Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

Wendy Nicole NN Duong (Như Nguyện): Sáng Tác Văn Chương Việt Hiện Đại Và Chính Trị Giới Tính: Ló Rạng Bình Minh (Cái Nhìn Về Sáng Tác Văn Học Nữ Quyền Và “Văn Chương Gợi Tình” Từ Một Phụ Nữ Mỹ Gốc Việt) (Dịch giả: Hiếu Tân)

(Tác giả đã hiệu đính, sửa đổi cho rõ nghiã và bổ sung bài viết, thêm vào vài nhận định cho độc giả Việt Nam)

CHÚ THÍCH CỦA TÁC GIẢ:

Năm 2018 Nhà Trắng phải đối diện với những cáo buộc nhơ nhuốc của một nữ diễn viên ngôi sao phim khiêu dâm. Tổng thống Mỹ bị coi là đã thốt lên những lời tục tĩu về việc sờ soạng phụ nữ. Đệ nhất Phu nhân đi giày nhọn gót, quần áo bó sát đúng mốt làm nổi bật kích cỡ vòng ngực của bà, phô bày hai cánh tay trần và thân hình “đồng hồ cát” đầy khêu gợi. Nhiều phụ nữ Mỹ coi bà là “trang nhã,” và vương giả. Tất cả những tin tức ấy nổi lên trên nền của một phong trào “ME TOO” ("Tôi Cũng Thế") trong đó những ngôi sao mới lên, những nữ diễn viên Mỹ tung ra các câu chuyện họ bị đàn ông quyền lực của Holywood quấy rối và lạm dụng tình dục. Tôi nhìn lại cộng đồng sắc tộc Việt Nam của tôi ở Mỹ, và quyết định đưa đăng bài bình luận này. Khởi thảo từ năm 2008, bài viết bàn về di sản văn chương của Anais Nin, và đưa ra cái nhìn tổng quan về những sáng tác văn học có tính cách nữ quyền và văn chương tình cảm xã hội của tác giả nữ ở miền Nam Việt Nam (nền cộng hoà không-cộng sản đã quá cố) đầu thập niên 1970, cũng như các tác phẩm của phụ nữ trong cộng đồng lưu vong người Mỹ gốc Việt hình thành sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, và đồng thời vài tác phẩm của phụ nữ Việt Nam (nước cộng sản) ngày nay.

I. NHÌN LẠI THẾ KỈ 20 : VĂN CHƯƠNG GỢI TÌNH VÀ TRẬN CHIẾN GIỚI TÍNH


Trong những thập niên 1920 và 1930, nhà văn nữ Anais Nin đã làm một điều không tưởng. Bà tự xuất bản. Bà hành nghề tâm lí trị liệu tự học để trừ tà tuổi thơ của bà, và có chuyện lăng nhăng tình ái với Henry Miller (theo những lời đồn trong giới văn chương, thậm chí với cả vợ của ông – một vụ tay ba dâm dật!). Để hỗ trợ cho sáng tác văn chương của họ, Anais và các bạn của bà viết những thứ có thể gọi một cách đại khái là khiêu dâm, một đô la một trang – theo lời của chính bà, đó là con đường đưa Anais Nin vào vương quốc văn chương mà trước đây chưa có một nhà văn nữ nào bước vào – lĩnh vực ấy là của đàn ông, xưa nay vẫn thế. Đàn ông viết loại sách khiêu dâm kích thích trí tưởng tượng phong tình của đàn ông, trong đó phụ nữ trở thành những ngôi sao tình dục, không tình cảm, thậm chí không có không có chút quyền gì và không được kiểm soát thân xác của chính họ. Trong những tưởng tượng ấy, phụ nữ “rên rỉ và đòi nữa.” Phụ nữ hành động nghiêm trang, bẽn lẽn và kín đáo, nằm xuống và tôn thờ những bạn tình đàn ông của họ, hay những kẻ lạm dụng họ, như thần thánh. Sự thiếu kiểm soát đối với cơ thể phụ nữ mà giới nữ phải chịu, trong bản thân nó, là một nguồn tưởng tượng cho những đàn ông tán tỉnh, gạ tình. Sự thiếu kiểm soát của giới này trở thành nguồn quyền lực của giới kia. Quả thật, trận chiến cổ xưa nhất của loài người là trận chiến giữa hai giới. Cổ xưa hơn bất kì cuộc chiến tranh nào, cuộc chiến tranh giới tính

Lê Hồng Lâm (Viết cho BBC Tiếng Việt từ Sài Gòn): Tài tử Kiều Chinh, Báo Tuyết và sự nghiệp điện ảnh để đời

Liên hoan phim Thế giới Châu Á (The Asian World Film Festival) tại Mỹ vừa thông báo, nữ diễn viên huyền thoại người Mỹ gốc Việt Kiều Chinh sẽ được vinh danh với giải thưởng cao quý nhất tại LHP: Giải thành tựu trọn đời có tên là Snow Leopard (Báo Tuyết) tại Lễ Gala Đêm bế mạc vào ngày 15/3 tới.

Kiều Chinh được biết nhiều nhất tại Mỹ với vai chính trong bộ phim The Joy Luck Club (Phúc Lạc Hội) và bộ phim về cuộc sống của người Việt tại Mỹ sau chiến tranh có tên là Journey of the Fall, cũng như các thành tựu về hoạt động nhân đạo và từ thiện của bà. Nhưng trước 1975, bà đã có một sự nghiệp điện ảnh lừng lẫy tại Sài Gòn với nhiều bộ phim đáng nhớ.

Nhân cột mốc đặc biệt này, chúng tôi muốn điểm lại sự nghiệp điện ảnh kéo dài hơn 6 thập niên của nữ nghệ sĩ tài danh này, từ Hà Nội, Sài Gòn, Hollywood đến “cõi tôi” của Kiều Chinh.

Từ Hà Nội đến Sài Gòn


Kiều Chinh vừa kỷ niệm 60 năm hoạt động điện ảnh vào năm 2017, tính từ bộ phim đầu tiên mà bà bước vào điện ảnh là Hồi chuông Thiên Mụ (1957).

Nhưng sự nghiệp của bà vẫn chưa dừng lại ở đó. Người phụ nữ 84 tuổi đầy mẫn tuệ này vẫn lái xe đi về từ ngôi nhà của bà trên đường Huntington Beach (Orange County) đến Los Angeles để làm việc, vẫn hoạt động trong Nghiệp đoàn diễn viên của Hollywood, tham gia chấm phim tại các LHP quốc tế và vẫn nhận lời đóng các bộ phim của các đạo diễn trẻ người Mỹ gốc Việt.

Để phục vụ cho dự án khảo cứu điện ảnh Sài Gòn trước 1975, chúng tôi đã liên hệ và được bà nhận lời phỏng vấn. Cuộc gặp gỡ giữa tôi và Kiều Chinh diễn ra tại ngôi nhà của bà trên đường Huntington Beach.

Đúng 9 giờ sáng, chúng tôi có mặt tại căn nhà riêng của bà.

Tiếp chúng tôi là một Kiều Chinh đầy lịch thiệp trong bộ áo dài màu vàng hoàng yến. Bà chuẩn bị bữa sáng với trà, cà phê theo đúng kiểu người Việt và một ít trái cây, bánh ngọt.

Hoàng Quân: Huế Quảng Sương Sương

Tưởng nhớ anh Trần Quang Đoàn/ nhà thơ Đoàn Vị Thượng

Nhà thơ Đoàn Vị Thượng (1959-2021) qua nét vẽ của nhạc sĩ Phạm Đăng Khương

Khoảng 10 năm trước, nhờ chị Mỹ Hạnh thư đi, tin lại, tôi “tương ngộ” nhà thơ Đoàn Vị Thượng, cũng là “tái ngộ” anh Trần Quang Đoàn, một người “rất quen” của quãng đời như thơ, như mộng cách đây hơn 4 thập niên “ở một nơi ai cũng quen nhau: Café Uyên”.

Gặp lại anh Đoàn, tôi vui quá chừng. Có lẽ, ai cũng vậy, nhắc chuyện ngày xưa, tuổi có năm mươi, sáu mươi lòng vẫn xôn xao như thể mười lăm, mười sáu. Sau bao nhiêu năm, vật đổi, sao dời. Chị Mỹ Hạnh nói, anh Trần Quang Đoàn giờ đây là nhà thơ Đoàn Vị Thượng, ngồi ở “chiếu trên”, với những tên tuổi dành cho các cô cậu học trò “Mực Tím, Áo Trắng...”. Bởi vậy, ban đầu, tôi rụt rè, hỏi dè chừng đôi câu, sợ quấy rầy “người cao”. Nhưng khi nghe giọng kể hào hứng của anh, (theo tưởng tượng của tôi, chứ anh chỉ “nói” trong email mà thôi) tôi dạn dĩ hơn, liên tục vẽ thêm nhiều dấu chấm hỏi gởi anh Đoàn. Rõ là, được voi, đòi tiên. Thấy thư của doanvithuong1959 đến, tôi mở ngay, đọc say sưa, rồi thảo thêm nhiều câu hỏi khác. Chuỗi điện thư của anh Đoàn như những thước phim sống động, về ngày tháng vào thập niên 70 ở Quảng Ngãi với những cô nàng Thanh Tâm, Cẩm Thành, Thương Thương... với những anh chàng Trầm Thụy Du, Nguyễn Minh Phúc, Mai Sơn, Lý Văn Hiền, Nguyễn Hải, Nguyễn Xuân Phước, Nguyễn Xuân Đức, Bùi Tuấn Kiệt, Nguyễn Tấn Cư, Trần Hữu Hoài Bão... Giữa những câu chuyện về “người lớn”, về các anh, các chị, sắp sửa là cậu tú, cô tú, sinh viên, anh Đoàn chợt reo lên, nhắc đến “người nhỏ”: “À, anh nhớ thêm một chi tiết, Café Uyên có cái xích đu, xeo xéo quầy tính tiền. Anh nhớ, từng ngồi đong đưa trên đó, thơ mộng nhâm nhi cà phê và... quan sát Thúy”. Phút chốc, tôi cảm thấy mình như con bé 15 tuổi năm nao, bẽn lẽn, e thẹn, vì biết có người đang nhìn mình. Mơ màng, tôi nghe nhà thơ Đoàn Vị Thượng nói giùm tâm trạng của tôi:

Phong Tử Khải: Từ từ (Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên văn chữ Hán)


Từ từ

Phong Tử Khải
豐子愷
(1898-1975)

Anh nông dân Chi Lãnh và cũng là bạn/ Tranh Tử Khải

Yếu chỉ vi diệu làm cho cuộc sống của con người được diễn ra trơn tru, không gì hơn là “từ từ”; cái thủ đoạn của Con Tạo hay lừa người, thì cũng không gì hơn là “từ từ”. Đám trẻ ngây thơ, trong sáng “từ từ” biến thành bọn thanh niên bừng bừng khí thế mà không hay biết; bọn thanh niên hào kiệt, hiên ngang “từ từ” biến thành những người lớn lạnh lùng, tàn ác; những người lớn khí huyết linh hoạt “từ từ” biến thành những lão già ngoan cố vì tiến trình biến hoá của Con Tạo được tiến hành năm này qua năm khác, tháng này tới tháng khác, ngày này tới ngày khác, giờ này tới giờ khác, phút này tới phút khác, giây này tới giây khác, như một cuộc đi bộ thật chậm rãi trên một lối đi thật dài, thật xa, từ trên núi đồi mà xuống, làm cho người ta không để ý tới vết chân lần lượt dẫm xuống của mình, không thấy các giai đoạn của cảnh giới, mà hồ như thấy vị trí cứ vẫn như một và thật giống nhau, hằng cữu bất biến; các giá trị, ý vị của một cuộc sống không biến động, mỗi ngày như mọi ngày, nên cuộc sống sẽ tiến hành trơn tru, không trật vào đâu được. Giả như sự tiến hành ta không ví như núi đồi mà ví như bàn phím đàn phong cầm: bỗng nhiên chuyển từ đô tới , thì giống như đứa bé từ đêm tới sáng biến thành thiếu niên, hoặc như một giai điệu có ghi dấu biến tấu comodo: vừa phải, mà đột nhiên từ đô nhảy lên mi, thì cũng như sáng đang là thiếu niên mà tối đã thành bô lão, người ta nhất định sẽ sững sốt, than thở, buồn bã, hoặc đau xót cho cái chóng qua của kiếp người và người ta không cách chi mà vui cho được. Cho nên mới biết cuộc sống con người có được gìn giữ hay không là do “từ từ” vậy. Điều này e rằng lại rất quan trọng cho bọn đàn bà: thiếu nữ đẹp như hoa trong ca kịch, trên sân khấu, nay mai sẽ là bà già ngồi bên bếp lửa cời than, cái câu này, chợt nghe thì khó mà tin, và các cô gái trẻ không chịu thừa nhận, nhưng quả thật các bà già của bây giờ là từ thiếu nữ tươi như hoa “từ từ” mà biến thành cả.

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

Nguyễn Duy Chính: Vụ Án Đánh Roi

Lời mở đầu


Lãng Nhân trong Giai Thoại Làng Nho (1985) có chép một câu đối giữa Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường. Vế xuất của Đặng Trần Thường là:

Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai.

Ngô Thì Nhậm đối lại:

Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.

Vì lời lẽ ngang tàng này mà họ Ngô bị Đặng Trần Thường sai lính đánh đến chết.

Thế nhưng trước đó P.J.B. Trương-vĩnh-Ký đã chép câu chuyện tương tự như sau:

35. Ngô-thì-Sĩ với ông Tán-lý Thường

Ông Thường (tán-lý Thường) đời loạn Tây-sơn ra lấy Bắc, con nhà học-trò giỏi văn-chương chữ-nghĩa, cũng là bạn học với ông Ngô-thì-Sĩ; giận ý kẻ nịnh lại hổ vì bị nhục mà vào Gia-định ở đầu thám với vua Gia-long. Vô một năm rồi về ngoài Bắc, giả chết, biểu vợ con giả đò chôn cất để tang để chế cho, rồi mới vào lại làm tôi vua Gia-long. Khi trước ở ngoài ấy còn hàn vi đi đường gặp ông Ngô-thì-Sĩ là bạn học, mà khi ấy làm quan lớn, đi võng điều, lọng lợp binh-gia rền-rột (làm Quan cho vua Quang-trung là Nguyễn-văn-Huệ, nguỵ Tây-sơn) Mặc áo rộng, đội nón tu-lờ điệu học trò; đi né tránh bên đường, lính nó nói sao có vô phép, nó bắt nó vật xuống nó đánh cho vài chục. Quan lớn mới hỏi là ai, thì bẩm rằng mình là học-trò; thì Ngô-thì-Sĩ mới rằng: Có phải là học-trò thì ra câu đối cho nó đối. Ra rằng:

Ai công hầu? ai khanh tướng?

Lúc trần ai, ai dễ biết ai?

Ông Thường đối lại rằng:

Thế chiến-cuốc [sic], thế xuân-thu,

Gặp thì thế, thế nào thì thế.

nguyễn đức tùng: Xập Xòe Én Liệng

Hình minh hoạ, FreePik

Năm đó anh ngoài hai mươi tuổi. Buổi chiều tháng giêng chạy xe honda từ Xuân lộc về Sài gòn, sau khi đi thăm một người em ở đó, gặp mưa mau sấm chớp, mưa trái mùa, xuất hiện khi đã vào mùa khô là do bão xa đâu đó, mỗi cơn bão gây mưa kéo dài hai ba ngày. Đoạn đường miền Đông có nhiều khúc thật đẹp, bạn nhớ không?

- Nhưng anh nói khúc nào mới được chứ?

- Vừa ra khỏi Xuân lộc dọc theo đường quốc lộ một, mình gặp rừng đất đỏ bạt ngàn cao su, trước khi đổ vào Hố nai dọc đường hàng quán núp trong rừng cây, mà những cái quán ấy thật thú vị, bán nước trà nước dừa cà phê, hồi ấy buôn cà phê bị bắt nhưng dân bán lẻ đủ sức cung cấp nhu cầu, ai đó sáng kiến chế cà phê vợt, uống cũng được, trộn với bắp rang, cả nước đói khổ có thứ nước màu nâu sẫm bốc mùi thơm đã may lắm, đòi gì nữa? Anh chạy xe một hồi tóc bay mù bụi đỏ thì trời đổ mưa, mưa đột ngột đến nỗi không chạy kịp sẽ ướt từ đầu đến chân. Chớp loằng ngoằng. Anh tấp vội vào lề đường rú ga vọt qua khoảng sân cao, tối, bùn nhão, gần như phóng thẳng vào thềm nhà người ta.

Nhà vắng, không ra quán xá không ra nhà ở, trước hiên rêu lấm tấm nhưng bên trong coi sạch sẽ, một ngọn đèn dầu le lói trên bàn sáng âm u như đom đóm. Tiếng con tắc kè kêu ngoài cửa.

Anh đứng thế một lúc nhìn quanh, hồi hộp tò mò lên tiếng hai lần không có ai trả lời. Lạ, anh tự nhủ, cẩn thận đi ra phía sau nhác thấy ảng nước, cái chạn thức ăn cái bàn nhỏ những đồ đạc lặt vặt. Một người từ sau cánh cửa nhẹ nhàng đi đến trước mặt, một cô gái cao khuôn mặt sáng lên trong tối, rõ ràng cô ta nhìn thấy anh từ lâu nhưng kín đáo quan sát. Anh lên tiếng trước ngỏ lời muốn trú mưa. Nhìn bộ điệu, tóc ướt, chiếc xe, cô gái tỏ ra tin ngay chỉ hỏi bâng quơ vài chuyện, cô mời anh ngồi xuống bên chiếc bàn nhỏ, đi lại phía cái bếp đã tắt lửa nhưng than còn đỏ trong tro tàn, cô lấy cái que sắt cời ra một lúc thì lửa lại đỏ rực.

thy an: Tháng hai đầu năm mới

Hình minh hoạ, ML

tháng hai niềm vui như hạt mưa
long lanh trên tóc rối
bước nhẹ lên đồi tìm lá xanh trẩy lộc
mùa xuân trong tâm hồn
mùa đông chốn tha hương
một chút nắng vừa lên trong ánh mắt
hy vọng rót đầy như ly rượu khai vị
tiễn ngày cuối năm ra đi

tháng hai nở nụ cười
sau những đọt non vừa nhú
con Trâu hiền từ như cánh đồng quê mẹ
lững thững quay về bên dòng nước Cửu Long
trong tĩnh lặng của ruộng đồng
có tiếng ai
đang sống đang cười đang khóc
theo những nổi trôi của non sông

tháng hai mùa âm lịch chuyển mình
khai bút tân niên như một nhắc nhở
âm thầm từ một góc lòng nào đó
lời kinh vang nhẹ tâm thức
thiên thu âm ỉ tiếng đất trời
cỏ non xanh mướt bản phục sinh
mùi rơm rạ một thời thơm ngát

tháng hai ta đi và ta về
con phố mùa đông tha hương
vô tình đưa tay chào đón
mùa xuân êm đềm trong tâm tưởng
làm chùng xuống
những trái tim thổn thức đầu năm...

thy an
tháng 02-2021 - đầu Tân Sửu

võ hương-an: Một Người Huế Ăn Mì Quảng

Làm quen với mì Quảng


Trong những món ăn của Quảng Nam, tôi có duyên với cao lầu và cao lầu gỗ ở Hội An rất sớm. Riêng món mì Quảng, thì cơ duyên đến hơi chậm, chậm nhưng bền; bền cho tới nổi nay nó trở thành một món trong thực đơn gia đình, ngang hàng bún bò Huế, bánh béo, bánh nậm . . dưới bàn tay đạo diễn của bà xã, thuộc lọai Huế rặt và . . . bảo thủ.

Tôi nói chậm, là vì mãi đến mùa Hè năm 1970, khi đổi từ Sàigòn ra Đà Nẵng, làm chung sở với anh bạn chánh gốc Quảng Nam, được anh kêu tới nhà ăn mì Quảng do tay chị ấy làm và giới thiệu tỉ mỉ, bấy giờ mới ngộ ra rằng té ra trên đời này lại có món ăn dễ thương như rứa.

Ăn quen bén mùi, từ đó, hễ nghe ở đâu có mì Quảng ngon, cũng lò dò tới thử cho biết. Phải thành thật mà nói, tại Hội An và Đà Nẵng, chưa chịu quán nào cả, nhưng một khi đã nếm thử mì Quảng Túy Loan và mì Cây Trâm thì tâm phục khẩu phục, danh bất hư truyền.

Thôi thì hãy bỏ tiệm Mì Cây Trâm qua môt bên, vì ở đó có mấy chị em nhan sắc hơn người, ai đã vô ăn cũng thấy ngon mắt trước ngon miệng. Biết đâu cái ngon mắt ấy đã làm trung tâm thần kinh trở thành lệch lạc, cái đầu lưỡi mất tính nhạy cảm trung thực, khiến cho tô mì Quảng ở đó có thể vốn thuộc hạng trung bình, bỗng trở thành hạng nhất, thậm chí, lên thượng hạng đặc biệt chăng? Thế rồi một đồn mười, mười đồn trăm, đồn ngàn, nghe riết thành ấn tượng trong đầu, chưa ăn đã thấy ngon. Vì thế, theo tôi, chỉ có mì Quảng ở Túy Loan mới là ngon thứ thiệt, ngon vô tư, ngon đơn sơ, mộc mạc như gái quê không son không phấn, không phụ tùng, không tân trang, mà vẫn dễ thương.

Bữa đó, đi về ngang Thanh Quít, thấy đã hơn 12 giờ trưa, tôi bàn với anh tài xế: lát nữa tấp vô Hội An ăn cao lầu đi. Anh ta, vốn người Thanh Khê, cười cười: ông khen mì Quảng ngon, vậy ông ăn mì Túy Loan chưa? Chưa. Rứa thì lần này ăn thử cho biết. Túy Loan là quận lỵ của quận Hiếu Đức thời đó. Tiếng là chợ quận nhưng vẫn là nét chợ miền quê. Không phải là tiệm mì mà là quán mì. Có hai ba quán gì đó, anh tài xế ngó bộ cũng là tay thổ công thổ địa nơi này, dẫn tôi vào ngay một quán mà anh chấm là số một, “sạch và ngon” . Tôi hỏi : ở đây có mì chi? Heo?Bò?Gà? Hay tôm cua? Anh ta lại cười cười: ông cứ thử bò cho biết; bò ở đây không giống bò Đà Nẵng đâu. Tôi hỏi tại sao, anh chỉ cười: cứ thử, đừng nói, mất linh. Khi nhai miếng thịt bò trong miệng với một chút lắng nghe từ cái răng, từ đầu lưỡi, mới thấy anh ta có lý. Lát thịt nhỏ bé và khiêm tốn chứ không như lát thịt phồn vinh ở Mỹ, nhưng vừa thơm vừa ngọt vừa mềm, thanh tao một cách đậm đà. Lại còn bánh tráng nữa. Dù là bẻ từng miếng rồi nhâm nhi theo kiểu độc tấu đang khi chờ bà quán sửa sọan tô mì, hay bóp vụn ra trong tô mì theo kiểu hợp tấu, thì cái bánh tráng Túy Loan vẫn có mùi vị thơm ngon khác người ta. Làm tôi nhớ tới bánh tráng Sịa của Huế “miền”. Khi trả tiền, tôi không quên vớt một chục bánh tráng về quảng cáo không công với bà xã.