Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Hưng Quốc: THƯ CỦA CÁC NHÀ VĂN

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017


Mi đây, trong lúc lc đống giy t cũ để tìm tài liu cho mt bài viết mi, tôi tình c đọc li my bc thư ca nhà văn Mai Tho (1927-1998) gi cho tôi. Mai Tho mt chưa ti mười năm. Vy mà nhng bc thư y, dù được gi gìn khá cn thn, giy đã bt đầu và mt s nét ch đã bt đầu b phai hay nhoè đi ri.

Cm nhng bc thư ca Mai Tho, quên bng cái đề tài mình đang định tìm tòi, tôi c tn ngn nghĩ ngi mông lung.

V Mai Tho.

V mt s nhà văn và nhà thơ khác mà tôi quen biết.

Và v thư như mt th loi văn hc.

*

T gia thế k 20 đến nay, được gi hng t li tuyên b Thượng đế đã chết ca Nietszche, nhiu nhà phê bình và lý thuyết văn hc trên thế gii thường hay nói đến nhng cái chết trong văn hc: thot đầu, cái chết ca tiu thuyết, sau, cái chết ca thơ; và đâu đó, khong gia, cái chết ca tác gi. Cho đến nay, hình như không li báo tang nào thành s thc. Tiu thuyết vn còn. Thơ vn còn. Tác gi vn còn là mt quyn lc ln lao đằng sau các văn bn. Ch có mt th loi hình như có nguy cơ chết tht, chết mt cách lng l: thư.

Trong hơn na thế k va qua, thư b tn công dn dp: thot đầu, vi s ra đời ca đin thoi, sau, ca đin thoi di động, và, quan trng nht, ca đin thư (email) và các hình thc chuyn trò qua internet. Hin nay, dĩ nhiên vn còn khá nhiu người nhiu nơi trên thế gii tiếp tc viết thư cho nhau. Nhưng, không còn hoài nghi gì na, s lượng nhng người duy trì được thói quen viết thư như thế càng ngày càng hiếm; tui tác ca h cũng càng ngày càng cao: mt lúc nào đó, có l không lâu lm na đâu, thư ch còn là mt hoài nim.

Vit Nam, thm chí thư không tn ti được như mt hoài nim. Bi nó chưa tng hin hu mt cách công khai, đàng hoàng, chính thc; hoc nếu hin hu, s hin hu y cũng quá m nht, không hình thành hn mt th loi riêng. Nhng chiếu, biu, tu, s, hay ngay c nhng Quân trung t mnh, nhng Hi ngoi huyết thư, nhng Thư tht điu... tuy lng ly mt thi, vn nng tính cht chính tr. Giá tr ca chúng rõ ràng là lch v phía lch s hơn là phía văn hc.

Nhng bc thư, thc s là thư, ca các nhà văn và nhà thơ, được xut bn rt ít. Phn ln ch là nhng trích đon. Và nhng trích đon y cũng khá ho hon. Lâu, lâu lm mi bt gp mt vài trích đon ngn trên báo chí. Ch gn đây, tôi mi thy mt tuyn tp thư đầu tiên bng tiếng Vit được in: tp Hi c tình yêu ca v chng nhà văn Vũ Tú Nam và nhà báo Thanh Hương (nxb Lao Động, Hà Ni, 2001). Tiếc, đó không phi là tp thư hay. Không hay nhiu khía cnh. Th nht, c Vũ Tú Nam ln Thanh Hương đều không phi là nhng văn tài ln. Thư h không có cái đẹp lp lánh ngôn ng. Th hai, thi gian h viết thư cho nhau, kéo dài c na thế k, là thi gian chiến tranh khc lit, nh hưởng ca ch nghĩa Mao và ch nghĩa Stalin đè bp ý thc cá nhân: thư ca cp tình nhân và cp v chng y biến thành thư ca hai cán b tn tu, đầy tính đảng, và cũng do đó, rt nht nho.

Điu tôi cm thy thú v nht không nm bn thân tp thư mà hoàn cnh ra đời ca nó: mc dù Vũ Tú Nam và Thanh Hương nâng niu gìn gi hơn 500 bc thư ca h trong c na thế k, thế nhưng, như li gii thiu đầu sách, người đầu tiên nhn ra ý nghĩa và khuyến khích xut bn nhng bc thư y li là mt nhà văn n người M tng sng lâu năm Vit Nam: Lady Borton. Chính Lady Borton là người đầu tiên phát hin ra giá tr ca nhng bc thư tình riêng tư và cũ k y, đã khuyến khích Vũ Tú Nam và Thanh Hương chn lc và xut bn, cui cùng, đã đứng ra viết li gii thiu cho tp thư tình y. Ngoài Lady Borton, người th hai động viên vic xut bn các bc thư y cũng li là mt người M, ông Edwin Stephenson, tác gi cun Journey of the Wild Geese vn tp hp nhng bc thư mà ông và v ông gi cho nhau trong thi gian hot động t thin châu Âu sau cuc chiến tranh thế gii ln th hai. Vũ Tú Nam và Thanh Hương k: Khi được Lady k v cái kho thư t ca chúng tôi, Edwin gi tng ngay cun sách mi in chưa ráo mc, nhm động viên chúng tôi nên son các bc thư và cho công b. (1)

Có th nói li gii thiu ca Lady Borton và s động viên ca Edwin Stephenson không phi là li gii thiu và động viên ca mt, hai cá nhân mà còn là, nếu không mun nói trước hết là, li gii thiu và động viên ca mt nn văn hoá, cái nn văn hoá, đó, người ta có th d dàng thy được ý nghĩa s liu, văn hoá, và c văn hc nhng bc thư ng như riêng tư và thm kín nht.

*
Vâng, qu là d dàng. Tây phương, ch cn bước vào thư vin hay các tim sách, người ta có th nhn ra vô s các tuyn tp thư được xut bn mt cách trân trng. Mà đó không phi là hin tượng mi. Phn ln các triết gia c đại ca Hy Lp, t Plato đến Aristotle, Isocrates, Demosthenes và Epicurus đều viết khá nhiu thư, trong đó, tr Aristotle, mt s thư ca nhng người khác vn còn lưu truyn đến tn ngày nay. Thi bành trướng ca đế quc La Mã, thư t li càng phát trin vượt bc, không phi ch là mt phương tin truyn thông mà còn là mt th loi văn hc có nhng thành tu rc r vi tên tui ln như Marcus Tullius Cicero (106 B.C.-43 B.C.), Gaius Plinius Caecilius Secundus (thường được gi là Pliny tr, 62 113 A.D.), Lucius Annaeus Seneca (thường được gi là Seneca hoc Seneca tr, 4B.C. 65 A.D.), thánh Paul, và Quintus Aurelius Symmachus (thường được gi là Eusebius, 345-402?). Thư ca h còn li rt nhiu: riêng Cicero còn 774 bc (2) và Symmachus còn li khong 900 bc (3). Đề tài ca thư vô cùng đa dng: trong khi thư ca Paul tp trung vào các vn đề tôn giáo và thư ca Seneca vào các vn đề triết hc, thư ca Cicero, Pliny và Symmachus viết v đủ loi, t triết hc, chính tr, khoa hc, xã hi đến c nhng chuyn tình cm riêng tư vi bn bè và v con. Nhng bc thư này được đánh giá rt cao: thư ca thánh Paul tr thành mt b phn quan trng, và dưới mt mt s nhà nghiên cu lch s, tôn giáo và văn hoá, b phn thú v nht trong Tân Ước; thư ca Seneca được xem là nhng tài liu kinh đin v ch nghĩa khc k (Stoicism), còn thư ca Symmachus, Pliny và đặc bit, ca Cicero được xut bn thành tp ngay t mt, hai thế k trước và sau ca công nguyên, và được xem là mu mc ca ngh thut viết thư trong c hai ngàn năm nay.

Nếu thi c đại, thư t đóng mt vai trò quan trng trong vic phát trin siêu hình hc và truyn bá đức tin Thiên Chúa giáo, thế k 17 và 18, thư t li cũng đóng mt vai trò cc k quan trng trong vic hình thành và vn hành ca cái gi là nn Cng Hoà Văn Hc (Respublica literaria) châu Âu (4). Nhng đặc đim ni bt nht ca thi k này là s đăng quang ca lý trí, s bùng n ca kiến thc, t đó, s n r ca triết hc và s phát trin vượt bc ca khoa hc và k thut. Động cơ thúc đẩy nhng s thay đổi đột biến này là nhng hình thc tương tác mi gia gii trí thc thi by gi: các hi chuyên môn, các tp san và đặc bit, thư t gia các cá nhân vi nhau. Các hi hay câu lc b chuyên môn ch gii hn phm vi hot động trong mt không gian nht định, còn các tp san chuyên môn ch ra đời t gia thế k 17 và ch thc s tr thành ph biến t đầu thế k 18, như vy, trước đó, thư t là hình thc tương tác có quy mô rng rãi nht. Không phi ngu nhiên mà hu như tt c các câu lc b khoa hc đều khuyến khích, thm chí ghi thành điu l buc các thành viên, bng mi cách, phi m rng quan h thư t vi các hc gi khp nơi để kp thi nm bt mi phát minh mi cũng như mi d định xut bn mà gii trí thc đang p . H xem đó như mt cách tt nht để cp nht kiến thc, để thiết lp và duy trì nhng đại hc vô hình (invisible colleges) gia các hc gi (5).

Nhiu tên tui ln còn li trong lch s khoa hc không phi nh các công trình đã xut bn mà ch yếu là qua các thư t h đã viết ra. Nicolas Claude Fabri de Peiresc (1580-1637) là mt ví d khá đin hình: trong khong hơn 40 năm, ông viết hơn mười ngàn bc thư. Nhng bc thư y, cũng như vô s các bc thư khác, tr thành mt trong nhng ngun tài liu quan trng và đáng tin cy nht trong vic tái hin din mo quá kh và nhng chng đường phát trin ca khoa hc và tư tưởng nhân loi. Dù trên thc tế, phn ln thư t đều được nhiu người đọc, nhưng trên nguyên tc, thư vn mang tính riêng tư, do đó, thoát được mi hình thc kim duyt nghit ngã thi xưa, và cũng do đó, phn ánh được nhng ý nghĩ trung thc ca người viết. Galileo, ngay c sau khi b giáo hi La Mã lên án gay gt, vn tiếp tc theo đui và khai trin các khám phá riêng ca ông qua các thư gi nhng người ái m ông Pháp như Elia Diodati và c Nicolas Claude Fabri de Pieresc (6).

Nh vic trao đổi thư t như thế, gii làm khoa hc và triết hc các nơi kết tp thành mt mng lưới cht ch; kiến thc nhanh chóng được tích lu và lưu truyn, để trên cơ s đó, khoa hc có th thc hin được nhng bước nhy vt k diu, đôi khi mang tính đột biến, làm thay đổi hn lch s. Có th nói, thư t chính là tin thân ca hình thc báo cáo khoa hc và tiu lun triết hc s gn lin vi môi trường đại hc sau này. Theo Daniel Roche, thói quen trao đổi thư t cho nhau gia các hc gi là mt trong nhng truyn thng đóng vai trò quan trng nht trong vic xác lp nên chính khái nim Cng Hoà Văn Hc (7); theo Maarten Ultee, vai trò y quan trng đến độ thư t tr thành tâm đim ca nn Cng Hoà Văn Hc (8).

Truyn thng trao đổi thư t y kéo dài mãi v sau. vô s nhà văn, nhà thơ ni tiếng, bên cnh đam mê sáng tác còn có đam mê viết thư.

Nghĩ đến nhng người viết thư nhiu Tây phương, trong trí nh tôi hin ra ngay mt s tên tui, như: bà de Sévigné, tác gi ca hơn mt ngàn bc thư gi cho con gái; Patrick White, nhà văn Úc, tác gi ca khong hơn ba ngàn bc thư, chưa k my trăm bc thư khác gi cho m và cho bn b ông thu hi và đốt hết; Rainer Maria Rilke, tác gi ca khong mười ngàn bc thư gi cho nhiu người khác nhau. Henry James để li hơn mười lăm ngàn bc thư; Voltaire để li hơn hai chc ngàn bc thư (9); đặc bit Lewis Carrol, tác gi cun Alice in Wonderland, trong vòng 37 năm, viết c thy gn mt trăm ngàn bc thư! Theo Mary V. Dearborn, trong cun The Happiest Man Alive, mi ngày nhà văn Henry Miller b ra khong hai hay ba tiếng đồng h để viết thư. Ngoài 70 tui, Miller yêu mt cô gái Trung Hoa tên Lisa Lu, lúc y mi khong 30 tui: trong vòng chín tháng, Miller viết cho cô 224 bc thư. Liên quan đến thư tình, Graham Greene viết còn nhiu hơn c Henry Miller: trong vòng khong 30 tháng, ông viết cho Vivien, người yêu ca ông, hai ngàn bc thư. Có ngày ông viết ti ba bc! (10)

Không phi ch viết thư riêng cho nhau, nhiu người trong gii cm bút Tây phương còn chn cách trình bày các lun đim ca mình dưới hình thc nhng bc thư ng gi công khai cho ai đó: đây, thư được dùng như mt th pháp nhm phát huy ging điu tâm tình hu thuyết phc người đọc không phi phương din nhn thc mà còn c phương din tình cm (11). Cũng có mt s nhà văn đã s dng thư như mt hình thc chính để dn dt câu chuyn và phân tích ni tâm nhân vt trong các tác phm t s ca mình. Ovid, sinh năm 43 trước công nguyên và mt năm 18 sau công nguyên, tc ln tui hơn hai Bà Trưng ta đã viết cun Epistulae Heroidum (hay Heroides), dưới hình thc mười tám bc thư ca nhng ph n ni tiếng trong thn thoi Hy Lp gi cho nhng người chng hay nhng người yêu xa vng ca h, và ba bc thư hi đáp ca chng hay người yêu h (12). Hình thc tương t cũng xut hin li trong tác phm ca Jean-Jacques Rousseau: La nouvelle Heloise, ca Alphonse Daudet trong cun Lettres de mon Moulin, ca Samuel Richardson trong cun Pamela, ca Laclos trong cun Les liaisons dangereuses. Cun tiu thuyết Lady Susan ca Jane Austen (1775-1817) được cu trúc bng 41 bc thư và mt li kết lun ngn. Jane Austen còn có mt cun tiu thuyết khác, cun Elinor and Marianne, tin thân ca cun Sense and Sensibility, cũng được viết dưới hình thc nhng bc thư.

Vic dùng thư như hình thc din t chính trong các tác phm t s như vy bây gi vn còn khá ph biến, đặc bit t các cây bút n: t India, Ruth Prawer Jhabvala có cun Heat and Dust (1975); t Senegal, Mariama Ba có cun So Long a Letter (1980); t Argentina, Sylvia Molloy có cun Certificate of Absence (1981); t M, Alice Walker có cun The Color Purple (1982); t Úc, Elizabeth Jolley có cun Miss Peabody’s Inheritance (1983); t Brazil, Helena Parente Cunha có cun Woman Between Mirrors (1983); t Canada, Magaret Atwood có cun The Handmaid’s Tale (1986); v.v... S xut hin ào t ca các cây bút n trong th tiu thuyết bng thư (epistolary novels, theo nghĩa truyn thng cũng như cách tân) này khiến gii nghiên cu git mình nhn ra hình như có mi quan h nào đó gia ph n và thư t. Nhìn li lch s, thy, hình như đúng như thế. Hai thi k tiu thuyết bng thư n r nht là vào thế k th nht trước Công nguyên ( La Mã) và thế k 17-18 ( Pháp và Anh): đó cũng là hai thi k có nhng thay đổi ln trong thân phn ca người ph n và trong nhn thc v bn sc văn hoá ca cá nhân cũng như dân tc (13).

Tt c nhng hin tượng k trên, t vic viết thư để thông tin, để thuyết phc và để tâm tình, cũng như vic s dng thư như mt hình thc t s chính, đã nói lên ý nghĩa quan trng ca thư t trong nn văn hc và văn hoá Tây phương. V phương din s hc, chúng là nhng tư liu quý báu, không nhng soi sáng nhiu v đẹp vn d b xem là bí n trong tác phm ca các nhà văn, nhà thơ mà còn khai m nhiu góc cnh khut khúc trong cuc đời ca các nhà văn, nhà thơ y cũng như, vi nhng mc độ khác nhau, c cái thi đại mà h sng và sáng tác. Mt phn nh nhng bc thư như thế, Tây phương, tài liu có tính văn hc s bao gi cũng giàu có đến độ khiến chúng ta phi thèm thung, thm chí, ghen t. V phương din ngh thut, thư t là mt th pháp đắc dng để bc l nhng gì u un trong ni tâm và d dàng khơi động s đồng cm người đọc. Có th nói, mt cách tng quát, thư t là mt th loi văn hc vi mt lch s riêng và nhng đặc trưng ngh thut và m hc riêng, đó, chúng ta được hưởng nhng cm giác thích thú theo nhng hơi văn dìu dt hay nhng triu tư tưởng dào dt t nhng cây bút không nhng tài hoa trong din đạt mà còn cc k thông minh và tinh tế trong cách nhìn văn hc cũng như nhìn cuc đời.

*

Đó là chuyn Tây phương.

Còn Vit Nam? Thư, vi tư cách mt th pháp ngh thut và mt hình thc t s, cũng đã được s dng; không nhiu, nhưng có, t Nht Linh, trong truyn ngn Mười năm qua đến Toàn Phong trong cun Đời phi công (1960) và mt s nhà văn khác, trong đó có Võ Phiến vi nhng “Thư nhà” (1962), Thư gi bn (1976) và Li thư gi bn (1979), v.v... (14). Nhưng liên quan đến thư, vi tư cách mt hình thc trao đổi riêng tư gia gii cm bút vi nhau, có ba s kin không th ph nhn được: viết thư chưa phi là mt thói quen ca đa s người cm bút; vic sưu tp và bo qun thư t ca gii cm bút chưa phi là mt thói quen ca xã hi, k c gii trí thc; và vic xut bn nhng bc thư y chưa phi là mt thói quen trong sinh hot văn hc.

“Chưa, trong trường hp này, cũng có nghĩa là không, không bao gi: vi s ph cp ca các phương tin truyn thông hin đại, thói quen viết thư cho nhau li càng không có cơ hi để ny n. Bi vy, nhng nhà văn và nhà thơ được xem là viết thư nhiu nht t đầu thế k 20 đến nay cũng d dàng tr thành nhng người viết thư nhiu nht trong c lch s văn hc Vit Nam nói chung: h là nhng thế h đầu tiên và đồng thi, có l, cũng là nhng thế h cui cùng được nuôi dưỡng trong văn hoá thư t. H mi xut hin chưa bao lâu đã đối din ngay vi nguy cơ tuyt chng. Cũng bi vy, nhng bc thư ca các thế h này chc chn là nhng di sn cc k quý báu, ch xut hin mt ln. Ri thôi. Trước: không có. T nay v sau: càng không th có.

Nhưng ai là nhng nhà văn và nhà thơ viết thư nhiu nht lâu nay? Tôi không biết. Khi thư t ca gii cm bút chưa được sưu tp và bo qun, chúng ta s không có cơ s nào để biết được câu tr li chính xác c. Tôi ch biết chc mt điu: nhng bc thư y, dù do bt c nhà văn và nhà thơ nào viết ra, cũng đang tn mát khp nơi và phn ln đang đối din vi nguy cơ b mc nát theo thi gian.

Trong s nhng bc thư đang dn dn biến mt y chc chn s có nhng bc thư cha đựng nhng tài liu vô giá liên quan đến nhng cây bút tài hoa nht và nhng vn đề quan trng nht ca văn hc Vit Nam đương đại. Mt chúng, nhiu bí n s vĩnh vin là nhng bí n. Vĩnh vin.

Đối din vi tình trng y, chúng ta có th làm được gì chăng?

Nh, đâu khong đầu năm 2002, mt người bn cm bút ni tiếng hin sng ti M gi cho tôi mt bc thư, kèm theo bc thư y là bn sao bc thư ca mt nhà văn khác, tm gi là nhà văn X. Người bn y viết: Lá thư ca X này, đọc thú v quá, mình cm lòng không đặng, phi chia s mc dù không có thói quen tiết l nhng thư riêng, chuyn riêng... Ri, bt ng, cui thư, anh đề ngh: Mình (ti mình) mt ngày s in mt tp thư X chơi nhé!? Nước mình chưa đọc thư (letters) đâu!

T khi đọc nhng li r rê ca anh bn y, nht là câu Nước mình chưa đọc thư (letters) đâu, tôi c đâm ra nghĩ ngi mãi.

Đến tn bây gi.

Càng nghĩ ngi hơn na khi nh, cách đây my chc năm, nhà văn Tam Ích tng có ln đề ngh vi nhà văn Vũ Bng là hai người s viết và in chung mt tp thư, d định ly nhan đề là Thư gia Vũ Bng và Tam Ích (15). Tp thư y vĩnh vin không bao gi ra đời, thm chí có l chưa kp bt đầu, vì ch my tháng sau đó Tam Ích đã t t. Để đưa đầu vào được si dây thòng lng lơ lng t trn nhà, ông đã đứng lên trên mt chng sách tht cao.

Tôi li càng nghĩ ngi miên man khi cm trêtay nhng bc thư ca Mai Tho tình c nhìn thy trong đống h sơ cũ. Mai Tho mt vào tháng giêng năm 1998. Đến bây gi, mi được chín năm. Mà giy đã bt đầu vàng và ch cũng đã bt đầu phai ri.

Nhanh vy sao?

18.11.2006

Chú thích
1.Vũ Tú Nam Thanh Hương (2001), Hi c tình yêu qua nhng lá thư riêng (1950-1968), Hà Ni: Nxb Lao Động, tr. 8.
2. Finley Hooper & Matthew Schwartz (1991), Roman Letters, History from a Personal Point of View, Detroit: Wayne State Unisersity Press, tr. 18.
3. E.J. Kenney và W.V. Clausen (biên tp) (1982), The Cambridge History of Classical Literature, vol. 2, tr. 759.
4. Dena Goodman (1994) The Republic of Letters, a Cultural History of the French Enlightenment, Ithaca & London: Cornell University Press, tr. 17.
5. David A. Kronick, “The Commerce of Letters: Networks and ‘Invisible Colleges’ in Seventeenth- and Eighteenth-Century Europe”, Library Quarterly, January 2001.
6. Như trên.
7. Dena Goodman (1994), sđd, tr. 17.
8. Như trên, tr. 18.
9. Robert Niklaus (1970), A Literary History of France, the Eighteenth Century, 1715-1789, London: Ernest Benn Limited, tr. 184.
10. Xem thêm chi tiết trong Nguyn Hưng Quc (2000), Văn Hc Vit Nam T Đim Nhìn H(u H)in Đại, California: Văn Ngh, tr. 268-270.
11. Cách thc này được s dng mt cách đặc bit rng rãi châu Âu, đặc bit ti Pháp, trong thế k 17 và 18, lúc Pascal có Lettres provinciales (1656), Furetière có Lettres portugaises (1669) Boileau có Lettres à Perrault (1700), Montesquieu có Lettres persanes (1721), Voltaire có Lettres philosophiques (1734), tác phm được đánh giá là kit tác đầu tiên trong cuc đời cm bút ca ông, Diderot có Lettre sur les aveugles (1749), Lettre sur les sourdes et muets (1751), Grimm có Correspondance littéraire (1754-90) (ln đầu tiên được xut bn thành 16 tp trong hai năm 1812-13), Rivarol có Lettres à M. Necker (1788); Dom Deschamps có Lettres sur l’esprit du siècle (1769); Rousseau có khá nhiu: Lettres sur la Providence (1756), Lettre à M. d’Alember (thường được gi là Lettre sur les spectacles) (1758), Lettre à Christophe de Beaumont (1764), Lettres écrites de la montagne (1764), Lettres à Buttafucco sur la leégislation (1764-65), Lettres sur la botanique (1771), v.v...
12. Xem Ovid’s Heroides do Harold  C. Cannon dch sang tiếng Anh, Unwin Books xut bn ti Lodon năm 1972.
13. Đây là mt đề tài thú v, tuy nhiên, nó vượt ra ngoài khuôn kh ca bài viết này.
14. Chưa k nhng bài báo được viết dưới hình thc thư, trong đó, hi ngoi, có l ni tiếng nht là lot bài Thư gi bn ta ca Bùi Bo Trúc (đã xut bn thành sách gm ba tp).
15. Vũ Bng, Nhng bc thư cui cùng ca Tam Ích gi cho tôi, tp chí Văn Hc (Sài Gòn) s 145 (1 tháng 4, 1972), tr. 69.


Ngun: Thế K 21 s 213&214, 2007.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)