Tìm kiếm Blog này

Phạm Xuân Đài: HỒI ỨC TUỔI THƠ

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018



Rt khó xác định hình nh sm nht trong đời mà mt người còn ghi nh được khi ln lên là gì. Đó là mt s hình nh ri rc, đôi khi mù m như t mt gic mơ. Mt đứa tr bt đầu nhn thc được thế gii ging như mt người va ng mt gic qua đêm thc dy vào lúc bình minh, và ý thc bt đầu hot động ging như ánh sáng ban ngày va ló dng. Nhiu hình nh còn ngái ng. Nhng hình nh khác l m vì bui sm chưa đủ ánh sáng. Nhưng t ch ging như gic mơ đó, nhn thc cng cáp dn, đi qua sut tui thơ để vào vùng trưởng thành. 
Tôi sinh ra ti làng Tiên Đào, ph Bình Sơn, tnh Qung Ngãi, nơi thy tôi dy hc mt thi gian dài vào khong t cui thp niên 1920 cho đến năm 1945. Thy tôi bt đầu cuc đời dy hc năm 1922 ti Phan Thiết, có đổi v Bình Định mt thi gian ngn, ri nhim s cui cùng trong thi Pháp thuc là trường Tiu hc ca ph Bình Sơn, nơi thy tôi làm hiu trưởng trong nhiu năm. Chc chn nhng hình nh đầu tiên còn nm trong trí nh ca tôi là thuc v khu ph l ca cái ph có nhiu núi thp (bình sơn) cc bc ca tnh Qung Ngãi y. Con sông Trà Bng chia ph l Bình Sơn làm hai, bên t ngn là khu hành chánh và trường hc, hu ngn sm ut hơn vi ch Châu và các tim buôn bán. Ni hai b là cây cu bê tông ca quc l 1.
Nhà tôi nm bên t ngn, mt căn nhà tường vôi mái lp lá da, ven quc l, có sân trước và vườn sau. Chính ti nơi này tôi đã có nhng ký c đầu tiên ca đời mình. Tôi thy mình lúc thúc chơi mt mình trên hiên nhà vng vi mt chiếc xe hơi bng thy tinh, thot đầu cha nhng viên ko nh xanh đỏ, sau khi hết ko ri thì có ai đó b vào cho tôi nhng ht cườm ngũ sc, hoc nhng con b cánh nhiu màu bt đâu đó trong vườn. Đó là nhng gi khc tôi nhà mt mình vi m tôi mà tôi gi bng m, anh ch em chúng tôi gi cha m bng thy m ging như người Bc- thy tôi cùng các anh ch ln và đám hc trò tr đông đúc đều đến trường hết. Cùng nhà vi tôi chc chn còn có anh Hin ca tôi, hơn tôi ch mt tui, nhưng rt l là trong trí nh ca tôi, ít khi thy anh chơi chung vi tôi. Vui sướng nht là nhng lúc m tôi gi người bán tht heo do vào trong sân để mua tht thì th nào tôi cũng được cho mt miếng gan và mt miếng huyết luc sn. Tôi nh mình cm miếng gan, miếng huyết va nhy cà tưng va ăn. Điu l là cho ti gi phút này tôi hu như nh rõ nét mt ca bà bán tht heo cùng các dng c, hàng hóa ca bà, dù lúc đó tôi ch độ chng bn, năm tui. Đó là mt người đàn bà có nước da đỏ au, ming hơi móm, gánh mt đôi r trt đường kính độ mt thước tây, trên có np đậy, bên trong đựng nhiu tng tht heo, sng có, luc chín có, và mt cái cân bng st, mt cái dao ct tht.
Mt món quà khác thnh thong tôi được m cho ăn là đậu h hoc xu xoa, cũng mua t nhng người quy gánh đi bán do. Nhng chén xu xoa trong veo rưới mt màu nâu đối vi tôi lúc by gi là mt món quà thn tiên, ni vui sướng được ăn mt chén như thế tôi nh tht là vô b.
Nhng ký c vào nhng năm sm sa ca đời người sau này được tôi coi gn như là huyn thoi, ging như nhng s tích đầu tiên trong quá kh ca mt dân tc vy, mù mù m m, lm ch không hp lý, không đáng tin lm. Nhng gì tôi nh li t thu bn, năm tui, tôi biết đó chính là quá kh ca mình, nhưng tôi có khuynh hướng không tin hn, tôi thy nó cũng như t mt cõi mù m mà ra. Như ngôi nhà bên đường quc l thuc ph Bình Sơn ca thy m tôi chng hn, vào cui năm 1947 t Qung Nam đi tn cư ngược vào Qung Ngãi, lúc đó tôi chín tui, gp li nó, tôi đã ngc nhiên sao nó vn ging y như nhng gì mình vn thy trong ký c ca mình. Hình như lúc đó tôi có ý nghĩ: À ngôi nhà y nó có tht như thế
Tôi còn nhiu ký c vi m tôi, cho đến khi bà qua đời vào năm 1944, tôi s ln ln nh và viết ra, nhưng bây gi tôi mun nói đến mt k nim đáng k trong quãng đời thơ u ca tôi, đó là nhng chuyến tàu la mà tôi đã được đi rt sm. Quê tôi làng Đông Bàn, ph Đin Bàn, tnh Qung Nam, t khi thy tôi đổi v dy hc Bình Sơn thì nhng chuyến v thăm quê ca gia đình tr nên d dàng, ch cn lên xe ga Phước Thun mt ga nh ca ph Bình Sơn sau my tiếng đồng h là đến ga Xuân Đài thuc khu Gò Ni ca Đin Bàn. Bây gi tôi không th biết là hi đó xe la đi hết my tiếng vì tôi hoàn toàn không có ý nim thi gian trên nhng chuyến tàu đó, sau này ln lên thì nghim ra rng đó là nhng chuyến tàu ch, đi chm, ghé nhiu ga, và quãng đường gia hai ga Phước Thun Xuân Đài thì trên dưới mt trăm cây s, vy chuyến tàu phi mt khong năm, sáu tiếng đồng h. Mt điu chc chn là tôi được đi xe la rt thường t hi còn m nga cho đến khi lên by, là năm 1945. 
Chiếc đầu máy hơi nước đen lùi lũi và tiếng huýt còi có âm sc rt cao và kéo dài, nghe có v thm não rên siết, không ging như tiếng còi trm vang mt cách hơi hách dch ca loi đầu máy diesel sau này. Trong toa xe hng ba ghế g, nhìn qua ca s khi tàu chy thy nhng si giây đin c liên tiếp h xung ri li vt lên, khi qua cây ct đin thì nhng si giây lên cao nht ri xung rt nhanh để ri li vt lên đầu mt cây ct khác. Giây đin lên xung như mt điu múa theo tiếng tc tc... xình xình... đều đều ca bánh tàu lăn trên đường st. Nhng ch ni toa cũng là mt thế gii ly k ca tôi, nhìn xung đường thy mt dòng đá tuôn chy vùn vt bt tn, và hai toa tàu cùng lc lư nhưng cùng kéo nhau chy hoài. 
Hình nh trong toa và phong cnh bên ngoài tôi nh không gây nơi tôi mt n tượng mnh m nào, ngoi tr mt ln trong chuyến đi t ga Xuân Đài vào Bình Sơn tôi thy mt cái nhà gia đồng, trong sân nhà có mt người đàn bà đang sy lúa bng mt cái nia. Đó là mt cái nhà tranh vách đất như bao như nhà khác thôn quê, chái nhà cũng có mt cái ci xay lúa, và mt con chó đi thơ thn trong sân. Ch có vy thôi mà lúc đó tôi cm thy bi hi man mác, mt ni nh mông lung. Hình như hình nh y làm tôi nh làng Đông Bàn mà mình va ri b, nhưng có th không hn như vy, có v đó là hình nh đầu tiên trong đời gây nơi tôi mt ni cm hoài liên quan đến x s ca mình. Lòng tôi nao nao mt ni thân thiết vi căn nhà và vi mt sinh hot chc là đã có t ngàn đời nơi đồng quê, và không hiu sao, hình nh y gn cht trong tâm khm tôi sut đời. Sau này tn cư đi b dc theo con đường st y nhiu ln tôi c quan sát xem có gp li ngôi nhà y không thì thy vô s nhng ngôi nhà ging như vy, nhưng không phi là ngôi nhà đó và không bao gi có li mt người đàn bà đang làm lng như thế, vi con chó đang thơ thn trong sân như tôi mt ln đã thy t trên con tàu chy vt qua lúc hãy còn bé xíu. Hình nh tôi gi trong tâm trí tôi y như là mt loi gic mơ, sut đời mi khi nh li tôi vn thy lòng trào dâng mt ni thương nh. Có th lòng nh quê là mt yếu t bm sinh trong mt s người, và đến mt lúc trong đời, do mt tác động nào đó thì nó bt ra trong cm thc, và người đó vt bng thy nh, thương, mc dù mình vn còn đang ngay gia quê hương ca mình. 
Có my chuyến xe la mà tôi còn nh khá rõ. Mt chuyến đi vi m tôi t Phước Thun v, tôi không chc là xung ga Xuân Đài hay là K Lam, din tiến chuyến đi tôi cũng không nh, mà tôi ch nh lúc v ti nhà Đông Bàn, bui chiu m tôi và cô Tư tôi ngi nói chuyn vi nhau nhà ngang. Bng m tôi có vic gì đấy phi m ví ca mình ra, và tìm thy cái vé xe la, tôi nh bà nói: Hi nãy trên ga quên mt không đưa li vé cho h. Hi đó, và hình như sau này min Nam cũng vy, khi hành khách ra khi ga thì có người đứng ca thu li vé tàu. Được m cho cái vé y, tôi sướng mê. Đó là mt miếng bìa dày hình ch nht màu vàng đất trên có bm my l, tôi không bao gi ng mình có được tm vé xe la đó, vi cm chy ra ngoài chái nhà để bt đầu đi nhng chuyến xe tưởng tượng ca mình. Tôi leo lên mt cây tre gác ngang để làm mt vic gì đấy, ming bt đầu m máy kêu phì phì và thân người nhún nhy theo nhp xe chy. Tôi nh rt rõ lúc y tôi cm thy thú v vô cùng vi trò chơi y, dù ch mt mình mà xe c chy mãi trong bui chiu không thy chán. 
Đó là mt bui chiu tĩnh mch và trong sáng thôn quê, hình như là vào mùa xuân. Nhà vng v, nhà trên ch có mt mình ông ni tôi nm trong mt bung riêng chái trên, dưới nhà ngang ch có cô Tư và m tôi đang nói chuyn. Chơi xe la chán, tôi li chy vào nhà sà vào lòng m. Thi thơ u ch thnh thong mi v thăm quê nhưng tôi vn có cm giác rt thân mt vi cái nhà ca ông bà ni ti Đông Bàn, đứng ta vào m tôi thy rt bình an trong s vng v ngan ngát ca bui chiu hôm y. 
Tôi cũng nh rt rõ mt chuyến xe la khác, cũng đi vi m tôi t ga K Lam vào ga Qung Ngãi. Hình như đó là chuyến quay v nhà sau chuyến v Đông Bàn va nói. M tôi dn tôi lên ga K Lam vào bui chiu. Ga K Lam nm bên t ngn sông Thu Bn là nhà ga chính ca tnh Qung Nam lúc by gi tnh l đặt Hi An, tôi nh cơ ngơi khá đồ s ch không có v ga xép như Phước Thun và nht là ga Xuân Đài trông ging như mt cái trm xe buýt v sau này các đô th. M tôi gp và nói chuyn vi mt người tr tui làm vic trong nhà ga tên là anh Lc, và anh t ra rt vui v và kính trng m tôi, sp xếp cho m con tôi đi mt chuyến tàu hình như là min phí vào ti hôm đó. Bây gi nghĩ li tôi chc thi đim đó là vào đầu năm 1944, chiến tranh gia đồng minh và Nht đã tràn vào Đông Dương, và s di chuyn ha xa đã bt đầu có nhng khó khăn, bng c là ti hôm đó chúng tôi lên mt chuyến tàu có v đặc bit, không phi là tàu hành khách, và phi ngi trên sàn mt toa xe ch hàng ti om. Tôi nhìn ra ngoài trong lúc xe chy, ch thy tri sao và đêm ti mt mùng, có l sau đó tôi ng và ch thc dy khi tàu đến ga tnh l Qung Ngãi. Hình nh sau đó là mt quán ăn v khuya loi quán ven sân ga chuyên bán cháo, ph, cơm cho hành khách đi mun, tôi được m tôi cho ăn mt tô cháo tht. Tôi nh lúc đó tôi đã t cm mung ăn ly, và m tôi để ý thnh thong tôi đưa cái mung xung phía dưới bàn, bà bèn cui nhìn và hi tôi: Con b cái gì vy? và bà cht hiu “À, con không ăn được hành phi không, để m ly hành b qua bát ca m. Sau đó hai m con ng trên mt cái chõng tre sau tm màn ngăn đôi quán cho đến sáng. 
(Còn tiếp)

(Khi s viết t 2006 và b b quên sut 12 năm)







Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đối với Ngự Thuyết, nội dung và hình thức là một thể nhất quán bao trùm mọi đề tài, trong đó tâm thức lưu đày được trình bày khá nhiều dưới những dạng khác nhau. ... Đây là tư duy nòng cốt của Ngự Thuyết. ... Nó là một hiện thực làm cho Ngự Thuyết băn khoăn và còn “vang vọng lâu dài vào hồn, vào tim của những thế hệ mai sau”... - Lê Hữu Mục

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.