từng làm Khoa trưởng Đại học Văn khoa Saigon trước 1975. Truyền thống tôn sư trọng đạo – tỏa sáng trong tang lễ ngày 2 tháng 6 năm 1999 tại Saigon – được Trần quân kể lại: “Trong những ngày linh cữu quàn tại gia, hàng ngàn sinh viên Đại học Văn khoa và Đại học Vạn hạnh tấp nập tới viếng […] Sinh viên Văn khoa để tang tập thể: nam mặc sơ-mi trắng, quần đen, thắt cà-vạt đen; nữ mặc áo dài trắng; tất cả đều thắt khăn tang” • Trong niên học 1970-1971, lúc thỉnh giảng văn chương Anh tại Đại học Vạn hạnh, mỗ tôi có dịp được hầu chuyện Thầy Khoa trưởng Nguyễn Đăng Thục, và đến nay còn nhớ phong cách rất nhã nhặn và thân thiết của Thầy.


Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Tin buồn

Anh BÙI NHẬT TIẾN

Pháp danh MINH THÀNH

Bút danh NHẬT TIẾN

Một nhà văn sáng tác bền bỉ và phong phú, đã đoạt
Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1961-1962 
với tác phẩm Thềm Hoang

Một nhà giáo đầy tâm huyết, một nhà hoạt động văn hóa xã hội nhiệt thành suốt đời 
Đã tạ thế vào ngày 14 tháng Chín, 2020 (27 tháng Bảy Canh Tý) 
tại Irvine, California
Hưởng thọ 84 tuổi


Trước mất mát này, Diễn Đàn Thế Kỷ cùng thân hữu, văn hữu thành kính chia buồn cùng Tang Quyến

Nguyện cầu Hương Linh nhà văn Minh Thành Bùi Nhật Tiến được sớm tiêu diêu nơi Cõi Phật

*

Trước sự ra đi của nhà văn Nhật Tiến, một thân hữu từ nhiều năm đã ghép tên các tác phẩm của anh thành một cặp câu đối tưởng niệm như sau:

*Thềm hoang Giấc ngủ chập chờn, Những vì sao lạc Hoàng hôn,
                                                   Ánh sáng công viên vui Bé Phượng;

*Nhà giáo một thời nhếch nhác, Như thế Hành trình chữ nghĩa,
                                              Mồ hôi của đá nghẹn Thuyền nhân.

Trần Mộng Tú: Sáng Nay 

 Gửi Nhật Tiến và Phương Khanh 

           

             Người mới bỏ đi sáng hôm nay 

             Nắng ở ngoài kia nắng rất say 

             Tháng chín gió thổi hoa đầy vườn 

             Người đi theo hoa, hoa có hay 

 

             Mắt nhắm như mơ người bỏ đi 

             Ai đặt ngón tay lên hàng mi 

             Người đi ai đợi người bên đó 

             Ai đợi người như vẫn hẹn hò

 

             Người đi như giấy bay trong gió

             Chữ như hoa rơi xuống áo người

              Bàn tay nào đưa bàn tay nắm

             Trang sách thơm hương giữa hai người

 

              Một bước chia xa một bước ngừng

              Con đường phía trước vẫn đi chung

              Như từng trang giấy vừa khô mực

              Ta đọc cho nhau giữa vô cùng.



             tmt- 9-14-2020


Nguyễn Tường Thiết: Đôi kỷ niệm với Nhật Tiến

Mặc dù tên tuổi Nhật Tiến gắn liền với tên tuổi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, nhưng trái với nhiều người nghĩ tôi hầu như không quen biết nhà văn Nhật Tiến.

Tôi chỉ gặp anh đúng hai lần trong đời, do tình cờ. Hai lần ấy cũng xa lắm rồi. Một lần khi cha tôi còn sống tôi gặp anh bàn về một truyện ngắn của anh đăng trên báo Văn Hoá Ngày Nay, và một lần ngay sau khi thân phụ tôi mất anh là một trong vài ba người đọc điếu văn trước linh cữu cha tôi khi hạ huyệt.

Đám tang Nhất Linh


Tôi biết tới bút danh Nhật Tiến là vào năm 1958 khi tôi đọc truyện ngắn “Đôi Guốc Trắng” của anh đăng trên giai phẩm Văn Hoá Ngay Nay tập 2 do cha tôi chủ trương. Tôi rất thích truyện này, mặc dù cốt truyện chẳng có gì ngoài mấy nét tả cảnh đơn sơ, nhưng nó bắt chúng ta theo dõi vết chân đi của một cô gái, trong một vườn chuối, trên một lối cát ra sông, dẫn đến một đôi guốc trắng bỏ không nằm trên lòng cát mịn, đôi guốc chẳng bao giờ có người đi, bởi vì sáng hôm sau...

Truyện có cái kết bỏ lửng, ngay sau ba dấu chấm đó. Tha hồ mà độc gỉa tưởng tượng số phận của cô thiếu nữ mang đôi guốc trắng.

Vài năm sau tôi tình cờ gặp tác gỉa “Đôi Guốc Trắng”. Hôm đó có việc tôi ghé nhà in Trường Sơn số 14 đuờng Nguyễn An Ninh Sài Gòn, nơi cha tôi thường hay lui tới vì đó cũng chính là nhà của cô chú Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh. Lúc này giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay đã đình bản và địa điểm này là toà soạn của tập san Tân Phong do cô chú Sơn, Vinh chủ trương. Lúc tôi đến thì cô Nguyễn Thị Vinh và anh Nhật Tiến đang nói chuyện ở nhà dưới. Sau khi được cô Vinh giới thiệu anh Nhật Tiến tôi nói với anh là tôi rất thích truyện ngắn Đôi Guốc Trắng của anh, chỉ tiếc rằng truyện ấy ngắn quá, giá mà nó dài dài thêm một chút thì thích hơn. 

Nhật Tiến: Đôi Guốc Trắng

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại. Qua những gốc cây chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang loáng như bạc.
 


Tôi đi xuống dưới. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù xa đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành những hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả. 

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mọng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống. 

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm tấm đất phù sa đỏ.

Ngô Thế Vinh: Nhật Tiến Thềm Hoang - Vẫn Một Tráng Sinh Lên Đường

 Ðã mang lấy nghiệp vào thân

Nguyễn Du


Nhật Tiến, photo by Trần Cao Lĩnh [nguồn: Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, 54-73; Nxb Sóng Sài Gòn 1974] 


HƯỚNG ĐẠO THỜI NIÊN THIẾU


Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến, sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hóa, Phú Thọ. Năm 1950 hồi cư, ở cái tuổi 14 không còn nhỏ nữa để sinh hoạt sói bầy, Nhật Tiến xin gia nhập phong trào Hướng Đạo làm đoàn sinh đội Én Thiếu Đoàn Bình Than khá muộn màng. Thiếu Đoàn Bình Than thuộc Đạo Đồng Nhân, và đạo này có bài hát chính thức do đoàn sinh Cung Thúc Tiến của Thiếu Đoàn Bạch Đằng sáng tác. Cung Thúc Tiến chính là nhạc sĩ Cung Tiến sau này với những nhạc phẩm Hoài Cảm, Thu Vàng.

 

Ngày “Tuyên Hứa” để được gia nhập phong trào Hướng Đạo Việt Nam là một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời nhà văn nhà giáo Nhật Tiến. Lễ tuyên hứa được tổ chức tại Chùa Láng cách Hà Nội 5 km. Trong Hồi ký của Nhật Tiến, tuy đã hơn 60 năm sau, anh vẫn còn nguyên vẹn xúc động khi hồi tưởng lại phút được “tuyên hứa” như điều mơ ước đã trở thành hiện thực.

 


Mai Thảo: NHẬT TIẾN Vẫn đứng ngoài nắng

Một buổi chiều Sài gòn, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975,ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cùng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trư­ờng dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bỗng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vỉa hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mới mở, như hàng ngàn cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Sàigòn lúc bấy giờ. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ xậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lúi húi với một chậu nước và một chồng bát đĩa nhớp trước một gốc cây.

Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát cùng trước một vỉ tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thủ của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cùng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bốc khói xanh um, chị Nhật Tiến má hồng cái củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc, đang phụ một tay với ông bố nhà văn.

Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cùng đã lăn xả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ, mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một cõi bờ, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn hình nghìn vẻ của ta. Và đương nhiên đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến.