Tìm kiếm Blog này

Hà Đạo Hàm: CÕI TẠM

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018


Ánh nắng  xuyên qua khe cửa tạo nên một vệt sáng, vô tình rọi ngay vào mắt làm ông Bách thức giấc. Phản xạ tự nhiên  ông lấy tay dụi mắt rồi liếc nhìn đồng hồ; đã hơn chín giờ. Uể oải trở mình nằm ngửa, ông lấy hai tay vòng sau gối để nâng đầu lên cao hơn rồi đưa mắt nhìn quanh căn phòng trống trải  quen thuộc, nơi chốn nương thân suốt  mười mấy năm qua, nhưng vì quá bôn ba với cuộc sống  ông chẳng mấy khi để ý đến. Trần nhà màu trắng nay đã loang lỗ những vết vàng nâu, chiếc quạt trần bám đầy bụi đen,  tường vôi màu xanh nhạt cũng đã ngã màu xám. Phòng cũng khá rộng, phía gần cửa sổ là bàn làm việc với chiếc ghế dựa bằng gỗ cẩm lai, kế bên là tủ sách lớn, chung quanh phòng không có tranh ảnh gì khác ngoài tấm lịch in hình phong cảnh, vách tường đối diện cửa sổ là chiếc giường đôi trải chiếu được kê sát góc phòng và một tủ áo quần kê sát vách phía chân giường. Nhưng tất cả những đồ vật đó là sở hữu  của chủ nhà, gia tài của ông chỉ mấy bộ quần áo cùng vô số sách báo chứa đầy các ngăn tủ.

Đêm qua là giao thừa, trong khi mọi người nghỉ ngơi thức đón giao thừa thì chỉ riêng ông Bách ngồi dịch các bài báo được tòa soạn giao cho từ trước Tết. Khi xong việc đã ba giờ sáng, lên giường đi ngủ ông mới nhận ra rằng giao thừa đã qua, một mùa Xuân mới vừa trở về. Cố gắng hoàn tất công việc vì ngày mồng một, ngày duy nhất trong năm ông cho phép mình ngủ dậy trễ và không phải tập thể dục buổi sáng. Nguyên nhân vì ông không biết  đi đâu vào sáng mồng một, gia đình  không có, họ hàng cũng không, bạn bè thì ông lại ngại mang tiếng xông đất.  Nếu không dậy trễ thì cũng chỉ loanh quanh trong phòng, ăn trưa đã có bánh chưng bánh tét bạn bè cho từ trong Tết. Thường như mọi năm, buổi chiều ông mới xuất hành và nơi đến là nhà Đạt, một người bạn thân thiết từ thuở còn học trung học.
Nằm một lúc thấy không thể ngủ lại được,  ông Bách ngồi dậy, nghe thân thể mỏi mệt từng khớp xương.  «Thất thập cổ lai hy,» ông nghĩ thầm như vậy rồi liên tưởng đến khoảng thời gian bảy mươi năm trôi qua nhanh quá. Bước ra phía cửa sổ ông mở rộng hai cánh, ánh sáng tràn ngập vào phòng. Ánh sáng ban mai ngày đầu năm rực rỡ, không gian khá yên tĩnh, khí trời mát mẻ làm tinh thần  ông cũng phấn chấn. Hôm nay ngày mồng một, con đường trước nhà cũng thưa xe cộ và con hẻm cạnh nhà cũng vắng tiếng trẻ con nô đùa, có lẽ cha mẹ chúng bắt ở nhà để tránh phải vô ý bước chân vào nhà người khác. Ông  nhìn xuống căn nhà đối diện, thấy hai đứa trẻ con khoảng bốn năm tuổi không dám bước ra khỏi nhà, đành phải nói chuyện bằng cách đứng sát vào vách tường giữa hai cổng nhà rồi thò tay ra ngoài, làm dấu hay khoe nhau đồ chơi gì đó. Cảnh như trong nhà tù, khi hai tù nhân cùng ở sát vách muốn thông tin với nhau. Ông mỉm cười khi nhìn trẻ thơ hồn nhiên và thật dễ thương, nhưng  nét vui tươi chợt tắt đi, một thoáng buồn xa xăm hiện  trên gương mặt  đang già nua theo với thời gian. 
* 
Một buồi sáng sớm của một ngày trong năm đầu thập niên bốn mươi, tại một làng quê xa xôi miền Trung, có đứa bé chưa tròn năm tuổi đang còn say giấc ngủ thì bị đánh thức dậy, được cả nhà gấp gáp lo các việc cần thiết cho buổi sáng, rồi  sau đó cậu cùng người anh cả khoảng mười bảy tuổi vội vã rời gia đình với một ít hành trang. Buổi chia tay cũng có nước mắt cha mẹ và các anh chị trong gia đình, nhưng lúc ấy cậu còn bé quá nên chưa hiểu được ý nghĩa của những giọt nước mắt chia ly, và cũng chẳng có ai giải thích rõ ràng nên cậu chỉ nghĩ rằng đi theo người anh để đến một địa điểm nào đó, thăm viếng ai hay vì chuyện riêng của gia đình. Rời khỏi nhà là cả hai anh em miệt mài, ngày đi đêm nghỉ, khi nào mỏi chân  cậu lại được cõng và có đôi lúc ngủ luôn trên lưng anh. Cậu bé không biết đi được bao nhiêu ngày và đã qua những vùng nào, nhưng vào một buổi xế trưa ngày nọ, hai anh em gặp vài người mặc áo đen có mang súng chận lại. Người anh bảo nhỏ:
- Em chạy  trước đi , tuốt đàng xa kia rồi đợi anh ở đấy, lát nữa anh sẽ đến .
Như có linh tính báo chuyện không hay, cậu chạy thật nhanh cho đến khi không còn sức nữa mới trốn vào trong một bụi rậm ven đường, lo lắng ngồi đợi anh đến. Thời gian trôi qua không biết bao lâu nhưng cậu bé thấy dài như vô tận, muốn trở lại tìm anh nhưng sợ không dám đi. Bỗng nghe  loạt súng nổ vang cả một vùng làm cậu khiếp vía và bật khóc nho nhỏ. Mặt trời đã khuất bóng, bóng đêm lan dần làm nỗi sợ tăng thêm. Trong lúc cậu chưa biết phải làm gì thì có một người đàn bà quang gánh đi ngang, nghe tiếng khóc bà dừng lại, vạch bụi cây tìm thấy cậu. Bà có lời nói và hành động dịu dàng khiến cậu tin tưởng để sau đó theo bà về nhà. Ở đây cậu được cho ăn uống và ngủ lại. Vì mệt và đói nên cậu  đã ngủ thẳng giấc đến sáng. Lúc này cậu mới khóc lóc đòi về với gia đình.
Ở với người cưu mang được vài ngày, đã bớt khóc và quen thuộc những người trong gia đình thì một buổi sáng khi vừa thức dậy, cậu được chuẩn bị chu đáo và người đàn bà tốt bụng nắm tay dắt đi ra khỏi nhà. Đường đi phải dài lắm vì mất cả ngày đường, có lúc phải đi nhờ xe bò, nhưng cuối cùng bà cũng đưa cậu đến nơi. Đó là một căn nhà có cổng lớn, phải đứng đợi một lúc mới có người ra mở cửa. Cậu được đưa vào gặp một người đàn bà khác mặc áo chùng đen, đội trên đầu chiếc mũ rộng vành màu trắng. Hai người đàn bà nói chuyện nhỏ với nhau một lúc,  người ân nhân quay ra vuốt đầu cậu bảo:
- Con ở lại đây nghe, đừng có khóc và cố gắng học hành cho giỏi nghe. Những người ở đây đều thương con…
Nói rồi bà đứng dậy đi ra, từ đó về sau cậu không còn gặp lại bà nữa dù hình bóng của bà luôn in đậm trong ký ức. Người đàn bà đội mũ rộng vành lên tiếng nhỏ nhẹ bảo cậu ở lại đây để được nuôi nấng và học tập và sau đó có người hướng dẫn cậu nơi ăn chốn ngủ. Khi lớn khôn hơn, cậu biết đây là cô nhi viện ở Huế do các nữ tu trông nom, chỗ dành cho những đứa trẻ mồ côi hay bị thất lạc gia đình. Do không có một giấy tờ gì để xác định được gốc gác và quê quán của cậu bé ở đâu, nên  các Sơ  không thể liên lạc để trả cậu về với gia đình. May mắn duy nhất là cậu còn nhớ được tên tuổi mình vì lúc trước các anh chị hay theo hỏi em tên gì mấy tuổi. Phần sinh quán, theo cách phát âm  và theo thổ ngữ, các Sơ hỏi  Nghệ An hay Hà Tĩnh, cậu  đã chọn Hà Tĩnh vì có nghe nói đến tên này. Lý lịch của cậu được ghi vào sổ bạ, nhưng là một lý lịch không rõ ràng, một dấu hỏi lớn mà suốt đời cậu tha thiết muốn tìm ra giải đáp.
Khi còn  nhỏ dại chỉ những sự việc tạo nên cái sốc lớn mới được ghi nhận lâu dài vào trong ký ức. Đối với cậu bé cũng thế, cậu không thể quên những ngày đầu  đã khóc nhiều vì nhớ cha mẹ và anh chị. Nhưng rồi ngày tháng qua đi, cậu quen dần với đời sống trong Cô nhi viện. Những bữa ăn tập thể, giờ chơi giấc ngủ theo thời khóa biểu, những ngày được cùng các bạn nối đuôi nhau đi ra phố, ngơ ngác dưới cái nhìn thương cảm của mọi người… Những kỷ niệm ấy có phai nhạt theo thời gian thì ngược lại, những hình ảnh không bao giờ quên được đó là mấy đứa bạn nhỏ cùng hoàn cảnh, lại chung sống với nhau một thời gian dài, cùng tuổi thơ nghịch ngợm phá phách bị các Sơ la mắng hay nghiêm phạt. Sau này khi đã trưởng thành, bước chân vào đời rồi chịu những dập vùi của cuộc sống, đôi lúc cậu mong được nhỏ lại như ngày nào, dù chốn cũ không phải là thiên đường của tuổi nhỏ .
  Thời gian trôi qua, cậu bé hiểu ra rằng phải chấp nhận số phận và cố gắng vươn lên. Cậu học giỏi, xong tiểu học thì lên trung học dễ dàng nên các Sơ đã giới thiệu với một linh mục người Pháp, và ông ta đã nhận  nuôi cậu  ăn học. Ở với ông cậu còn được học thêm tiếng Pháp, điều này đã ảnh hưởng rất nhiều cho tương lai của cậu sau này. Trưởng thành trong hoàn cảnh nửa đạo nửa đời, ban ngày đi học, vui với bạn bè cùng trang lứa, ban đêm về sống trong bốn bức tường tu viện, nơi đây đã cho cậu cuộc sống bình yên để ăn học và hình thành những ước vọng tương lai. Cậu hy vọng sau khi học xong trung học sẽ tìm về quê cũ, kiếm lại những người thân yêu mà định mệnh đã làm chia xa. Người anh cùng chung chuyến đi định mệnh chắc đã hóa kiếp bởi loạt đạn oan nghiệt năm nào. Tự đặt giả thuyết gia đình cậu có tham gia vào một tổ chức chính trị nào đó nên phải phân tán, anh cả và cậu là những người ra đi đầu tiên, người anh có thể đã bị bắt, nhưng vì xót xa cho đứa em nhỏ dại nên tìm cách vượt thoát và bị bắn chết, người đàn bà quang gánh đi qua đã chứng kiến thảm kịch nên giúp cậu tận tình. Cũng có thể anh cậu chưa chết nhưng chỉ cần bị giam vài ngày cũng đủ đưa hai anh em đi mỗi người một phương trời. Bàn tay định mệnh đôi khi cũng nghiệt ngã, cậu ở cách cha mẹ và anh chị chỉ khoảng bốn trăm cây số mà muôn đời không thể gặp lại nhau. Vận mệnh của cậu  thăng trầm theo vận mệnh nước non, ngày cậu học xong trung học thì đất nước đã chia hai, quê hương cũ nằm bên kia bờ sông Bến Hải.
Lên đại học, cậu bé ngày nào nay đã trở thành một thanh niên yêu đời, lạc quan nhìn về tương lai đang rộng mở. Chàng rất thích học Luật, nhưng đành vào Sư phạm để có học bổng bởi phải bắt đầu tự lập, vì vị linh mục bảo trợ cho chàng nay đã cao tuổi và đã trở về Pháp để sống những năm cuối đời. Ông là người có sự gắn bó, chia sẻ cuộc sống với chàng trong gần mười năm. Từ tuổi thiếu niên  bước qua thanh niên, ông ân cần giúp đỡ,  chỉ giáo chàng như một người cha, do vậy khi nghe tin ông qua đời vài năm sau đó, chàng rất buồn nhưng không thể qua Pháp để đưa tiễn vị ân nhân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Vừa học vừa đi dạy kèm tư gia, mấy năm học cũng qua nhanh. Khi ra trường chàng được phân bổ về một trường trung học xứ Quảng. Mặc dù đời sống của một nhà giáo vào thời điểm đó cũng khá sung túc, được xã hội kính trọng vì tập quán  «Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy» hãy còn sâu đậm,  nhưng chàng lại không muốn trói chân ở xứ Quảng. Với bản tánh cầu tiến và tham vọng, chàng muốn về thành phố lớn để còn có thể học hỏi tiến thân, thực hiện ước mơ được như Nguyễn Công Trứ  «…Đã manh tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông…» Sau bốn năm dạy học, người thầy trẻ nhận lệnh gọi nhập ngũ.  Khi tốt nghiệp trường Sĩ quan trừ bị thì được biệt phái về Bộ giáo dục, nhân dịp này chàng xin ở lại Saigon với ý định vừa đi dạy vừa ghi danh học Luật, một môn học mà chàng yêu thích từ thuở thiếu thời. Ở Saigon cũng có sẵn một số bạn bè, Đạt là một trong số ấy. Gia đình Đạt  đã chuyển vào Saigon trước đó mấy năm. Bây giờ lại có dịp thường xuyên lui tới nhà Đạt  như thuở còn học chung với nhau.
Mải mê với việc lập sự nghiệp, lại nghĩ trai ba mươi cũng hãy còn xuân, cho nên dù chung quanh có những bóng hồng thấp thoáng chàng cũng chẳng  màng, sợ làm cản trở giấc mộng "công hầu khanh tướng."  Sau mấy năm học tập, có được trong tay bằng cử nhân Luật, chàng xin ngay vào một văn phòng Luật sư để thực tập. Ngày khoác áo luật sư chẳng còn bao xa nữa, và rồi đây từ một luật sư có thể dễ dàng bước vào vài lãnh vực khác, con đường tương lai trước mắt  không còn gì cản trở  chàng được nữa. Nhưng rồi giấc mộng sắp thành, ước mơ tưởng như đã nắm bắt trong tay thì cuộc đời lại đưa qua một khúc rẽ khác, nhiều chông gai vất vả mà chàng chưa bao giờ hình dung được. Đó là ngày 30-4-75 .
Chưa kịp mặc áo luật sư thì chàng phải đi học tập cải tạo vì là sĩ quan biệt phái. Trước khi đi trình diện, chàng cẩn thận mang tất cả tiền bạc và những  vật có giá trị gởi cho Đạt. Người chủ nhà cho thuê căn gác cũng hứa trông nom đồ đạc cho đến lúc chàng trở về. Tất cả cùng tin tưởng chàng sẽ về sau một tháng, nhưng rồi không được như vậy mà phải gần ba năm sau. Bước chân  người về như Từ Thức trở lại trần gian, cảnh xưa người cũ đã đổi thay, định mệnh đen tối  còn bao quanh cuộc đời chàng. Người chủ nhà đã cùng gia đình vượt biên, nhà nay do nhà nước quản lý, đã trao quyền sử dụng cho gia đình cán bộ. Nhưng địa chỉ khai trong giấy ra trại lại ở đây, làm sao có thể xin tạm trú để còn chịu sự quản chế của chính quyền  địa phương. Chàng phải tìm đến nhà Đạt xin tá túc  hầu có một địa chỉ ổn định để hàng tuần ra trình diện công an.
Người thanh niên nhiều hoài bão, nhiều tham vọng nay đã là một người đàn ông trung niên. Ước mơ giờ đây tan tành nhưng vốn là người lạc quan, ông vẫn tin tưởng ở tương lai cho dù cuộc đời chưa hết gian nan đang chờ đón. Tất cả những vật kỷ niệm hay sách vở của ông không còn gì. Trường cũ không nhận lại người thầy giáo vừa ở trại học tập ra lại chưa có quyền công dân. Để giúp khỏi phải đi kinh tế mới, một người bạn có Tổ hợp làm bánh mì nhận ông vào làm với nhiệm vụ lo sổ sách thu chi. Ngày làm việc, buổi tối kê ghế bố ngủ ngay nơi làm việc. Tổ hợp bánh mì chỉ sống được khoảng một năm thì đóng cửa vì không tìm được nguồn cung cấp bột mì. Ông bị mất việc và mất luôn nơi tá túc. Vì mưu sinh đành phải xoay ra buôn bán chợ trời, ông tìm đến các nhà bạn bè hay người quen biết xem có vật gì muốn bán, ghi nhận  rồi đạp xe đi hỏi giá cả, sống qua ngày bằng số tiền hoa hồng tùy thuộc vào hảo tâm của người bán. Những khi chiều xuống là lòng ông chùng lại, thân  đơn chiếc không gia đình nhà cửa  nên chẳng biết về đâu.  Gia đình Đạt rất quí mến ông nhưng lại đông người, ông thường xuyên ghé lại để tránh sự chú ý của công an chứ không muốn ở lại. Lang thang đêm nay ngủ nhờ nhà này, đêm  mai lại sang nhà khác nhưng cũng không yên giấc được vì sợ công an khu vực để ý. Với tình trạng như vậy chỉ còn mong vượt biên mới  thoát ra khỏi cảnh cơ hàn khổ cực. Đạt thông cảm hoàn cảnh của bạn, biết tài sản của ông không nhiều nên tìm mọi cách giúp đỡ. Nhân khi chuẩn bị cho các con của mình vượt biên, Đạt đã thuyết phục chủ tàu để ông trả trước một ít, khi nào định cư sẽ làm việc trả nốt phần còn lại. Chủ tàu chấp thuận đã cho ông hy vọng ra đi tìm cuộc sống mới. Vì còn trong vòng quản chế nên cũng phải chuẩn bị sẵn một số tiền, phòng khi đi không thoát và nếu bị bắt Đạt  có thể xoay sở, tránh phải vào trại học tập cải tạo một lần nữa. Tính toán chu đáo nhưng tiếc rằng định mệnh đã không mỉm cười với ông, chuyến đi thất bại và tất cả mọi người đều bị bắt. Đã chuẩn bị từ trước nên Đạt nhanh chóng chạy tiền đúng nơi tạm giam để ông về ngay kịp ngày trình diện công an phường khóm.  Ông trở lại kiếp sống vô gia cư, không nghề nghiệp như trước. Hy vọng cuối cùng tiêu tan!
Trong lúc còn lo chưa ổn định được nơi ăn chốn ở thì ông gặp lại Hóa, một người bạn cùng học Sư phạm. Sau khi biết hoàn cảnh của ông, Hóa cho biết căn nhà hương hỏa của giòng họ đang bỏ trống, vì trước đây có cha mẹ Hóa ở, nay hai ông bà đã qui tiên, con cái ai cũng có cơ ngơi riêng nên đề nghị ông vào ở cho có bóng người ra vào. Được nơi ở tươm tất, ông hân hoan nhận lời. Trong nhà đã có sẵn đồ đạc, ông dọn vào ở với gia tài chỉ ba bộ quần áo cũ. Nhưng  gian nan vẫn chưa hết, khi ra công an phường để xin tạm trú thì gặp trở ngại. Chủ nhà đã chết, không còn hộ khẩu, không sổ tạm trú, nghề nghiệp của ông lại không rõ ràng nên bị công an từ chối. Loay hoay xin xỏ mãi ông mới được tạm trú ba tháng. Trong hoàn cảnh khó khăn dường như tuyệt vọng, trời xui đất khiến ông gặp lại một người học trò cũ ở xứ Quảng năm nào, đứa học trò ngỗ ngáo từng bị ông đuổi ra khỏi lớp nay lại là đại tá ở Sở công an thành phố. Và với chữ ký giới thiệu của một đại tá, ông đã sống yên ổn từ đó cho đến nay, chẳng những không bị công an làm khó dễ mà còn được chào hỏi tử tế mỗi khi gặp mặt.
Vốn không quen với sinh hoạt của chợ trời, ông cũng chỉ làm một thời gian rồi kiếm công việc khác trong  Tổ hợp hóa chất. Tổ hợp rồi cũng đóng cửa sau vài tháng hoạt động. Ông sống lây lất cho đến lúc nhà cầm quyền đưa ra chính sách đổi mới. Xã hội cởi mở hơn, bạn bè bên ngành Luật mở Văn phòng Dịch vụ pháp lý, ông được mời tham gia và công việc chính là dịch các tài liệu, văn thư, khiếu nại và nhất là những giấy tờ liên quan đến xuất nhập cảnh. Vì công việc nhiều ông phải làm ngày đêm, thu nhập theo đó cũng tăng. Đây là thời gian tương đối yên ổn của ông, nhưng rồi vấn đề xuất cảnh ngày một thưa, công việc ngày một ít ông lại phải tìm kiếm công việc mới để nuôi thân.
Với khả năng sinh ngữ vững vàng, ông tìm các bài báo ngoại quốc nói về khoa học, nhân văn…, dĩ nhiên là những vấn đề không liên quan gì đến chính trị, dịch ra tiếng Việt rồi gởi cho các tòa báo, nếu được đăng sẽ có tiền nhuận bút. Nguồn sách báo trong nước hạn chế, ông lại nhờ bạn bè ở nước ngoài sưu tầm, gom góp gởi qua đường bưu chính. Nhưng rồi cũng không  được dài lâu vì khi xuất hiện  internet, các tòa soạn có thể truy tìm tin tức và tài liệu mau chóng thì những bài gởi qua bưu điện mất thời gian tính, không còn thích hợp nữa. Giờ đây các tòa soạn chỉ đưa ông dịch những tài liệu nào vừa ý lấy từ trên internet. Nhờ có sự liên lạc lâu dài với các tòa soạn nên tương đối ông cũng có việc làm đều, dịch bài nào được trả tiền ngay bài ấy, dù thu nhập không nhiều nhưng cũng tạm đủ nuôi thân.
Sống trong căn nhà hương hỏa thấm thoát cũng hơn mười hai năm. Một hôm ông được đón nhận thêm người mới, đó là đứa cháu đích tôn của Hóa, sau khi lập gia đình, cả hai vợ chồng dọn về đây. Nhà rộng, trước đây chỉ một mình ông, nay thêm hai người cũng không ở hết bốn phòng ngủ, tuy nhiên cũng làm căn nhà bớt quạnh quẽ. Hơn hai năm sau vợ chồng son có thêm cháu nhỏ, tiếng khóc trẻ thơ làm căn nhà có thêm sinh khí. Đôi khi hai vợ chồng bận rộn lại nhờ ông trông chừng cháu bé, những lúc như thế ông bùi ngùi suy nghĩ, đúng ra ở tuổi của ông cũng phải có dâu rể cháu chắt như thế này, một mái gia đình ấm cúng để đi về, vậy mà ông không có gì cả. Tất cả không là của ông, chỉ là vay mượn  mà thôi! 
Ước mơ trở về quê cũ tìm lại những người thân cũng không thực hiện được, cho dù đất nước nay đã không còn chia cắt. Lý do thứ nhất vì cho đến lúc này ông vẫn chưa có hộ khẩu, chưa có chứng minh nhân dân. Cái vòng lẩn quẩn đã trói ông lại, đã không có nhà cửa lại không có chủ nhà chấp thuận cho tạm trú thì không thể có hộ khẩu, không hộ khẩu thì không thể làm chứng minh nhân dân, không chứng minh nhân dân mỗi lần đi xa lại phép tắc nhiêu khê. Lý do thứ hai là trong lúc này ông kiếm cơm ngày ba bữa đã khó, làm sao tính toán những chuyện khác được. Muốn tìm về nguyên quán trong khi chưa quyết  định được nơi nào chính xác thì phải có thời gian và tiền bạc, cả hai thứ đều nằm ngoài tầm tay của ông. Đăng báo tìm người thân thì ngần ngại vì không muốn ai trông thấy ông nghèo xơ xác như thế này. Gần mười tám năm sống ở đây, hàng xóm, chính quyền đều biết mặt, biết tư cách của ông, nhưng ông vẫn là người sống bên lề cuộc đời, chỉ là công dân bậc hai trong cái xã hội đầy dẫy nhiễu nhương và khó khăn này.

                                                                         *

Cậu bé bất hạnh năm xưa, người thanh niên đầy nhiệt huyết ngày nào, người đàn ông trung niên với bao nhiêu dập vùi của thời cuộc nay là lão Bách, ông lão bảy mươi cô độc trong một buổi sáng đầu năm đang «… lặng nhìn thiên hạ đón Xuân sang…» đang lặng nghe nỗi cô đơn buồn khổ đi qua cuộc đời mình. Ông vốn là người nhiều nghị lực và cầu tiến, tâm hồn ông rộng lượng bao dung, bằng kiến thức sâu rộng và cách nói chuyện dí dỏm duyên dáng, ông luôn mang lại niềm vui tươi, tạo tinh thần  lạc quan cho mọi người. Những giây phút ngậm ngùi qua đi, lòng ông bình thản trở lại đưa mắt nhìn quang cảnh bên ngoài cửa sổ, nắng mùa Xuân lan tràn trên cành cây ngọn cỏ, dịu dàng như thấm đượm vào lòng. Mười mấy năm trước khi ông mới đến đây, chung quanh còn là nhà trệt, dân cư thưa thớt, nay nhà cửa được xây cất thêm và dân số tăng lên nên ồn  ào hơn trước. Lúc mới dọn vào nhà, các phòng đều trống trải, ông đã chọn căn phòng hiện đang ở vì cửa sổ mở ra có thể nhìn thẳng tầm mắt về phía xa là trung tâm thành phố, ban đêm ánh đèn sáng lấp lánh trông đẹp mắt, nay đã bị che lấp một phần bởi một vài căn nhà lầu vừa mới xây cất. Tưởng tượng một này nào đó, khi mở cửa sổ sẽ gặp ngay cửa sổ căn nhà đối diện thì buồn lắm.  Ông  thở dài quay vào, cuộc đời là vô thường, vạn vật đều biến đổi thì khoảng không gian kia không thể là của ông mãi mãi. Lần theo cầu thang xuống nhà, căn nhà im vắng, gia đình người cháu chắc đã về bên nội hay ngoại rồi. Lẳng lặng ông vào bếp, đun nước sôi pha cà phê, dọn cho mình bữa ăn với bánh chưng, dưa món  củ kiệu, rồi thong thả ngồi ăn từng miếng một. Bánh chưng ngày Tết đậm đà nhưng ông vẫn cảm thấy thiếu vắng một điều gì. Sáu mươi lăm năm rồi, từ ngày phải rời khỏi gia đình, đã quen với cảnh cô đơn nhưng Tết năm nào không ít thì nhiều ông cũng cảm thấy buồn, nỗi buồn hình như tăng dần theo năm tháng chứ không vơi đi như một thói quen. Khi nhà nhà đều khép cửa và đang sum vầy với nhau, ông mới cảm thấy thấm thía sự cô đơn trống vắng. Mỗi người đều cần có một gia đình để nương tựa, ông hiểu được tại sao người ta ca ngợi việc tam đại, tứ đại đồng đường. Cây già cỗi thì phải có cây khác xanh tươi non trẻ mới giữ rừng được mãi màu xanh, riêng ông khác với mọi người vì đã không theo quy luật đó. Cũng chẳng còn bao lâu nữa, khi mắt đã mờ tay đã run và trí óc đã lẫn, cuộc đời sẽ ra sao khi xã hội chẳng có phúc lợi cho người già, không có nhà dưỡng lão. Ông Bách không có một niềm tin tôn giáo sâu đậm để giao phó cuộc đời cho định mệnh, nhưng đời sống của ông là sở hữu  riêng mình, ông có thể quyết định lấy cuộc đời của mình.
Ăn uống xong ông Bách trở về phòng, đợi đến chiều sẽ qua thăm gia đình Đạt, và cũng để thăm Thảo, em Đạt. Khi ông vào Saigon thì Thảo đã là thiếu nữ, không còn là con bé con như  những ngày xa xưa khi ông đến chơi nhà Đạt. Thảo nhỏ hơn ông mười tuổi, ngưỡng mộ ông là người khí khái, sống có lý tưởng, dù không nói ra nhưng ông hiểu lòng nàng. Ông cũng đã dự định khi nào công danh toại ý sẽ xin hỏi cưới Thảo. Nào ngờ ông phải đi tù cải tạo, đến khi trở về lại là kẻ không nhà cửa, chẳng nghề nghiệp. Thân còn chưa nuôi nổi làm sao dám nghĩ đến chuyện thê nhi, ông có tinh thần trách nhiệm cao, lại không muốn sống bám vào người khác nên đành để chuyện tình cảm qua một bên.
Cầm một vài tờ báo Xuân định đọc cho qua thời gian, văn chương thời xã hội chủ nghĩa nhạt nhẽo, lại bỏ xuống, chẳng biết làm gì ông lên giường nằm gối đầu tay nhìn lên trần nhà. Thấy trần nhà loang lỗ cũ kỹ, ông nảy sinh ý nghĩ qua Tết sẽ mua vôi về quét lại căn phòng. Dù gì nó cũng là nơi nương  náu của ông suốt cả gần hai mươi năm qua và còn nhiều năm tới nữa. Ông tự trách mình vô tâm và hững hờ quá.  Hững hờ! Ông tự hỏi có phải mình là người bàng quan với đời sống chung quanh chăng! Không, ông thấy mình cũng tha thiết lắm, lý tưởng phục vụ con người luôn thôi thúc trong lòng, ông yêu đời và cũng mong ước được sống  như mọi người.  Cho dù định mệnh khắt khe, ông vẫn cám ơn trời đất đã dung dưỡng trong bao nhiêu năm nay, để được quan sát những thăng trầm vui buồn của đời sống này. Ông lại nghĩ đến thân phận tầm thường và kém cỏi của mình. Có lẽ như vậy! Bảy mươi tuổi, nhìn lại cuộc đời  mình chẳng ra gì, không làm được điều gì nên nổi, chẳng mang lại được hạnh phúc cho ai, một cuộc đời hoàn toàn vô vị. Đối với Thảo, lúc nào ông cũng mang cảm giác có tội với nàng. Thảo chờ đợi ông đến lỡ mất xuân thì. Nghĩ đến Thảo cũng đã sáu mươi tuổi  lòng ông se thắt. Ngay cả thiên chức làm chồng làm cha rất bình thường của một người đàn ông, ông cũng không thực hiện được.
Với cuộc đời ông chỉ là hạt bụi, đến từ đâu không ai biết, mai này sẽ đi về đâu chẳng ai hay. Khi nắm tro cốt tàn bay theo gió, không làm được việc gì cho đời, không con cháu, không hậu duệ, không hương hỏa thì chẳng ai còn tìm được dấu tích của ông, chẳng ai biết đã từng có một lão Bách hiện diện trên mặt đất này. Hay ông là người của một tinh cầu xa xôi nào đó, một lần ghé qua địa cầu để chia sẻ những khổ đau của trần thế. Chốn dương gian đối với ông chỉ là cõi tạm. Danh vọng, tiền tài, chết chóc, đói khổ, nhục vinh, chiến tranh, ly loạn, tù đày…, ông đều trải qua. Mai đây khi trở về chốn cũ, ông không còn phải nuối tiếc một thuở trần gian…
Cõi tạm! Ông Bách nói nhỏ rồi lấy tay ngăn giọt lệ vừa ứa ra nơi khóe mắt .
Sainte Foy  03-05

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đối với Ngự Thuyết, nội dung và hình thức là một thể nhất quán bao trùm mọi đề tài, trong đó tâm thức lưu đày được trình bày khá nhiều dưới những dạng khác nhau. ... Đây là tư duy nòng cốt của Ngự Thuyết. ... Nó là một hiện thực làm cho Ngự Thuyết băn khoăn và còn “vang vọng lâu dài vào hồn, vào tim của những thế hệ mai sau”... - Lê Hữu Mục

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Góp ý


Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.