Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Văn Sâm: Trương Minh Ký, người đầu tiên dịch Thơ Ngụ Ngôn của La Fontaine

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018


LTS: Nhiều thế hệ học sinh Việt Nam trong thế kỷ 20 đã học thuộc lòng các bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, và vẫn đinh ninh rằng Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên và duy nhất đã dịch quyển thơ này sang tiếng Việt.
Thực ra, vào cuối thứ kỷ thứ 19, một người ở Nam Kỳ đã dịch khá nhiều bài của La Fontaine, đó là ông Trương Minh Ký.Xin mời bạn đọc xem bài dưới đây của Giáo sư Nguyễn Văn Sâm về sự kiện này.(đính kèm bài này, giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã giới thiệu và chú thích 17 bài thơ dịch La Fontaine của Trương Minh Ký. Chúng tôi xin phép chỉ đăng lại hai bài). DĐTK


Trương Minh Ký: Những bài thơ ngụ ngôn
dịch trước Nguyễn Văn Vĩnh


Bây giờ nếu ta đi trên đường Trần Hưng Đạo, quận Nhứt Sài Gòn, trước khi quẹo sang con đường chạy thẳng lên Cầu Ông Lãnh thì thấy một ngôi trường Tiểu Học coi cũng khang trang. Đó là trường tiểu học Nguyễn Thái Học, tên trường mới được đổi lại năm 1957, chớ trước đó nó là trường Trương Minh Ký. Lý do của sự đổi tên nầy khá nhiều, nhưng tựu trung vì những nhân vật có tên trong hội đồng đổi tên phần nhiều không biết Trương Minh Ký là ai, họ chỉ biết Trương Vĩnh Ký và nghĩ rằng có thể là người trước đã đặt sai tên cho trường nầy [1]. Tôi hân hạnh được học hai năm ở đây, thời cụ Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Phác, trước khi thi đậu vô trường Petrus Ký. Còn nhớ rõ thường trước khi trống đánh, tôi la cà trong tiệm sách Yiễm Yiễm Thư Trang của nhà thơ Đông Hồ, đối diện với trường, coi cọp sách nầy sách kia, ngắm nghía lạ lùng một vị thư sinh mặc áo dài khăn đóng ngồi sau bàn viết, sau lưng nhiều bức liễn hoành phi quốc ngữ viết bằng bút lông với một thư pháp đặc biệt.. Từ bên nhà sách ngó qua, tôi thấy thân thương và hãnh diện về ngôi trường của nho nhỏ của tôi: Trương Minh Ký, coi cũng được ớn so với trường hai ba trường tư cùng trên khúc đường nầy là Lê Tấn Thành và Nguyễn Văn Khuê…

Tôi chẳng biết gì về nhân vật Trương Minh Ký cho tới khi chú tâm vô văn học Miền Nam. Bao nhiêu năm tìm tòi, biết được một chút tiểu sử, thấy hình ngôi mộ Trương Minh Ký ở Gò Vấp nhưng cơ may gặp tác phẩm của ông không nhiều, thậm chí một cái hình của ông cũng không có. Tiếc quá!
Thư Viện Trung Ương Pháp ở Paris, nơi được tiếng là phong phú thư tịch của Việt Nam cũng chỉ có chứa 5 quyển của Trương Minh Ký: 
1. Ca Từ Diễn Nghĩa (1894),
2. Trị Gia Cách Ngôn (1895).
3. Phú Bần Truyện Diễn Ca (1896 ).
4. Tuồng Kim Vân Kiều (1896-97 ). 
5. Tuồng Phong Thần Bá Ấp Khảo (1896) [2]. 
Trong năm quyển nầy thì Kim Vân Kiều và Bá Ấp Khảo là hai quyển phiên âm từ chữ Nôm. Ca Từ Diễn Nghĩa   Trị Gia Cách Ngôn là những quyển sách mỏng vài mươi trang dịch mấy bài thơ Trung Quốc. Phú Bần Truyện Diễn Ca là sách dịch một quyển tiểu thuyết Pháp ra thể song thất lục bát (mà cho đến nay tôi cũng không biết đó là quyển gì, ai là tác giả). Cái tài tình, sở học của Trương Minh Ký có thể thấy nhưng chưa rõ ràng bằng những quyển Chư Quốc Thại Hội, Như Tây Nhựt Trình ông viết du ký hai lần đi Pháp bằng thơ một kể cuộc hành trình dẫn mấy học sinh sang Alger du học, và một nói những điều mắt thấy tai nghe khi làm Thông ngôn cho phái đoàn của hoàng thân Miên Triện đi dự đấu xảo ở Paris nhân dịp khánh thành tháp Eiffel. Cũng vậy cái tài chuyển văn từ ngôn ngữ Pháp sang ngôn ngữ Việt phải đọc được trong quyển Chuyện Phan Sa Diễn Ra Quốc Ngữ, bản in Sàigòn, 1884.
Quyển nầy gồm 17 bài dịch ra văn vần và 150 bài dịch ra văn xuôi được sắp xếp chen lẫn nhau. Sau đây xin giới thiệu những bài ngụ ngôn văn vần đó. Mong rằng do sự giới thiệu nầy, các nhà nghiên cứu có hứng khởi làm một cuộc khảo sát tường tận để hiểu rõ cách dịch của ông mà tôi không đủ khả năng thực hiện. Nhìn tổng quát ta có thể thấy ngay Trương MinhKý đã thêm thắc chi tiết, thay vài điều khó hiểu của nguyên thể bằng những điều dễ hiểu đối với người Việt. Gặp trường hợp ông còn dùng ca dao tục ngữ để cho người đọc dễ thấm thía hơn. Tác giả dùng chữ nôm na, thông dụng của thời mình nên đây là tài liệu quí và sống động để hiểu cách nói của người thời cuối thể kỷ 19 mà tự điển, dầu là tự điển của người đương thời cũng không thể cung cấp được.
Cũng nên nói rằng Trương Minh Ký với 17 bài dịch đã đi trước Nguyễn Văn Vĩnh hằng ba mươi năm trong phương diện nầy. Lâu nay chúng ta chỉ biết Nguyễn Văn Vĩnh mà không biết người tiên phong vì lý do binh lửa, tài liệu mất mát… nay đã đến lúc khi nói về công trình ngụ ngôn dịch của Nguyễn Văn Vĩnh thiết nghĩ người làm văn học cũng nên thêm vô rằng trước ông đã có người làm chuyện nầy và làm đã thành công đó là nhà văn của Nam Kỳ Lục Tĩnh hồi cuối thế kỷ 19, nhà văn Trương Minh Ký.
Chúng tôi sau đây đăng lại 17 bài dịch của Trương Minh Ký mà chúng tôi đánh máy lại cố giữ đúng từng chữ cả với cách dùng dấu [, !...] với 65 chú thích về từ cổ, từ địa phương, một vài nhận xét nho nhỏ khi có dịp, chỉ cố giúp bạn đọc dễ hiểu hơn bài văn. Những vấn đề dạy bảo có tính cách luân lý hay túi khôn có trong bản văn không là đối tượng cho chúng tôi để ý đến vì lẽ đây chỉ là bản dịch. Cách dùng từ nhuần nhuyễn, điêu luyện nhưng bình dân của Trương Minh Ký và ý hướng giới thiệu tư tưởng cùng lối suy nghĩ của người Pháp với quần chúng Việt đó mới là điểm son cần ghi nhận. Tài liệu có được là nhờ sự giúp đở của LM Triết, Sàigòn, xin được gởi lời cám ơn từ người giới thiệu.
Nguyễn Văn Sâm
(Port Arthur, Texas tháng 12 năm 2007 Mười năm đọc lại) 
1.    CON QUẠ VỚI CON CHỒN 

Quạ kia đang đậu trên cây,
Mỏ tha bánh sữa hơi này bay xa.
Đánh mùi chồn đến dỉ [3] ra:
“Xem qua hình cụ [4], thì là quá xinh!
Lông đà tốt cả và mình [5],
Giọng kia được tốt thiệt tình vô song.”
Quạ nghe chẳng xiết vui lòng,
Muốn khoe tiếng tốt quên phòng [6] miếng ăn.
Chồn ăn đặng của cười rân [7]:
“Cụ ôi! Nghe lấy lời răn sửa mình:
Kẻ dua người nịnh đừng tin,
Đã ăn của cải lại khinh dại khờ.
Lời đây bánh đấy cũng vừa [8],
Thôi đà biết lỗi dốc chừa [9] thì thôi.”
Ăn năn thì sự đã rồi,
Mới thề chẳng để gạt đôi ba lần.


2. CON DƠI VỚI HAI CON CHỒN

Con dơi té xuống hang chồn,
Sợ thôi thất vía kinh hồn ngã lăn.
Chồn ra ngó thấy dỉ rằng:
“Dòng ngươi chí quyết lòng hằng hại ta.
Phải ngươi loài chuột nói ra,
Oán xưa nay trả, chẳng tha nghịch thù.”
Dơi than: “Oan ức lắm ru!
Tôi nào loài chuột, nỡ vu cho đành!
Hóa cơ phân biệt [10] rành rành;
Tôi chim có cánh, chúc lành loài bay.”
Dối lời tráo chác [11] khéo thay,
Chồn nghe phải lẽ; tha ngay may hồn!
Đôi ngày rồi gặp cảnh buồn:
Té nhằm hang khác, bị chồn ghét chim.
Than thân trách phận nổi chìm;
Mới ra khỏi đấy, lại tìm vào đây!
Tưởng chim chồn quyết phân thây.
Thoát nghe dơi thốt lời nầy mới thôi:
“Trời sanh tai mắt nghe coi,
Chim, nào lông cánh, xét soi chút tình.
Tôi là chuột xạ hóa hình;
Chúc cho loại chuột loài mình sống dai!
Mèo kia, trời giết cả loài!
Để chi thú ấy hại hoài chuột đi.”
Lòng gian dạ dối ai bì;
Đôi lời chim chuột mần ri [12] cứu mình. 

Chú thích:  

[1] Trường hợp ngược lại thì có tên đường Sương Nguyệt Ánh (sai) và trường tiểu học Sương Nguyệt Anh (đúng), cũng ở Sàigòn!
[2] Bibliothèque Nationale – Catalogue du Fonds Vietnamien 1890-1921 – Mme Le Thi Ngoc Anh -1987, p. 170.
[3] Dỉ: Nói nhỏ. Dỉ ra, dỉ rằng, đều có nghĩa là nói. Ngày nay thường dùng rỉ (hơi, lời…), cách nói dỉ bị cho là sai, quê mùa!
[4] Hình cụ: Hình (dáng của) ông. Chồn phỉnh quạ nên tôn xưng và khen điều không thiệt.
[5] Tốt cả và mình: Đẹp khắp cả mình mẫy.
[6] Đề phòng.
[7] Cười rân: cười lớn, cười vang. Rân: om sòm, rần rộ.
[8] Lời đây bánh đấy cũng vừa, chồn coi như mướn chồn dạy quạ khôn trả tiền bằng miếng bánh. Nếu biết học khôn thì miếng bánh cũng không mắc, chỉ khổ là bài học học hoài không thuộc.
[9] Dốc chừa: dốc lòng bỏ không làm điều xấu nào. Thí dụ dốc chừa cờ bạc, rượu chè…
[10] Hóa cơ phân biệt: cơ thể của tôi tiến hóa biến đổi rõ ràng như thế nầy…
[11] Tráo chác: tráo trở, không thiệt thà, xoay lời nói qua lại tùy theo lợi lộc và hoàn cảnh.
[12] Mần ri: như vậy, như thế. Tôi nghĩ Trương Minh Ký  túng vần nên dùng hai chữ mần ri ở đây, vốn không phải từ thông dụng ở Sàigòn Lục Tỉnh lúc đó.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý

Giới thiệu


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)