Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

Ngô Nhân Dụng: Đàn áp cô Bành Soái

Thời Việt Nam Cộng Hòa một trong bốn vị tướng tư lệnh vùng đã bị tố cáo về tội cưỡng ép một cô gái quê. Chúng tôi không nêu tên vị tướng này, đã qua đời, vì ông không bị một tòa án nào kết án. Điều đáng nói là bộ thông tin không kiểm duyệt những bài báo liên tiếp đăng chuyện này trong cả năm trời. Ông Chu Tử đã phê phán vị tướng này nêu đích danh trên báo, cũng như bà Trùng Dương, chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần hiện còn lưu giữ các hồ sơ đó, không bị cảnh sát hỏi thăm hoặc bị đưa ra tòa.

Trước năm 1975 quyền tự do báo chí trong chế độ Cộng Hòa nước ta được tôn trọng hơn trong các nước cộng sản, như ở Trung Cộng bây giờ.

Ngày 2 tháng 11, cô Bành Soái (Peng Shuai,彭帅), một đấu thủ quần vợt, đã viết những lời tố cáo ông Trương Cao Lệ (Zhang Gaoli, 張高麗), cựu phó thủ tướng Trung Cộng đã cưỡng ép cô trong mười năm qua. Bành Soái, 35 tuổi, nổi tiếng vì đã chiếm những giải quần vợt quốc tế hàng lớn nhất. Bài viết của cô xuất hiện trên mạng Weibo, giống như Twitter ở Mỹ, trong 20 phút thì bị cắt bỏ. Cô bỗng nhiên “mất dấu vết” trong mấy tuần, chỉ xuất hiện sau khi dư luận thế giới xôn xao khiến Hội Quần vợt Phụ nữ (WTA) phải tìm cách gọi cho cô, nhưng không liên lạc được. Tổ chức Thế Vận Hội phải hỏi thăm, lúc đó mới được nói chuyện với cô.

Trung Cộng đã bịt miệng Bành Soái tức khắc, vì Trương Cao Lệ, già gấp đôi tuổi cô, là một thành viên trong Thường Vụ Bộ Chính Trị đảng cộng sản, thường đứng hàng thứ tư phía bên trái Tập Cận Bình. Hơn nữa, Trương Cao Lệ là người phụ trách tổ chức Thế Vận Hội Mùa Đông đầu năm 2022 mà nhiều quốc gia đang tỏ ý định tẩy chay vì Trung Cộng vi phạm nhân quyền ở Tân Cương, Tây Tạng, Hồng Kông. Tổng thống Mỹ Joe Biden đã dọa sẽ không có một viên chức chính phủ Mỹ nào tới dự các nghi lễ trong Thế Vận Hội này. Nhưng Trương Cao Lệ vẫn là người đang nói chuyện với ủy ban Thế Vận Hội Thế giới để chuẩn bị cho cuộc thao diễn sang năm.

Bắc Kinh đã cấm tất cả các thông tin liên quan tới cô Bành Soái và những điều cô tố cáo. Báo, đài trong nước không được phép viết hay nói một tiếng nào. Tên cô bị hàng rào lửa ngăn chặn trên các mạng xã hội. Không biết có bao nhiêu người trong nước Trung Quốc được biết chuyện này. Ngày 3 tháng 11, khi viết tên cô “Peng Shuai hay 彭帅” trên Baidu, giống như tìm trên Google, người Trung Quốc có thể nhận được hai triệu tài liệu hoặc tin tức, nhưng bây giờ chỉ còn mấy chục ngàn mẩu tin. Tìm tên Trương Cao Lệ trên Baidu cũng chỉ thấy những bản tin cũ. Chương mục của cô trên Weibo trước đây có 588,000 người theo thường xuyên, đã bị khóa mặc dù mới có thêm 60,000 người tham gia. Theo nhật báo The Wall Street Journal, khi viết tên “Peng Shuai” trong tháng 11 trên Weibo thì chỉ thấy một nội dung cũ, là những lời Trung Cộng phản đối Sứ quán Pháp ở Bắc Kinh vì họ than phiền về những tội hành hạ phụ nữ Trung Quốc!

*Song Thao: Đùa Với Luân Hoán

Tôi mới đọc được ở đâu đó một chuyện vui cười. Tạo hóa sanh ra con người cái chi cũng có đôi có cặp. Hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, hai tí, hai tay, hai chân. Nhưng những thứ ở chính giữa thì chỉ có một. Miệng, rốn và thứ dưới rốn. Vậy nên những thứ lẻ loi này mới phải đi tìm thứ lẻ loi khác để cặp thành đôi.

Định đùa với ông Luân Hoán, không hiểu sao tôi lại nhớ tới chuyện vui này. Chắc tôi nghĩ tới chân của ông. Cả nước đã biết là ông Trung Úy Lê Ngọc Châu đã hy sinh chân trái trong một lần ra trận tại Quảng Ngãi. Vậy nên từ mấy chục năm nay, ông Luân Hoán vẫn không nguôi đi tìm một chiếc chân khác cho đủ cặp. Chuyện cắc cớ là ông chỉ đi tìm chân dài. Thơ ông la liệt chân dài nằm ngang nằm dọc.

mình chân ngắn họ chân dài
bước "đi" tuy vững khó xài tự nhiên
giữ tính mặc cảm di truyền
hóa ra nhờ vậy ngả nghiêng khá bền

Ông này khoái chân, nhất là chân dài, nên có lần ông chơi ép bạn bè. Ông khởi xướng một câu thơ: “Em từ lục bát bước ra” và bắt bạn bè làm thơ tiếp. Bạn bè ông đông đảo, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, đua nhau làm tiếp. Tôi gần với ông quá chẳng lẽ không đáp lời tuy tài làm vè của tôi rất ẹ. Tôi vè một bài tới nay chỉ còn nhớ hai câu đầu. Em từ lục bát bước ra / Dáng đi khệnh khạng leo qua khỏi giường. Tôi dại dột gửi cho ông. Chẳng thấy ông đáp trả chi. Chắc ông ấy giận. Trong nhà ông có tượng Trương Phi nên tính tình ông ấy tôi thừa biết, như lửa rơm. Vèo một cái là xong.

Ông còn nhiều trò khác. Như sáng tinh sương ngày Tết ta, ông lái xe đi khắp nhà bạn bè trong thành phố, treo trước cửa mỗi nhà hai câu thơ chúc. Rồi lẳng lặng lái xe đi. Chủ nhà chỉ phát giác ra thơ mừng tuổi đầu năm khi mặt trời đã lên tới đỉnh. Hay trò phỏng vấn các bà vợ của các tên dính tới chữ nghĩa về ông chồng của các bà, khiến các phu nhân này lâm vào thế kẹt. Nói không thiệt thì lương tâm không chịu ngủ, nói thiệt thì xấu chàng hổ ai.

Lale Gül: Tôi sẽ sống (Nguyễn Hiền dịch)

Lời người dịch.-

Vào tháng 2/2021, tác phẩm đầu tay Ik Ga Leven (Tôi Sẽ Sống) của nhà văn nữ trẻ Lale Gül đã gây sôi nổi trong làng văn học Hòa Lan. Lale Gül (sinh năm 1997), người Hòa Lan gốc Thổ Nhĩ Kỳ, viết tác phẩm này khi cô đang theo học ban Văn Chương. Cô sinh trưởng trong một môi trường giáo dục khắc nghiệt theo Hồi giáo chính thống. Ik Ga Leven là cuốn tự truyện của cô, qua đó cô đã xác định quan điểm của mình, là đoạn tuyệt với lối giáo dục nghiêm khắc này. Ngay khi tác phẩm được xuất bản, cô đã bị gia đình cấm cửa. Những lời kêu gọi giúp đỡ cô cũng không được cộng đồng người Thổ Nhĩ Kỳ ở Hòa Lan hưởng ứng, nhưng cô đã được Parool, một tờ báo lớn của Hòa Lan, mời giữ mục xã luận. Cuộc đời cô sẽ được quay thành phim, và tác phẩm này đã được trao giải NS Publieksprijs 2021 (là giải bình chọn tác phẩm tiếng Hòa Lan do công chúng, một giải văn học quan trọng ở Hòa Lan) với 32% trong tổng số hơn 210.000 số phiếu bình chọn. Dưới đây là bản dịch những trang đầu của tác phẩm, đọc để hiểu một phần vì sao cô bị cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ tẩy chay.

Nguyễn Hiền

***


Tôi sẽ sống


Giá mà tôi chịu đi theo dòng dư luận thì chuyện này đã không xảy ra với tôi, tôi đã không biến thành một kẻ bị ruồng bỏ. Với sự hiểu biết của ngày mốt, ngay hôm nay tôi sẽ đưa ra một quyết định vội vàng và láo xược. Có rất nhiều điều trong cuộc sống nghe thật tuyệt vời nếu bạn nghĩ ra chúng, nhưng nói chung, tốt hơn là bạn không nên thực hiện chúng. Điều tương tự cũng áp dụng cho việc xuất bản tác phẩm này. Do đó, tôi đưa ra cho quý vị lời khuyên sau đây theo cách của Cruijf (1): hãy giấu mọi thứ mà chúng sẽ làm quý vị hối hận sau này.

Tôi đưa quý vị cùng đi vào câu chuyện của tôi. Hãy cho chúng ta hy vọng là tôi quăng được cục đá xuống ao.

Nguyễn Đức Tùng: Đỗ Quyên, Cho Ta Khóc Một Hệ Người

 Đỗ Quyên làm thơ như sống chính cuộc đời mình. Thơ trữ tình và trường ca là công việc chính yếu của anh, mặc dù không phải là tất cả, và trong nhiều năm kể từ thời thanh niên, anh đã dành những nỗ lực quý báu nhất cho chúng. Anh hiểu rằng con người có thể làm được nhiều việc cho nhau, bày tỏ mối quan tâm rõ ràng đối với các vấn đề xã hội, chính trị, trong khi đó, một cách không hoàn toàn hiển nhiên, anh lại thuộc về chủ nghĩa hậu hiện đại. Đỗ Quyên thực ra là một trong những người góp phần phát triển khuynh hướng ấy trong thơ Việt, một cách chừng mực, ngay từ những năm chuyển tiếp của hai thế kỷ, thời kỳ dồn dập biến động: cách mạng, tan rã, chết chóc, lưu vong. Đến nay anh vẫn trung thành với chọn lựa của mình, với những biến đổi nào đó, tất nhiên.

Hôm nay

dương lịch

Mồng Năm tháng Năm

Mắt xen qua ba bông hồng sẽ không bao giờ nở được

Tôi ngồi

            lập danh sách các bạn văn có thể vay tiền

Lúc này

           em đừng về

Hồng thắm đấy

                   nhưng sẽ không bao giờ nở

Đi tìm khuynh hướng nghệ thuật của một nhà thơ, hay của một thời kỳ, bạn có thể nhìn vào nhịp điệu. Nhịp điệu là nơi xảy ra những thay đổi trước tiên, đó là nơi người viết bắt đầu tham dự vào trò chơi ngôn ngữ. Một nhịp điệu thơ mới không từ trên trời rơi xuống, nó được sinh ra từ nhận thức mới, tư tưởng mới, đến lượt chúng những nhận thức và tư tưởng ấy phải bắt rễ từ các thay đổi rộng lớn và sâu xa trong xã hội, văn hoá. Chẳng hạn, thơ mới thời kỳ 1930 đi kèm với cái học phương Tây, luồng gió mới của thời đại, thơ tự do những năm 1960 từ những thay đổi về đất nước, do chiến tranh. 

Gộp hết thiên thu lá rụng không ghi hết lỗi chúng ta với mùa thu

Nghĩ vàng về những mùa thu thực ra không màu vô sắc

Buồn quá lố bao mùa thu nhộn nhạo

Như các cô gái blonde óc hẹp đùi dài

dâm tình không quản ngại mà lưỡi lười vận động

Với mùa thu chúng ta ú ớ ngu đần 


Ngự Thuyết: Home

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Thôi Hiệu

Trong một căn hộ nhỏ ở tầng hai của một chung cư, một buổi trưa.

Ông già đang “vui đùa” với đứa cháu ngoại. Ông đã già lắm rồi, tóc bạc phơ, đi đứng lụm cụm; đứa cháu mới khoảng 6 tuổi, trông thông minh, nghịch ngợm, dễ thương. Bà ngoại đón nó đi học về. Nó sẽ ở lại đấy với ngoại cho đến chiều, rồi bố hoặc mẹ của bé, sau ngày làm việc, sẽ đến đón bé về nhà của bố mẹ gần đấy.

Vừa mở cửa để vào nhà, bé đã cúi xuống cổi giày ngay và nói lí nhí, tiếng lơ lớ, ngọng nghịu:

“A ngoai.”

Ngoại mắng:

“Ạ ngoại thì phải nhìn ngoại mà ạ, chứ sao lại nhìn giày. Muốn ạ giày sao?”

Nó chạy vội tới hôn vào má ông ngoại, xí xoá. Ông hỏi tiếp:

“Bà ngoại đâu?”

“Xe.”

Năm trước học lớp mẫu giáo, nó khá tiếng Việt hơn nhiều.Ở nhà, bố mẹ nó luôn luôn chịu khó nói tiếng Việt với nó, và bắt buộc nó cũng phải trả lời bằng tiếng Việt. Năm nay nó lên lớp Một, nói toàn tiếng Anh với bạn bè tí hon, và với thầy giáo, cô giáo, thì đồng thời nó cũng dần dần quên cái thứ tiếng mà bố mẹ và ông bà mong nó nhớ mãi. Nó quên tiếng “mẹ đẻ” thì cũng khó nhớ đến quê hương cũ, ông già ngẫm nghĩ. Mà quê hương cũ của ai? Nó sinh tại Mỹ, sống tại Mỹ, quốc tịch Mỹ. Vậy quê hương của nó nơi nào? Ông già cau mày, thở dài, vội nghĩ qua chuyện khác.

Trước đây nó đã được bố mẹ mang về thăm ngoại mấy lần khi nó còn bé tý. Nay nó ở gần ngoại, hay nói đúng hơn, ngoại dọn nhà về ở gần bố mẹ nó. Và tuy ngoại không nói ra nhưng bố mẹ nó biết ngoại ở xa con cháu thì ngoại không vui, nếu không muốn nói là buồn. Buồn nhiều.

Xuân Sương: Edith Piaf - Không có gì hối tiếc

Không, không gì cả / Tôi không hối tiếc gì cả / Ngay điều tốt hay xấu thiên hạ làm cho tôi, mặc kệ hết /... / Đã trả xong, đã phủi sạch, đã quên rồi / Tôi cóc cần quá khứ / Với các kỷ niệm / Tôi châm lửa / Mọi nỗi đau, niềm vui / Không cần chúng nữa / Phủi sạch tình nhân / Với giọng rù quyến của họ / Vĩnh viễn quét sạch / Tôi bắt đầu lại từ số không...

Hình Studio Harcourt, Public domain,
via Wikimedia Commons
Giữa tháng 2-2007, phim La Môme về cuộc đời nữ ca sĩ ngoại hạng Edith Piaf của đạo diễn Olivier Dahan ra mắt khán giả khắp nước Pháp. Phê bình của báo chí và khán giả cho điểm bốn sao. Qua sự diễn xuất tài tình của nữ tài tử điện ảnh Marion Cotillard cao 1m75, bỗng dưng Edith Piaf chỉ cao 1m47 lừng lững bước ra khỏi mộ, đau đớn trữ tình, và cả nước Pháp rưng rưng nghe lại giọng ca duy nhất trong lịch sử nhạc Pháp. Điện thư chuyển cho nhau hình ảnh và tiểu sử Piaf kèm bản nhạc Non Je Ne Regrette Rien (Không, tôi không hối tiếc gì cả) mà Piaf đã hát với tất cả sinh lực của con tim suốt đời chấn thương đa cảm. Tiếp đó kênh Arte chiếu phim tài liệu đời Piaf hai bữa liên tiếp ngày 3- 4 tháng 3 khiến người ái mộ chợt giật mình: giữa bao bận bịu cơm áo hằng ngày với chuyện dao búa chết chóc cơm bữa còn có bóng hình Piaf vỗ về, ru mình vào giấc mơ êm ái dù chốc lát. Con số bán sách về Piaf và nhạc vượt lên, làm người ta nhớ lại buổi trình diễn mang tên «Piaf je t’aime» (Piaf tôi yêu cô) hiến cho đời bà, năm 1996, cũng mang kết quả tương tự.

Mặc dầu theo khai sinh, Piaf chào đời ở bịnh viện Tenon, quận 20 Paris ngày 19 tháng 12 năm 1915 dưới tên Edith Gassion, truyền thuyết lại muốn bà sinh ra dưới ngọn đèn đường ở Belleville cùng quận, nơi tụ tập của các tay anh chị, dưới mắt một viên cảnh sát đi tuần! Dù cất tiếng khóc đầu đời nơi nào, Edith lớn lên cất tiếng hát khắp thế giới và được thiên hạ yêu quá đến gần như ghét: một con chim sẻ 1m47 mà vĩ đại đến nỗi khiến các chim đến sau trở thành nhỏ bé. Không thể tìm ra người kế vị. Bởi không những chỉ là Piaf, mà còn cùng thời nước Pháp đã sinh sản những đứa con đem vinh quang cho tổ quốc: Sartre, Cocteau, Chagall... Piaf là nước Pháp, không cần làm marketing, không cần phô trương, chỉ với đam mê và tài năng thực sự...

Tuổi thơ


Bố sống bằng nghề làm xiếc ngoài đường, mẹ người Algérie hát dạo chẳng quan tâm gì đến con nên Piaf được gửi gấm cho bà ngoại. Hai năm sau nhập ngũ, bố gửi Piaf cho bà nội ở Normandie, vùng bắc nước Pháp, là tú bà. Tại lầu xanh, con bé ngày ngày nhìn thấy những tấm lưng trần của các ông chộp hôn gái làng chơi trong hành lang chật hẹp. Có dạo nó bị đau mắt suýt mù. Dầu vậy Piaf được sống mấy năm êm ả trong tình thương của các cô gái, hơn là tình thương của bà nội. Sau chiến tranh bố trở về đem đi sống nay đây mai đó bằng nghề nhào lộn ngoài đường. Để giúp bố, nó hát, và kiếm tiền nhiều hơn trò xiếc sơ đẳng của bố. Từ từ, nó nhận ra giọng đặc biệt của mình rồi đến năm 15 tuổi từ giã bố để bay nhảy với đôi cánh riêng nhỏ bé.

Nguyễn Lê Hồng Hưng: Đặc Sản Quê Tôi

Quê hương của Trúc Thanh nằm nép mình cuối dãy Trường Sơn. Nơi đó có núi, rừng, ruộng, rẫy và biển xanh. Thanh chưa bao giờ đặt chưn xuống miệt đồng bằng. Từ ngày về chung sống với tôi, Thanh chỉ biết quê chồng qua những câu chuyện kể hoặc đọc qua sách báo và xem phim ảnh chớ chưa một lần nhìn tận mắt. Thanh ao ước:

- Ngày nào về nước em sẽ về quê anh, em rất thích sóng nước miệt đồng bằng sông Cửu Long.

- Em ở miền núi nên em thích đồng bằng cũng như anh ở miệt đồng bằng thì thích về miền núi — tôi tự hào khoe với vợ — quê hương anh được cái là thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều món ăn dân dã, anh cam đoan với em, từ Trung ra tới ngoài Bắc không đâu có được miền trù phú như U Minh.

- Nói cho cố đi ông!

- Em dìa rồi em sẽ biết.

Tôi không nói quá lắm đâu. Quê tôi vùng ven thuộc về U Minh Hạ, ra biển thì tôm cá biển, vô sông thì cá tôm sông, lên ruộng thì cá đồng, rùa, rắn... Trên trời chim chóc rất nhiều loại như: diều hâu, diệc, cò đen, cò trắng, le le, chằn bè, vịt nước... Những vườn cò, sân chim mỗi nơi rộng hàng chục công đất vuông. Nhứt là vào những buổi chiều chim, cò bay về rợp bóng mát và kêu ríu ra ríu rít vang động cả góc rừng. Cò mần ổ trên những bụi chà là có nhiều gai nhọn. Đầu mùa mưa, cò đẻ trứng, người ta chuẩn bị áo, quần và may bao tay dầy đề phòng gai chà là quẹt rách da, chảy máu. Họ mang gùi, vác móc vô rừng móc một buổi đầy hết gùi nầy sang qua gùi khác, họ ăn cho tới khi trứng lộn mới ngưng lại. Đợi tới khi trứng nở con, chờ cò con bể bọng, mọc lông non, đủ thịt thì họ lại xách gùi vô một đợt nữa móc lấy cò con đem về bán cho quán nhậu hoặc tự làm đồ nhậu.

Nghe tới đây Thanh chận:

- Cò con ăn được sao?

- Được chớ, cò con thịt thơm, xương mềm, đem nướng, khìa nước dừa hay rô ti thì ăn rất ngon và nhậu rất bắt.

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2021

GIÁO SƯ VŨ QUỐC THÚC QUA ĐỜI


Được tin buồn, Giáo sư Vũ Quốc Thúc, một khuôn mặt trí thức lớn của Việt Nam, đã qua đời vào ngày 22 tháng 11, 2021 tại Paris, Pháp Quốc, thọ 101 tuổi.

Để tưởng niệm Giáo sư, chúng tôi xin đăng lại dưới đây bài giới thiệu bộ hồi ký “Thời Đại Của Tôi” của Giáo sư, do Phạm Xuân Đài trình bày trong lần đầu tiên ra mắt bộ sách này tại Little Saigon, California cách đây đúng 11 năm.

DĐTK

*

ĐỌC BỘ HỒI KÝ ‘THỜI ĐẠI CỦA TÔI’ CỦA GS VŨ QUỐC THÚC

Phạm Xuân Đài

Trong năm 2010 này, nhà xuất bản Người Việt đã phát hành một lúc hai tác phẩm mang tên chung là Thời Đại Của Tôi của giáo sư Vũ Quốc Thúc, cuốn I có tên riêng là Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, cuốn II là Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến.


Nhất Linh: Lan Rừng

Hình minh hoạ


Quang xuống xe rồi vào một cái nhà ở đầu phố để hỏi thăm đường đi Bản Lang và để thuê ngựa. Người cho thuê ngựa hỏi:

– Ông vào nhà ai trong đó?

– Vào nhà ông Vi Văn Hoài. Đường vào đấy có xa lắm không?

– Độ mười cây số thôi. Nhưng ông phải đi ngay kẻo trời tối mất. Để tôi lấy con ngựa thật khỏe ông đi cho chóng. Ông vào trong ông Hoài thì tôi không cần cho người đi theo dắt ngựa về, khi nào ra, ông đem ngựa lại trả tôi cũng được.

Rồi người cho thuê ngựa chỉ tay về phía một con đường lên dốc, bảo Quang:

– Ông cứ đi theo con đường đó. Đến một cái chùa đã đổ nát, thì ông rẽ sang bên tay phải, rồi đi thẳng, khi nào đến một cái cầu gỗ là đến Bản Lang.

Lên hết chỗ dốc, Quang cho ngựa chạy phóng để kịp đến trước khi tối trời.

*

Đi vài cây số gặp một cái chùa đổ nát, chàng theo lời người cho thuê ngựa rẽ về bên tay phải, rồi lại cho ngựa phóng. Nhưng đi được ít lâu, chàng có cảm cái tưởng là lạ rằng con đường đương theo không phải là đường về Bản Lang, tuy chưa lần nào chàng về Bản Lang cả. Chàng tự cho mình nghĩ thế là vô lý, rồi cứ cắm đầu quất ngựa.

Cung Tích Biền (Tùy bút): Thu đi, Cá trở về nguồn

Buổi sơ nguyên của lý luận mang hơi hướng triết học, có câu chuyện giữa hai triết gia Trang Tử và Huệ Tử. Đứng trên cầu, nhìn dòng nước sông Hào trong vắt, bầy cá lội tung tăng. Một này nói, Bầy cá bơi đùa, cá vui nhỉ. Kẻ kia bảo, Ông có là cá đâu mà biết cá vui buồn. Ông này trả lời, Ông có là tôi đâu mà biết tôi hiểu hay không hiểu, cá buồn hay vui.

Là, do liên tưởng, cái đầu tôi mông lung bá láp vầy thôi, khi chiều nay tôi cùng nhìn thấy cá. Tôi và Kim đến Seattle những ngày mùa thu, thăm bạn. Cùng là mơ màng với nắng gió nồng nàn, khi sắc thu đổi màu. Cây. Lá. Và rừng. Cả núi đồi. Nghìn màu. Nồng và lạnh. Ấy là trên mặt đất. Rất ngậm ngùi khi Nguyễn Đức Quang đưa tôi đi xem cá trong dòng sông Cedar. Một sông nước cá hồi. Sông thì có cá, đương nhiên. Nhưng cá này, đặc biệt, cùng nhau bơi ngược dòng. Chúng đang trở về nguồn. Sao mà cá biết nhớ nguồn?

Sông Cedar, tiểu bang Washington, tây bắc nước Mỹ, phát khởi từ vùng núi Cascade, không dài lắm, chừng 45 dặm [72 cây số] rồi hòa vào hồ Washington to lớn, vùng Seattle.

Một con sông nhỏ nhưng rất đẹp. So với núi non hung vĩ, biển cả ngoài kia, và hồ Washington tưởng như mênh mông, Cedar là một thiếu nữ, với bí ẩn lẫn hoang đường. Tôi đến với Renton Memorial Stadium. Đi qua Cedar River Trail, một lối đi bộ từ Maple Valley, qua Renton ra tới bờ hồ Washington. Sông hai bờ, nhiều nơi thẳng tắp, song song nhau như một kênh đào. Vừa đi, thơ thẩn nhìn, lòng thương nhớ những con kênh Nam Kỳ. Nhớ Châu Đốc, Hà Tiên, Vĩnh Long, Bạc Liêu, những con kinh đục màu phù sa. Nguồn nước Phương Nam quê nhà, không trong vắt như Cedar, nhưng phù sa nhiệm mầu đã bao đời nuôi dưỡng con người.

Renton, Tây Bắc Mỹ. Một sáng lạnh. Trời lúc nắng hoang, lúc sương mù. Mù sương biến những cây lá thu, bức tranh lắm màu kia trở nên một cảnh trí kỳ ảo. Là thoát thai từ một thiên nhiên lẽ ra được bày biện trung thực trong nắng hiện.

Lê Hữu: Những sợi vắn, sợi dài trong truyện Hoàng Quân



“Ký ức biết chọn lọc, chỉ giữ lại những mầu hồng mà thôi.”

Tôi nhớ đã đọc câu ấy trong truyện ngắn nào của Hoàng Quân, dường như nhân vật nào ở trong truyện đã thốt lên như vậy. Tôi không chắc có phải tác giả đã để nhân vật nói thay cho mình nhưng tôi thích câu nói ấy; hơn thế nữa, tôi tin là ký ức của tác giả cũng chỉ muốn giữ lại màu hồng và những truyện của Hoàng Quân mà tôi từng đọc cũng là được ghi chép lại từ một ký ức tươi hồng. 

Màu hồng phơn phớt ấy có thể nhìn thấy được qua các truyện ngắn trong tập truyện Sợi Vắn, Sợi Dài (*), qua mối tình nhẹ nhàng phất phơ như cánh cò bay lả bay la trong truyện Ca dao hay mơ màng lãng đãng như chuyện liêu trai trong truyện Người trong mộng, hay qua những “hoa bướm ngày xưa” nơi sân trường kỷ niệm trong truyện Thầy trò một thuở… và nhiều truyện khác nữa.


Lâm Vĩnh Thế: Dịch Thơ Đường

Bài viết này ghi lại một vài suy nghĩ chủ quan dựa trên kinh nghiệm cá nhân tương đối giới hạn của người viết về việc dịch thơ Ðường sang tiếng Việt, hay nói cho đúng hơn là chuyển dịch thơ Ðường sang thơ Việt.  Người viết không phải là người đầu tiên làm công việc này và cũng chắc chắn sẽ không phải là người cuối cùng.  Và đây chính là lý do hình thành của bài viết này: để chia sẻ hứng thú và kinh nghiệm với những người đồng điệu.

Vài nét về thơ đường

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, triều đại nhà Ðường (618-907) là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của thi ca, cả về lượng lẫn về phẩm.  Tại nước ta, trong suốt bao nhiêu thế kỷ, "Ðường thi được coi là kho tàng điển-cố trân-quí, là khuôn-mẫu mệnh ý, dụng ngữ cho các nho sĩ khi làm thơ chữ cũng như thơ nôm." [1]    Ngay cả sau khi Nho học đã suy tàn, thơ Ðường vẫn còn rất được ưa chuộng tại Việt Nam.  Số người thưởng thức và chuyển dịch thơ Ðường sang thơ Việt rất nhiều nhưng nổi tiếng nhất thì phải kể đến Tản Ðà và Ngô Tất Tố trong giới cựu-học và Trần Trọng San trong giới tân-học.  

Phần lớn các tài liệu về văn học Trung quốc đều phân chia văn học thời Ðường làm 4 giai đoạn: Sơ Ðường (618-713), Thịnh Ðường (713-766), Trung Ðường (766-835) và Vãn Ðường (836-905).  Mỗi giai đoạn đều có nhiều thi sĩ nổi danh nhưng hai ngườI nổi tiếng nhất là Lý Bạch (701-762), được gọi là Thi Tiên, và Ðỗ Phủ (712-770), được gọi là Thi Thánh; cả hai đều thuộc thời Thịnh Ðường và đều để lại một sự nghiệp rất vĩ đại.  

Một trong những đóng góp quan trọng của thời Thịnh Ðường là việc hoàn thiện thể thơ mới để thay thế cho thể thơ cổ phong, gọi là thơ cận thể hay kim thể, với luật lệ rất nghiêm ngặt, chặt chẽ.  Do đó về sau người ta gọi là luật thi: ngũ ngôn luật thi hay thất ngôn luật thi.

Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập đến việc chuyển dịch một số bài thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt, 4 câu 7 chữ. 


Huỳnh Liễu Ngạn: Màu Trăng Cô Lữ

Hình minh hoạ. Rattakarn_, Pixabay
anh về đứng ở thừa thiên
màu trăng cô lữ còn nghiêng giữa dòng
tóc dài em thả bến sông
ánh sao màu nhạt còn long lanh chiều

mắt em bay bổng thúy kiều
trên mui vạt nắng ít nhiều đông ba
anh vô ngã giữa tam tòa
màu trăng cô lữ rẻ qua âm hồn

ngó về vỹ dạ mưa tuôn
dòng sông thả nhánh cây buồn chỏng chơ
anh chờ thành nội ngu ngơ
kéo tay em lại mộng mơ ít ngày

mưa chi mưa cứ làm đày
để tóc em ướt guộc gầy mùa đông
anh về theo gió hướng sông
nhìn vai em mộng qua đồng chợ mai

lên xe cửa thuận trăng cài
áo em mỏng dính hương lài thôn anh
màu trăng cô lữ khuynh thành
cho em xõa tóc trời xanh ngó nhìn

bóng chiều rụng lá vàng hiên
nước trôi cầu gãy mẹ hiền ru con
mắt kia em có hao mòn
làm con cá lội không còn vẫy đuôi

anh đi lụt lội năm rồi
màu trăng cô lữ đã trôi lên trời.

17.9.2020 - 23.11.2021

HLN

James Thurber: Tuyệt Chiêu (The Catbird Seat - Gió ViVu phỏng dịch)

Lời người dịch:


Cổ nhân xưa có câu:

Họa hổ, họa bì, nan họa cốt.
Tri nhân, tri diện, bất tri tâm.

Có nghĩa là:

Vẽ hổ chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương.
Biết người, biết mặt, nhưng không biết được lòng.

Câu nói của cổ nhân từ xa xưa nhưng cho đến nay vẫn đúng và vẫn còn được ứng dụng hằng ngày trong giao tế xã hội, trong đối nhân xử thế.

Dò sông, dò biển dễ dò.
Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

Dù ở phương Đông hay phương Tây cũng giống nhau, con người thật đa dạng, đa tài, đa mưu túc kế,...!

Tiểu Sử Tác Giả:


Sinh tại Columbus - Ohio, James Thurber (1894 - 1961) thích lấy quê nhà làm bối cảnh cho những câu chuyện khôi hài của ông. Những mẫu nhân vật điển hình trong truyện thường là một người cha hiền lành, nhu nhược bị ăn hiếp, bắt nạt bởi một bà mẹ khôn lanh, đanh đá; và những cuộc chiến tranh hay sự ganh đua, xung đột xảy ra giữa hai phái nam và nữ trong xã hội. Thurber viết cho tờ báo The NewYorker vào năm 1972 và đã được nhiều độc giả biết đến với những bài văn, truyện, hoạt họa và những hí họa rất đặc sắc.

Sau Mark Twain, Thurber được công nhận là nhà văn hài hước nổi tiếng nhất nước Mỹ. Hầu hết những tác phẩm của ông viết về những hậu quả của những cuộc hôn nhân không êm ấm, không thuận buồm xuôi gió; những ảnh hưởng xấu của nền công nghệ, kỹ thuật; và sự tác hại của chủ nghĩa Phát- xít. Thurber ưa thích dùng những hình tượng thú vật trong truyện vì ông rất ngưỡng mộ và cho rằng đó là những hình ảnh đặc thù gây ấn tượng sâu sắc nhất.

Thurber đã viết rất nhiều tác phẩm hay, nổi tiếng và đoạt được một số giải thưởng, bao gồm: My Life and Hard Time (1933), The Middle-Aged Man on the Flying Trapeze (1935), Further Fables For Our Time (1940), The Thurber Carnival (1945), and Thurber's Dogs (1955).

TUYỆT CHIÊU 

Gió ViVu phỏng dịch

Martin đã mua một gói thuốc lá hiệu Camels vào tối thứ Hai trong một tiệm bán Xi-ga rất đông khách ở đường Broadway. Đó là giờ người ta đi coi hát, nên có khoảng bảy hay tám người đến mua thuốc lá cùng lúc. Người bán hàng bận bịu đến nỗi không có thì giờ để ý nhìn mặt từng người khách, Martin lẹ làng đút gói thuốc lá vào túi áo khoác rồi bước nhanh ra cửa. Nếu có ai trong công ty F & S mà nhìn thấy Martin đi mua thuốc lá thì chắc hẳn họ sẽ ngạc nhiên lắm lắm vì ai cũng biết là hắn không hút thuốc và cũng chưa từng có ai thấy hắn phì phèo điếu thuốc bao giờ.

Nguyễn Văn Tuấn: Lịch sử “Dư luận viên”

Mạ Thủ 罵手


Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi, giống như “dư luận viên” ngày nay. Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

“Mạ Thủ” - Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có một việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhất nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

Tàu ngày xưa là nơi sản sinh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, nhưng họ mang một danh xưng văn hoa hơn: dư luận viên. Tiếng Hoa là "wumao". Báo chí phương Tây gọi họ là "50 cent Army" ("Lực lượng 50 cent"). Tại sao là '50 cent'? Tại vì mỗi mạ thủ được trả lương 50 cent cho mỗi 'bình luận' họ viết trên mạng.

Ai là những mạ thủ thời nay? Theo nghiên cứu của GS Gary King (ĐH Harvard), họ là những nhân viên, cán bộ của Nhà nước. Nhưng họ không phải cán bộ bình thường, mà phải qua một quá trình tẩy não sao cho họ không còn khả năng suy nghĩ một cách logic. Nói tóm lại, bọn mạ thủ là những kẻ không có khả năng đánh giá đúng sai, họ chỉ đơn giản là những cái máy phun ra những câu chữ mà có khi họ không hiểu.

Thùy Dương: Quầy sách cổ, sách cũ - nét chấm phá dọc bờ sông Seine

Các hiệu sách cũ dọc bờ sông Seine, gần nhà thờ Đức Bà Paris. RFI

Du khách đến với Kinh Đô Ánh Sáng, khi đi dạo dọc bờ sông Seine, ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ của những cây cầu như Pont Neuf, Alexandre Đệ Tam, các công trình kiến trúc - lịch sử danh tiếng như Nhà Thờ Đức Bà Notre Dame de Paris, tháp Eiffel …, chắc hẳn không thể làm ngơ trước 250 quầy sách nhỏ, màu xanh lá cây thẫm bày bán vô vàn cuốn sách cổ, tạp chí, bản đồ, bưu thiếp, áp phích quảng cáo phim ảnh, tem thư cổ, quý hiếm hay đơn giản chỉ là những cuốn sách cũ …

Những quầy sách cũ dọc bờ sông Seine còn được người dân Paris gọi bằng một cái tên khác là « các tiệm sách sông Seine ». Nhìn thì có vẻ đơn giản, khiêm nhường, nhưng các « tiệm sách sông Seine » nhỏ nhắn đó, cùng với quần thể dọc bờ sông Seine, đã được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới vào năm 1991.

250 quầy sách cũ nằm dọc 3km kè sông Seine, với khoảng 1.000 thùng sách và số sách được bày bán lên tới khoảng 500.000 cuốn. Đây được coi là khu hiệu sách ngoài trời lớn nhất trên toàn thế giới. Ở tả ngạn, các quầy sách cũ tập trung từ kè Tournel tới kè Voltaire. Ở hữu ngạn sông Seine, các quầy sách lại nằm rải rác từ cầu Marie tới kè Louvre. Về lịch sử, các quầy sách cũ xuất hiện cách đây khoảng 400 năm, vào đầu thế kỷ 17, dưới thời trị vì của vua Henri IV.