Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Đức Tùng: TRẦN DẠ TỪ, THUỞ LÀM THƠ YÊU EM

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018


Trần Dạ Từ & Jim Webb, Capitol Hill, VA., Tháng Hai, 28, 1992

Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.

Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương
Kìa những ngày thơ rụng đỏ chân tường
Kìa sự sống như những chiều bãi biển

Thơ Trần Dạ Từ là tình yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ; tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ,  từ đó mở ra những ngã rẽ cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta. Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức, phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.


Chuồng gà đã bỏ không từ lâu
Chả còn tiếng gì giục giã nữa
Trong các góc phòng và cánh cửa
Bóng tối đập đôi cánh vùng vằng

Thơ ca dạy ta cách vượt qua biên giới giữa bóng tối và ngày mới, giữa căm phẫn và thương xót, cách đi qua sự trống rỗng vô nghĩa của tồn tại, truy tìm những thực tại mới hay ý nghĩa của những thực tại ấy. Thơ Trần Dạ Từ, mặt khác, ca ngợi tình yêu, niềm vui vỡ òa lồng ngực của tuổi trẻ; có bài được phổ thành ca khúc nổi tiếng. Trong giai đoạn sớm, tính chất yêu đời và hồn nhiên của ông vẫn nổi bật hơn cả.

Tỉnh dậy dưới chân đồi
Ruộng ngô ai ngào ngạt
Chạy khắp ruộng tìm coi
Nào ngờ em trốn mất

­Được nén lại trong kích thước năm chữ, nhiều khổ thơ, "Mùa Ngô Cũ" là một trong những bài thơ trong sáng, dễ đọc. Trần Dạ Từ cũng có nhiều bài thơ tình khác, cùng thời, đôi khi ngôn ngữ khá cũ kỹ, rõ ràng do ông chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của thơ tiền chiến. Khi vượt qua được ảnh hưởng ấy, ông có những bài thành công hơn hẳn.

Rất sớm, tình yêu từ thời niên thiếu đã pha đậm tình dục, mạnh mẽ, cảm xúc, gần như điên rồ, trong bài thơ lục bát ngắn:
Biết yêu người thủa mười lăm
Trong vườn ngây dại ta nằm sót sa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời với em
(Buổi Hẹn Đầu, toàn bài)

Thể xác ấy không chỉ ao ước tình nhân mà còn muốn ôm lấy cả đất trời, cùng bao thèm muốn khác. Da thịt tcười, vì muốn xé toang giới hạn của chúng. Như thế là ông đã dùng cỏ cây để mô tả một thứ tình yêu ướt đẫm thể xác trước hay cùng thời với Bùi Giáng: cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao.

Tuy đã làm chủ các loại thơ vần điệu, nhưng thực ra chỉ ở thể tự do, thơ Trần Dạ Từ mới hoàn toàn sảng khoái, phóng túng, rào rạt.

Anh sẽ về, câu chuyện mùa thanh trà
Dăm ba nỗi đớn đau đôi chút niềm hối tiếc
Là tình yêu chúng ta
Hai trái tim nhỏ nhoi
Gom lại báo động thế kỷ này
Những đất đai chia cắt
Công phẫn ngực, nghẹn ngào hơi
Chờ chóng mặt
Là tình yêu chúng ta
Hai nỗi bi thương cộng một
Tiếng kêu tổ quốc này
Đòi mở mắt
Hai niềm tin hèn mọn những lòng tin chất ngất

Bài hát ấy nhắc anh thời có em
(Thơ Tình Năm Tám )

Trần Dạ Từ làm thơ từ thời trẻ, khoảng những năm 1950, nhưng bút hiệu ấy chỉ xuất hiện cùng với những bài thơ tình đầu tiên từ năm 1957 trên bán nguyệt san Gió Mới do Nguyên Sa chủ bút, và từ năm 1958 trên tạp chí Sáng Tạo, Mai Thảo chủ biên. Sinh tại miền Bắc, Trần Dạ Từ là nhà thơ miền Nam thời chiến tranh hai mươi năm.  Nửa đầu của những năm sáu mươi, thời kỳ miền Nam biến động, với chiến tranh lan rộng, cũng là lúc thơ ông thực sự đổi khác. Đó là thơ tuổi của hai mươi chấn động và nhập cuộc, không chỉ trên trang giấy mà còn trong đám đông. Những bài thời kỳ này tới sau nhưng được tập hợp in thành sách trước, trong tập "Tỏ Tình Trong Đêm", xuất bản 1965. Sách sau đó bị tịch thu vì tính chất phản chiến (1). Thơ của tuổi trẻ chiến tranh và bụi bặm thành phố.

Khi buổi chiều rụng xuống lũ cột đèn đứng lên
Con phố này nỗi đau buồn bật sáng

Lời hát ru an lành từ nguồn cội nay bị đẩy sâu vào tình huống hoang tàn tang tóc của cuộc chiến: 
Ru con mượn bóng thay người
Mượn bia làm gối mượn trời làm chăn
Mượn giông mượn bão làm màn
Mượn cây làm quạt mượn tàn làm hiên
Mượn sao làm mắt mẹ hiền
Mượn nơi chiến trận làm miền rong chơi
Mượn xương máu bọc nụ cười
Mượn cơn bom đạn làm lời ru con
(Bài Ru Mới, toàn bài)

Riêng những bài thơ tình đầu tiên, tuy tới sớm hơn, từ những năm 1950, nhưng mãi tới 1971 mới được in thành sách, trong tập "Thuở Làm Thơ Yêu Em"(2). Thuở là một khoảng thời gian rộng, nhiều ngày hay nhiều năm, thay đổi tùy mỗi người, tùy ký ức, vì thuở là nhớ lại. Thuở làm thơ là một lịch sử, một chương của lịch sử nối vào những chương khác. Đó là không gian bạn đã sống, thời gian bạn đã yêu, thở, chết, sống lại. Một khúc quanh, một dòng sông, một cây cầu gẫy, bạn ngắm nhìn, đặt tay lên, và bạn lắng nghe: tiếng rì rầm tàu chạy.

Người đi qua đời tôi
Chiều âm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương
Tiếng hát nào hơ nóng

Chúng ta có những ngày như vậy, mùa hè ríu rít chim chóc, mùa đông ảm đạm chết người, mùa thu lịm tắt, cỏ cây không hồi phục. Thơ tình Trần Dạ Từ như căn nhà, bếp lửa, cánh cửa sổ, ở đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người khác. Những bài thơ ngắn nén chặt, bạn không thể buông ra giữa chừng, như một thể thống nhất, giữa sự vật, thời gian đi qua nhanh như cắt khiến lịch sử không kịp hiện hữu. Khi thì như đứa trẻ lớn lên trên đường phố, dan díu, hóa thân.

Tường vôi trắng là hồn

Dù về sau tác giả làm thơ tự do nhiều hơn, lục bát Trần Dạ Từ vẫn là một dòng tươi tắn, mới lạ, tài hoa. Tình yêu như niềm vui thú: niềm vui của tình yêu là có thật, lớn lao, khó cắt nghĩa, bàng hoàng; nhận thức về nó đẹp như ảo giác. Trong các loại tình như tình mẫu tử, tình yêu bí nhiệm đối với đấng tối cao, tình huynh đệ, tình nhân loại, thì tình yêu nam nữ biến ảo nhất, bất ngờ, ngọt ngào, chua xót nhất, để lại dấu ấn lớn lao bậc nhất trong đời sống cá nhân.

Tiếng cười đâu đó giòn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời

Tình yêu như một công việc: sống là công việc khó khăn, sống trong tình yêu càng khó khăn. Những thử thách của chiến tranh, tù đầy, nghèo đói, các hoàn cảnh phi nhân tính, guồng máy bạo lực xấu xa, và các cá nhân độc ác quanh ta, thuộc đủ mọi lập trường, lúc nào cũng hiện diện. Thơ tình vừa ca ngợi tình yêu vừa chuẩn bị cho người đọc nỗi âu lo của các nhân vật, sự hoang mang, số phận đen tối của họ. Những người yêu nhau phải kết hợp để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua yếu đuối của chính họ, tan rã của chính họ.

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông
Trên môi ta, vạn đóa hồng
Hôn em trời đất một lòng chứa chan
Tiếng cười đâu đó ròn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa.

(Nụ Hôn Đầu, toàn bài )

Đây là bài thơ tình nổi tiếng của Trần Dạ Từ, và, tôi nghĩ, một trong những bài lục bát hay nhất của mọi thời đại. Hình ảnh và giọng điệu di chuyển giữa lối kể chuyện và ca khúc; một câu chuyện thông thường, không có gì đặc biệt. Chỉ là mối tình đầu. Và tình đầu nào cũng tan vỡ, và khi nhớ lại bạn không thể nào hiểu tại sao nó tan vỡ. Tình đầu bao giờ cũng đẹp vì được bạn nhớ lại và vì nó đẹp thật. Một mối tình đẹp như thế phải được đặt trong bối cảnh thơ mộng hợp với lứa tuổi mới lớn. Cái tài tình của Trần Dạ Từ là ở đây: khung cảnh. Một khung cảnh giản dị, thuần phác. Có thể có người cho rằng đó là khung cảnh thuần túy nghệ thuật, không có thực. Điều thú vị là tất cả những cảnh được mô tả, trưa vàng, cỏ biếc, tiếng ve, đều là cảnh thông thường, dễ gặp trong một mùa hè nhiệt đới, không phải cảnh mai lan cúc trúc như trong thơ Đường, cũng không phải cảnh đượm màu giấc mơ:

Vùng cúc bên ngoài đọng dưới sương
(Xuân Diệu)

Cũng không cách điệu như trong lục bát tiền chiến:
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh
(Lưu Trọng Lư)

Thơ Trần Dạ Từ, vào những năm khởi đầu của miền Nam, cố gắng vượt khỏi ảnh hưởng của thơ lãng mạn, chạm tới khuynh hướng hiện đại, nghiêng về tả thực, về một khuynh hướng ngôn ngữ giản dị và trực tiếp, khách quan. Trong toàn bài thơ, chỉ có một hình ảnh có vẻ không thật, nhưng lại được tác giả chỉ ra rõ ràng:
Trên môi ta, vạn đóa hồng

Đó là cách nói tượng trưng, hơn là hình ảnh của bài thơ. Câu thơ ấy thực ra không có gì đặc biệt, nhưng dễ được người đọc chấp nhận vì nó chủ ý nói về một tâm sự chứ không mô tả. Cái hay của toàn bài là sự mô tả sống động, mặc dù giản dị, các hình ảnh được lặp đi lặp lại, mở đầu và kết thúc cân đối, ngắn gọn mà miên man, vì gợi lên nhiều hoài niệm, khơi đúng mạch tình cảm nhiều người. Đó là cách đọc liên văn bản. Anh chỉ cần biết, đối với anh, tình yêu là mới, cái cầm tay là mới, môi hôn là mới.

Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vô thức tình yêu.

Tiếng ve râm ran ở đâu? Hàng cây, lưng chừng giữa trời và đất. Nhưng thật ra chúng từ đâu tới? Một lần tôi trở lại Huế, vào chùa Thiên Mụ buổi trưa, đi thẩn thơ trong vườn, nhớ người thiếu nữ tên một loài hoa đã cùng đi qua đó nhiều năm trước, trong im lặng, chợt trỗi vang lừng âm nhạc kỳ lạ, có dễ hàng chục năm tôi chưa được nghe. Thứ âm nhạc ấy vang lên, không phải từ một phía mà hai, bốn phía, khắp nơi, không phải từ những nhành cây nơi ta biết loài ve sầu thường sống ở đó, mà từ trên trời, đám mây, từ dưới đất, trong cỏ, từ phía sau chiếc xe hơi trong vụ tự thiêu nổi tiếng kia. Và lúc đó tôi biết rằng tôi được nghe tiếng ve lần đầu, miên man thế này:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông

Như vậy xúc cảm là mới nếu sự kết hợp hình ảnh là mới. Mới và chân thành. Dựa vào một nhạc điệu quen thuộc, lục bát Trần Dạ Từ sử dụng hình ảnh không xa lạ nhưng trong một kết hợp lạ, ít nhất là đến thời điểm ấy, và sự trở lại của nó ở đoạn cuối, vừa là sự kết thúc đẹp vừa là sự mở lớn chiều kích xúc cảm, nâng chúng lên. Sự đau khổ mà số phận mang lại còn chưa đến, những tình nhân hãy còn ngây thơ. Thế giới với ta là một. Chúng ta yêu nhau, trời đất yêu nhau. Chúng ta muốn hòa bình. Muốn bên nhau đời đời.

Hôn em trời đất một lòng chứa chan

Trời đất một lòng với chúng ta. Trời đất dung chứa chúng ta và được làm đầy lên bởi tình yêu của chúng ta. Nhưng rồi cũng như tất cả những mối tình đầu khác, tình yêu chỉ tự ý thức về mình khi nó không còn hiện hữu, như linh hồn nhìn ngắm lại cuộc hiện sinh của mình sau khi đã bay ngoài cõi.

Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời  vai anh

Tự do của một đất nước cũng tự ý thức về mình như thế, một khi không còn nữa.

Và hạnh phúc cũng thế. Tuổi thơ càng thế.

Nhưng thiên nhiên vẫn ở đó, tan nát rồi bền bỉ, bối cảnh tình yêu vẫn còn. Sức mạnh của ký ức mang chúng ta trở lại, giữa đất trời, trong đúng thứ phối hợp màu sắc như hội họa.

Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh

Đây là sự sắp xếp lại câu lục trên kia:
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng

Chính sự tráo đổi các cặp chữ, trưa từ trước ra sau, vườn từ sau ra trước, gây ra ấn tượng xáo trộn thời gian, chuyển ngược kim đồng hồ. Chính nhờ sự chuyển dịch vừa tự nhiên vừa nhân tạo ấy mà thi sĩ gặp được người cũ của mình.

Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa
Đỏ như vết thương.

Một bài thơ tình nở bừng bừng như phượng mà vẫn dịu dàng khiêm tốn. Đó là sự quan sát bị phân rã trong thời đại tối tăm, một tình nhân đứng đó giữa đổi thay thời thế, bơ vơ tìm dấu tình đầu như nguồn cội. Cảm giác được thấy lại lần đầu tiên sự bừng nở và lụi tàn của mùa hạnh phúc. Có sự giao thoa giữa giấc mơ và hiện thực, giữa quá khứ và hiện tại, sự tự vấn giữa sôi nổi thèm khát và hoài niệm. Trong vài trường hợp khác, có bước nhảy vọt giữa ý nghĩa này và ý nghĩa khác, hoặc giữa ý nghĩa và vô nghĩa:
Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt

Người đi qua đời tôi
Chiều ầm vang tiếng sóng
Bàn tay mềm khói sương

Như thế là có vị của siêu thực.

Tuy nhiên thơ ông nhắc nhở người đọc về hiện hữu của thế giới khác, của người khác, khi chúng ta đã vào hẳn bên trong tâm hồn tác giả. Không có một thiên đường để mất. Quá khứ ám ảnh:
Những ngày thơ đánh mất
Còn níu theo chân đòi

­Tình yêu của Trần Dạ Từ già hơn tuổi của mình, triết lý, suy nghiệm.

Người đi qua đời tôi
Hồn lưng mùa rét mướt
Đường bay đầy lá mùa
Vàng xưa đầy dấu chân
Lòng vắng như ngày tháng
Đen tối vùng lãng quên

Đó là tình yêu bị đánh cắp. Cơn bão bên kia thành phố sắp tới. Thời gian không thuộc về chúng ta. Cuộc chiến tranh không thuộc về chúng ta. Mọi thứ ngoài tầm kiểm soát của tuổi trẻ, của thi sĩ. Ngay cả trong những bài thơ tình như bài này, âm điệu thì du dương, vì vậy đã được phổ nhạc, ngôn ngữ của ông vẫn cứ sắc bén. Sau khi thi sĩ nói xong, mọi người đều thấy đó là ngôn ngữ bình dân, dễ dàng, gần như ai nói cũng được, nhưng trước ông, không ai nói thế.

Không ai nói:
Người đi qua đời tôi
Không ai nói:
Mây mù lên mấy vai
Gió mù lên mấy trời

Chưa ai từng nói:
Không nhớ gì sao người

Ngôn ngữ đằm thắm mà cứng cỏi, dồn nén mà bồi hồi. Sự thân mật trong thơ Trần Dạ Từ là đặc biệt. Sự thân mật: đó là khoảng cách giữa tác giả và người đọc, giữa người đọc và nhân vật văn chương. Mặc dù thoạt nhìn, thơ ông kín đáo độc thoại, không có giao tế, kịch, một ngôn ngữ thầm thì, nhưng đó là trò chuyện giữa hai người dưới ngọn đèn mờ tỏ, kể lại chuyện tình dưới đêm trăng, vết thương trong bùn lầy nước đọng, tội ác trong rừng, các biên giới mà thơ trữ tình muốn chạm tới. Giọng nói của người kể chuyện nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, chi tiết, tỉnh thức, soi sáng, tự ý thức về mình, của một cá nhân vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ. Dù đôi khi tác giả chỉ nói về một sự vật thoáng qua, một kỷ niệm nhỏ.

Thủa làm thơ yêu em
Trời mưa chưa ướt áo
Hoa cúc vàng chân thềm
Gió may lưng bờ dậu

Chiều sương dầy bốn phía
Lòng anh mấy ngã ba
Tiếng đời đi rất nhẹ
Nhịp sầu lên thiết tha

Thủa làm thơ yêu em
Cả giòng sông thương nhớ
Cả vai cầu tay nghiêng
Tương tư trời thành phố

Anh đi rồi lại đến
Bài thơ không hết lời
Bao nhiêu lần hò hẹn
Sớm chiều sao xa xôi

Mười bẩy năm chợt thức
Bây giờ là bao giờ
Bàn tay trên m ái tóc
Nghìn sau còn bâng quơ.
(Thuở Làm Thơ Yêu Em, toàn bài)

Thương nhớ xảy ra trong khoảng cách. Khoảng cách càng lớn, trong không gian hay thời gian, thương nhớ càng tăng lên. Như vậy tình yêu trong Trần Dạ Từ là thương nhớ, nghĩ về, sống lại. Tình yêu ấy được sinh trở lại bởi khoảng cách, hoài niệm. Hoài niệm là đặt bạn vào vị trí ngoại biên và đối tượng được hoài niệm di chuyển về trung tâm. Thủ pháp nhân cách hóa được Trần Dạ Từ sử dụng thường xuyên, trở thành một trong những phương pháp chính yếu. Ngôn ngữ thơ là sự bắc cầu giữa vẻ đẹp và hiện thực mới, giữa vẻ đẹp và sự thất bại, giữa niềm đau có thật của t ình y êu và mất mát có thật của chiến tranh. Một trong những lợi thế của phong cách trầm tư, độc thoại, với cấu trúc rộng mở, buông lỏng, như trong bài thơ Thuở Làm Thơ Yêu Em là các câu thơ nối vào nhau một cách liên tục nhưng không quá chặt chẽ, các hình ảnh có thể đảo ngược, thậm chí trật tự thời gian cũng có thể xáo trộn, nhưng câu chuyện ấy vẫn là câu chuyện được kể lại, tuy rời rạc, chắp nối mà vẫn chỉ có thể là của một người, và của người ấy mà thôi. Đó là nhờ giọng điệu âu yếm và lo âu. Lo âu nhưng không sợ hãi. Thật ra đó là một hình thức suy nghĩ về tương lai, sự tiên đoán về những sự kiện sắp xảy ra, nhu cầu định hướng trong một thực tại hỗn loạn của tình yêu và ly tán, của tội ác chống con người trong chiến tranh và sau chiến tranh, của sự nhầm lẫn giữa sự thật và gian dối. Tình yêu đầy âu yếm và xao xuyến là của một người hoàn toàn lành mạnh đi giữa những hoàn cảnh khắc nghiệt.

Năm suốt những con đường mưa giông
Năm dọc những bờ hè giá rét
Năm với lời vỗ về chiều tàn
Năm cùng tiếng trở mình khuya khoắt
(Giã Từ Năm Thìn, trong tập Tỏ Tình Trong Đêm)

Bên kia âu lo là chờ đợi. Bên kia chờ đợi là hy vọng. Là giấc mơ hòa bình, và khi đã có hòa bình là giấc mơ tự do, vì đó là một nền hòa bình trong tù đầy. Thơ mô tả đời sống thực, hối hả xáo trộn, biến ảo khôn lường, nhịp đập của đời sống, sự vui thú, chán chường mệt mỏi. Cảm giác ngột ngạt nóng nảy của thời đại kinh hoàng, bóng ma chiến tranh ngày một tới gần, vừa đi qua, bạn vừa nhìn thấy nó. Sự nổi loạn ngấm ngầm, sự lạc đường. Khi ngôn ngữ thơ mô tả một tâm trạng lo lắng, một vết thương tình yêu, sức mạnh của chúng bộc lộ. Thơ Trần Dạ Từ viết ở thể hiện tại, mô tả sự vật trong vị trí di chuyển, đầy sức sống, hơi thở. Cái nhìn của nhà thơ bao giờ cũng là cái nhìn trở lại, nhận thức và nhận thức lần nữa, tình yêu là tình yêu lớn lên, gần như trưởng thành ngay ở tuổi nhỏ, điều ấy có liên quan gì đến cuộc đời riêng của tác giả hay không, những kinh nghiệm riêng tư, có lẽ không ai biết. Mặc dù ngôn ngữ thơ ông trong sáng, không phải bài nào đoạn thơ nào cũng được thế, không phải vì chúng khó hiểu mà vì chúng gợi lên những góc khuất, riêng tư đến nỗi mọi diễn dịch tùy thuộc ở người đọc.

Tuổi trẻ đi qua một lần, một lần thôi
Tôi hèn nhát như một loài dế cỏ
Hạnh phúc đi qua một lần
Cũng chỉ một lần thôi
Và sự tan vỡ ấy làm mọi người cười rộ
(Buổi Trưa về Thị Nghè)

Một bài thơ trở nên khó hiểu khi nó quay lưng với người đọc. Hoặc vì sự quay lưng ấy là cần thiết cho người đọc hoặc vì cần thiết cho chính nó. Những bài thơ thế sự của Trần Dạ Từ chua chát, buồn rầu, là những câu mô tả ngắn gọn, một nghệ thuật làm thơ hiện đang bị bỏ quên. Mỗi chi tiết của bài thơ đều hướng về phía kết thúc hoặc nhằm tạo dựng một không khí, như thể bài thơ là ngôi nhà. Tập thơ "Tỏ tình trong đêm", giữa những cuộc đảo chính, một xã hội phân rã, trước ngọn lửa chiến tranh dâng cao, là một lời "tỏ tình" kiểu khác. Của một tình yêu già trước tuổi.

Năm đọa đầy những đêm giới nghiêm
Năm đằng đẵng những ngày tuyệt thực
Năm máu chảy và năm ruột mềm
(Giã Từ Năm Thìn)

Suy nghiệm triết lý đầy chất thơ. Sự trao đổi vị trí giữa nhà thơ và sự vật, cảnh vật bên ngoài hóa thành tâm cảnh và ngược lại, tôi biến thành em và em biến thành tôi.

Cho tôi xin nửa bóng trăng ngoài 
Với nửa mùa thu trong mắt ai 
Lá rụng bao nhiêu hè phố cũ 
Sao nghe lòng rưng rưng nhớ người

(Trăng Mười Sáu)

Trong giai đoạn sau của miền Nam, chúng ta thấy sự mất cân bằng trong ngôn ngữ thơ thời ấy. Trần Dạ Từ nhắc đến mặt trời, mùa hè, mùa nắng, bông phượng, con đường, hè phố, chân tường, sự lấp lánh, và chúng không phải là những vật trang sức mà chính là linh hồn của thế giới mà ông đi qua, đẹp nhưng sẽ mất. Những hình ảnh ấy được sắp xếp sao cho chúng làm nổi bật lên nhân dáng khốn khổ của tác giả hay của bạn bè, cùng giai đoạn. Thơ ông là ánh sáng và bóng tối, ánh sáng của quá khứ và bóng tối của tương lai. Nỗi trầm tư trong thơ ông không phải là triết lý siêu hình mà là phản ứng tất nhiên của người trí thức trước một thời đại, là sự tra vấn của nhà thơ đối với lương tâm mình. Đó là sự chuyển hóa các tình huống khách quan thành điều kiện tâm lý, là sự lý giải trật tự của đời sống, bằng bước đi của cá nhân. Lịch sử dân tộc là tập hợp tổng thể các tính cách cá nhân. Là cuộc huynh đệ thương tàn, sự phá hủy của những giá trị dân tộc.

Tặng cho em cuộc chiến hung tàn
Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm
Nơi lá chuối khô được bện làm mũ tang
vẫn không đủ để đội đầu con trẻ
(Tặng Vật Tỏ Tình)

(Còn tiếp một kỳ)

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đối với Ngự Thuyết, nội dung và hình thức là một thể nhất quán bao trùm mọi đề tài, trong đó tâm thức lưu đày được trình bày khá nhiều dưới những dạng khác nhau. ... Đây là tư duy nòng cốt của Ngự Thuyết. ... Nó là một hiện thực làm cho Ngự Thuyết băn khoăn và còn “vang vọng lâu dài vào hồn, vào tim của những thế hệ mai sau”... - Lê Hữu Mục

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.