Tìm kiếm Blog này

Ts. Nguyễn Hữu Phước: CHỮ VIỆT THUẦN CHỈ SỐ 1, 2, &10

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018


Trước khi vào chi tiết về những chữ số Hán Việt, chúng ta lược khảo qua về những chữ số Việt thuần.  

Con số một được dùng trong dân gian dưới nhiều hình thức phong phú qua những chữ số Việt thuần nầy. Rất nhiều bài nhạc, câu thơ, và những câu ca dao, tiếng nói của văn học bình dân, sử dụng hết sức tài tình những chữ đồng nghĩa hoàn toàn Việt Nam của con số một, số 2, và số 10.  

CHỮ VIỆT THUẦN CHỈ SỐ 1

Chúng ta có những chữ Việt thuần cùng nghĩa: từng, mỗi, lẻ, chiếc, và một.

                                     
Từng = Một

Từng = mỗi một cái, mỗi một đơn vị.  Chữ từng dùng chỉ số một một cách rất độc đáo, nói lên sự nhấn mạnh của ý tưởng đang được diễn tả: trông đợi từng phút, từng giờ, từng ngày; đọc từng trang, chú ý từng chữ, bước từng bước, v.v.

   Nhạc sĩ Khánh Băng với bản Chiều đồng quê:
                        Chiều là chiều ơi, Nắng chiều dần buông khắp nơi  
                        Từng bầy chim tung cánh bay về cuối trời. . .
  Kim Tuấn - Y Vân, Những bước chân âm thầm:
                        Từng bước từng bước thầm,
Hoa vòng rừng tuyết trắng…
                        Gió rét về lạnh căm, Từng bước chân âm thầm . . .
 
  Thi sĩ Đinh Hùng với bài thơ Kỳ nữ:
                         Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm,
                         Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận.

Thi sĩ T.T. KH  trong bài Hai sắc hoa Ti-gôn:
                        từng thu chết, từng thu chết,
                        Vẫn dấu trong tim bóng một người.                                     

Mỗi = Một

Trong tiếng Việt, mỗi chỉ một như “đưa cho mỗi người một lon nước ngọt”.
Chữ mỗi một đi chung nhấn mạnh tích cách chắc chắn là chỉ có “một” mà thôi. Thí dụ “trong túi chỉ còn mỗi một đồng”. Nhưng đặc biệt là khi hai chữ mỗi đi chung: mỗi mỗi = tất cả (hết thảy). 

Tôn Nữ Hỷ Khương tả người yêu trong bài Chiếc áo xanh lam:
                        Em mặc vào trên đường chiều vui dạo,
                        Nhớ thương về trong mỗi bước chân đi.
Nguyễn Lưu trong bài Một buổi chiều:
                        Anh gửi về Quê mỗi buổi chiều, 
                        Mây hồng xứ lạ lặng em yêu.
T.T.KH (Hai sắc hoa Ti-Gôn):
                        Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn,
                        Nhặt cánh hoa rơi cảm thấy buồn.
Ca dao:          
                        Trách lòng con nhện lăng loàn,
                        Chỉ bao nhiêu sợi mỗi đàng mỗi giăng.
Truyện Kiều, trong đoạn tả về chị em Thúy Kiều và Thúy Vân, có câu:
                        Mai cốt cách tuyết tinh thần,
                   Mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười.  
                                   
Lẻ = Một   

               Chữ “lẻ” cũng có vài nghĩa khác nhau: 

a) = Vụn, nhỏ như bán lẻ, mua lẻ.

b) = Số dư ngoài số nguyên trên số trăm như 204 = hai trăm lẻ bốn. 
Hai nghĩa vừa nói không liên hệ gì đến chữ một.

c) Lẻ liên hệ đến “một” = không đủ một cặp, chỉ có một mình thôi như trong những chữ lẻ bóng, lẻ đôi, lẻ bạn, lẻ loi, lẻ gối, lẻ bầy.

Hoàng Hương Trang trong bài Người đi có câu:
                        Từ xa nhau, từ quên nhau,
                        Cánh chim lẻ bóng khuất sau bụi mờ.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (Tình thứ nhất), viết:
                        Em cười chế diễu: Anh thường bảo,
                        Ưa kiếp giang hồ sống lẻ loi.
Thêm vào, bài Lá thư ngày trước, ông có viết:
                        Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối,
                        Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau.

Ca dao có những câu sau đây:
                        Thân anh như con phụng lạc bầy,
                        Thấy em lẻ bạn anh muốn gầy nhân duyên.
                  
                   Qua đình lột nón chào thần,
                   Hạc chầu thần đủ cặp sau mình lẻ đôi.
                       
                         Người về chăn chiếu có đôi,
                        Để tôi gối chiếc, lẻ loi một mình.
                       
Ngày nay loan phụng lẻ bầy, 
                   Nam Vang xa xứ khó gầy yến anh.
(Còn nhiều câu ca dao với chữ lẻ bạn, lẻ đôi, lẻ loi, lẻ bầy).

Chiếc = Một

Chiếc có nghĩa là một, hay một phần của một đôi như chiếc giày, chiếc đũa. Ngoài ra “chiếc” còn hàm chứa một sự lẻ loi, không đủ cặp.

Ca dao: Vai mang bầu rượu chiếc nem,
                           Mảng say quên hết lời em dặn dò.
                           Linh đinh chiếc bách* giữa dòng,
Thương thân góa bụa, phòng không đợi chờ.
(*bách = thuyền đóng bằng gỗ cây bá, loại cây to trong rừng, gỗ cứng có sớ, nhẹ, dễ tách rời theo chiều dọc).

   Xiết bao bể ái vơi đầy,
                           Yêu ai luống những tháng ngày chiếc thân.

Trong truyện Kiều, khi Thúc sinh ra đi, Kiều ở lại nhìn trăng lẻ bóng, cô đơn trong phòng vắng:
                        Mảnh trăng ai xẻ làm đôi.
                        Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường.

Nguyễn Bính trong bài thơ Ghen:
                        Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ, 
Đừng tắm chiều nay biển lắm người.

Trong Chinh Phụ Ngâm (CPN), khi vợ tiễn chồng ra đi, và một mình trở về nhà:
                        Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm, một mình xa xôi.
             Trong một câu với bốn “chữ số”, tác giả truyện CPN đã diễn tả được bốn trạng thái khác nhau:  Chiếc bóng = một mình quạnh hiu ở nhà; năm canh = suốt đêm = đêm dài; muôn dặm = chàng ra đi ở một phương trời xa thẩm; một mình = cô đơn ở nơi xa xôi.  Tuyệt thay.

Chữ Một = 1
           
Có nhiều định nghĩa cho chữ một:

a)  Một = số một: Một lần hai là hai, “một cảnh hai quê”, “một lòng một dạ”.

Ngoài ra còn có nhiều chữ rất thông dụng và dễ hiểu: Một bề, một bên, một bụng, một chúc (chốc) = khoảng thời gian ngắn, một chút (= ít), một đàng, một lời, một mực, một chặp, một hơi (một mạch), một khi, một đời, một nhà, một nước, một năm (tháng, ngày), một chục, một trăm, v.v. Tục ngữ:

       Của một đồng công một lượng. 
       Một con ngựa đau, cả tàu nhịn cỏ.

Mộng Tuyết, trong bài thơ Hòn Một (tên một đảo nhỏ ở biển Hà Tiên):
                                    Trên Hòn Một, hai người,
Hai người lòng như một,
Yêu nhau giữa biển trời.

            Bùi Chí Vinh (B’lao):
Làm duyên một chút để anh hiền,
                        Dịu dàng một chút cho anh sợ, 
                        Một chút gì như thể buốt tim.
             
           Ca dao:    Chưa chồng đi dọc, đi ngang,
                            Có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.
(Còn rất nhiều câu ca dao dùng chữ một.)

Tháng một âm lịch (lịch theo mặt trăng) gọi là tháng giêng.  

Thái Tú Hạp (Tình tháng giêng em):
`           Trong vườn em tháng giêng vừa nẩy lộc,
Con chim nào vừa hót dễ thương.

Ca dao: Tháng giêng là tháng ăn chơi,
                          Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè.
           
            b) Một = chồng chất thêm, ví dụ “gọi tên từng người một”. 
Ca dao: 
                        Đường dài ngựa chạy gió bay,
Ngỡi nhân thăm thẵm một ngày một xa.
            T.T. KH (Hai sắc hoa Ti-Gôn):          
                        Đâu biết một đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.

c)  Một = không thay đỗi, vẫn y như vậy, quyết lòng.  
Ca dao: 
             Ra đi em một ngó chừng,
                         Ngó sông sông rộng ngó rừng rừng sâu.
                        Thuyền ơi có nhớ bến chăng,
                        Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

d)  Một = ít, chỉ có vậy, mất đi.  Ví dụ:  “Nhà tôi có nuôi một vài con gà”; “ chỉ có một mình ên mà dám băng rừng”;  “nó đi như vậy rủi có mệnh một thì làm sao”. 

Ca dao VN còn có rất nhiều câu dùng các con số một, hai, ba, bốn . . .trong việc tỏ tình giữa nam, nữ:
                        Buồn riêng rồi lại tủi thầm,
                        Một duyên, hai nợ, ba lầm lấy anh.
            Một vui, hai sướng, ba mừng,
      Còn sầu một nỗi chưa hun được nàng.

(Còn Tiếp)

Sách tham khảo: Ở cuối bài chót của loạt bài
VIỆT THUẦN VÀ HÁN VIỆT TRONG CON SỐ VN



Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đối với Ngự Thuyết, nội dung và hình thức là một thể nhất quán bao trùm mọi đề tài, trong đó tâm thức lưu đày được trình bày khá nhiều dưới những dạng khác nhau. ... Đây là tư duy nòng cốt của Ngự Thuyết. ... Nó là một hiện thực làm cho Ngự Thuyết băn khoăn và còn “vang vọng lâu dài vào hồn, vào tim của những thế hệ mai sau”... - Lê Hữu Mục

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.