Tìm kiếm Blog này

Nguyễn Duy Chính: Học Chữ Hán

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Tôi bắt đầu học chữ Hán không có chủ đích gì. Được vỡ lòng bằng một giờ Hán văn mỗi tuần trong chương trình Việt văn lớp đệ Thất ở CVA. Đúng lý ra chương trình này phải kéo dài 4 năm cho đến hết bậc trung học đệ Nhất cấp nhưng sau năm đầu tiên thì không thấy tiếp tục.
Giờ Hán văn đệ Thất của tôi do một giáo sư[1] tên là Đặng Ngọc Thiềm hướng dẫn. Theo đúng thể lệ ông bắt chúng tôi mua mực Tàu, giấy bản, nghiên bút đàng hoàng. Có thể nói, những sinh hoạt ấy với những người khác chỉ là kỷ niệm nhưng lại trở thành “vốn quí” trong tôi. Vốn quí vì đây là bước chân mở cho tôi vào cánh cửa chữ Hán mãi đến tận hôm nay, mỗi lúc một thiết yếu hơn chứ không suy giảm chút nào.
Thuở ấy, cái nghiên giống như một cái bát sành nhỏ na ná cái đồ kê chân trạn cho kiến khỏi bò lên, còn mực thì là một thỏi a dao có mùi rất nặng. Thế mà chúng tôi cũng hí hoáy viết được những trang giấy chép theo cuốn Hán Học Phổ Thông của Đinh Đình Hòe và Thích Giải Minh[2]. Bộ Hán Học Phổ Thôngnày về sau tôi có mua thêm được cuốn thứ hai nhưng không phải để dùng trong lớp mà để tự học ở nhà.
Qua cuốn Hán Học Phổ Thông, chúng tôi biết qua phép Lục Thư (tượng hình, chỉ sự, hội ý, chuyển chú, giả tá, hài thanh) và theo chỉ dẫn của giáo sư Thiềm chúng tôi biết cầm bút viết theo lối trái trước, phải sau, trên trước dưới sau, ngoài trước, trong sau ngoại trừ một vài biệt lệ như bộ Sước () phải viết sau cùng.
Cuốn sách này rất đơn giản nhưng lại dễ nhớ cho trẻ con. Đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc một số bài trong đó, cổ văn cũng như kim văn, không dài và nặng như các cuốn sách tự học khác vừa bắt nhớ mặt chữ lại kèm thêm cả văn phạm [ngữ pháp].
Từ khi tiếp xúc với chữ Nho qua giờ Hán văn ở trường, tôi trở thành hiếu kỳ. Chữ Tàu ở nước ta thì không hiếm, có điều ít ai quan tâm thôi. Chỉ đảo qua một vòng trong Chợ Lớn, chúng ta sẽ thấy cơ man là chữ Hoa trên các bảng hiệu, phần lớn viết theo lối chân phương dễ đọc bên cạnh cái tên được dịch âm ra tiếng Việt. Phúc Sinh Đường thì bên dưới sẽ có ba chữ 福生堂 cùng những hàng chữ nhỏ hơn ghi tên các mặt hàng thuốc bắc như sâm nhung, cao đơn hoàn tán … Nếu so sánh đối chiếu tiệm này sang tiệm khác sẽ tìm thấy có nhiều chữ giống nhau và trừ qua sớt lại có thể đoán được những chữ mình chưa biết. Cái lối nhìn ngang nhìn ngửa để học lóm đó tôi gọi là “học chữ Nho ngoài đường” và lâu dần cũng có thể hiểu được ý nghĩa cái bảng hiệu vì phần lớn không phải chỉ là dịch từ chữ Tàu sang tiếng Việt mà còn có thêm những chi tiết khác. Thỉnh thoảng tôi cũng phát giác ra có bảng hiệu dịch sai, sai âm hay sai chính tả, chẳng hạn Dân Ký (民記) nhưng tiếng Việt lại viết thành Minh Ký. Những cái bảng hiệu ấy cũng cho tôi biết thêm một chút về văn minh Trung Hoa, chẳng hạn có chữ Đường thì biết là tiệm thuốc bắc, chữ Ký thì thường là tiệm tạp hóa hay tiệm ăn và dù không lấy gì làm đồ sộ nhưng vẫn quảng cáo thành đại tửu lâu.
 Cũng giờ Việt văn, chúng tôi dùng một cuốn sách giáo khoa có tên là Quốc Văn toàn thư [lớp đệ Thất]– mà tác giả là ba vị thầy nổi tiếng Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế và Tô Đáng[3]. Về sau tôi cũng mua thêm các tập kế tiếp để học thêm mặc dù chỉ năm đệ Thất chúng tôi dùng mà thôi. Phải công nhận rằng ít có bộ sách quốc văn nào phong phú như bộ này vì có đủ cả văn xuôi lẫn văn vần, từ những bài thơ của các tác giả xưa đến ca dao, văn chương cổ. Hai bài văn xuôi tôi nhớ nhất là lá thư của cụ Phan Bội Châu gửi cho con nói về cụ bà và hai lá thư của Hoàng Cao Khải, Phan Đình Phùng.
Đây là lá thư của cụ Phan Bội Châu:[4]


Này con! Chúng con ơi!

Cha e chết ở rầy mai, có lẽ mẹ mày không được một phen gặp nhau nữa!

Nhưng nếu trời thương ta, cho hai ta đồng chết thì gặp nhau dưới suối vàng, cũng vui thú biết chừng nào!
Nhưng đau đớn quá! Mẹ mày e chết trước ta. Ta hiện bây giờ nếu không chép sơ những việc đời mẹ mày cho chúng con nghe, thời chúng con rồi đây không biết rõ mẹ mày là người thế nào, có lẽ bảo mẹ ta cũng như người thường thảy cả.
Than ôi! Ta với mẹ mày, vợ chồng “thật” gần năm mươi năm mà quan quả[5] “giả” gần bốn mươi năm. Khi sống, chẳng mấy hồi tương tụ, mà tới chết lại chỉ tin tức nghe hơi!...
Mẹ mày có gì đâu! Chỉ dựa vào một triêng hai thúng, từ mai tới hôm mà cũng nghe chồng đòi gì có nấy. Bổng dậy học của ta tuy khá nhiều nhưng chưa đồng xu nào mà tay mẹ mày được xài phí. Khổ cực mấy nhưng không sắc buồn, khó nhọc mấy nhưng không tiếng giận. Từ đã 36 tuổi cho tới ngày xuất dương, những công việc kinh dinh việc nước, mẹ mày ngầm biết thảy nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, mẹ mày đứng dựa cột kề một bên ta mà nói:
- Thầy toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt mà người ta đã biết nhiều, sao thế?
Mẹ mày tuy có nói câu ấy, mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá! Bây giờ nhắc lại trước khi ta xuất dương, khoảng hơn 10 năm nghèo đói mà bạn bè nhiều, khốn cùng mà chí vững thiệt một phần nữa là nhờ ơn mẹ mày.
Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mày được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ, chỉ có một câu nói với ta rằng:
- Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần gặp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ trông mong cho thầy giữ được lòng xưa, thầy làm những việc gì mặc thầy, chớ có nghĩ tới vợ con.
Hỡi ôi! Câu nói ấy bây giờ còn phảng phất ở bên tai ta, mà ta té ra chầy chà năm tháng, chẳng một việc gì làm, chốc đã chẵn mười năm. Phỏng khiến mẹ mày chết trước ta, thì trách nhiệm của ta e còn nặng thêm mãi.
Suối vàng quanh cách, biết lối nào thăm. Ðầu bạc trăm năm, còn lời thề cũ.
Mẹ mày thật chẳng phụ ta, ta phụ mẹ mày!
“Công nhĩ vong tư”[6]chắc mẹ mày cũng lượng thứ cho ta chứ.[7]
Cũng qua những bài văn xuôi, chúng tôi được đọc lối văn trang nhã, trọng lý mà không quên tình như trong thư của Hoàng Cao Khải gửi Phan Đình Phùng và thư cụ Phan phúc đáp. Tuy ở hai chiến tuyến khác nhau, các cụ nhà nho không vì thế mà dùng lời lẽ thiếu lịch sự. Vì ý nghĩa lịch sử, tôi cũng chép lại đây bài học tôi học năm đầu tiên ở bậc trung học [tức lớp 6]:
Bức thư của Hoàng Cao Khải
Đồng ấp Phan Đình Nguyên đại nhân túc hạ.[8]
Tôi với ngài xa cách nhau, xuân thu đắp đổi trải đã mười bảy năm nay rồi. Dâu bể cuộc đời, bắc nam đường bụi, tuy là mỗi người đi một ngả khác nhau, nhưng mà trong giấc mộng hồn vẫn thường thấy nhau không phải xa xôi gì. Ngồi nghĩ lại ngày trước chúng ta còn ở chốn quê hương giao du với nhau, cái tình ấy đằm thắm biết là dường nào?
Từ lúc ngài khởi nghĩa đến giờ, nghĩa khí trung can, đều rõ rệt ở tai mắt người ta. Tôi thường nghe các quý quan (là các quan Pháp) nói chuyện đến ngài, ông nào cũng phải thở than khen ngợi và tỏ ý kính trọng ngài lắm. Xem như thế thì tấm lòng huyết khí tôn nhân, tuy là người khác nước cũng chung một tâm tình ấy thôi, không phải là người cùng thanh khí với nhau mới có vậy.
Ngày kinh thành thất thủ, xe giá nhà vua bôn ba, mà ngài mạnh mẽ đứng ra ứng nghĩa, kể sự thế lúc bấy giờ, ngài làm vậy là phải lắm, không ai không nói như thế. Song le, sự thế gần đây đã xoay đổi ra thế nào, thử hỏi việc đời có thể làm được nữa không, dầu kẻ ít học thức, kém trí khôn, cũng đều trả lời không được. Huống chi như ngài lại là bậc người tuấn kiệt, chẳng lẽ không nghĩ tới đó hay sao? Tôi trộm xét chủ ý của ngài, chắc cũng cho rằng: ta cứ làm theo việc phải ta biết, cứ đem hết tài năng ta có, một việc nên làm mà làm là ở nơi người, còn nên được hay không nên là ở nơi trời, ta chỉ biết đem thân này hứa cho nước, đến chết mới thôi. Bởi thế, cho nên ngài cứ việc làm tới cùng, không ai có thể làm biến đổi cái chí ấy đi được.
Có điều tôi thấy tình trạng ở quê hương chúng ta gần đây, lấy làm đau lòng hết sức. Nhân đó, tôi thường muốn đem ý kiến hẹp hòi, để ngỏ cùng lượng cao minh soi xét; nhưng mấy lần mở giấy ra rồi, mài mực xong rồi, đã toan đặt bút xuống viết rồi lại gác bút thở dài, không sao viết được. Vì sao? Vì tôi liệu biết can tràng của ngài cứng như sắt đá, không thể lấy lời nói mà chuyển động nổi. Đã vậy, lại còn khác tình, khác cảnh, xa mặt xa lòng, vậy thì lời nói của tôi, chắc gì thấu tới được nơi ngài; mà dầu cho có thấu tới nơi ngài chăng nữa, đã chắc gì lọt vào tai ngày chịu nghe giùm cho, chẳng qua chỉ để cho cố nhân cười mình là thằng ngu thì có.
Nay nhân quan Toàn quyền[9] trở lại, đem việc ở tỉnh ta bàn bạc với tôi, có khuyên tôi sai người đến ngỏ ý cùng ngài biết rằng: ngài là bậc người hiểu biết nghĩa lớn, dầu không bận lòng tưởng nghĩ gì đến thân mình, nhà mình đi nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân ở trong một địa phương mới phải. Lời nói đó, quan Toàn quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng: tôi với ngài có cái tình xóm làng cố cựu với nhau, chắc hẳn tôi nói ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói?
Ngay thử nghĩ xem: quan Toàn quyền là người khác nước, muôn dặm tới đây, mà còn có lòng băn khoăn lo nghĩ tới dân mình như vậy thay, huống chi chúng ta sinh đẻ lớn khôn ở đất này, là đất của cha mẹ tôn tộc ở đó, có là đâu mình làm lơ đành đoạn, thì trăm năm về sau, người ta sẽ bảo mình ra làm sao? Ôi! Làm người trên phải có lòng thương yêu dân làm cốt, chưa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trung với vua bao giờ. Việc của ngài làm từ bấy lâu nay, bảo rằng trung thì thiệt là trung, song dân ta có tội gì mà vướng phải nông nỗi lầm than thế này, là lỗi tại ai? Nếu bảo là đã vì thiên hạ thì không thiết chi tới nhà nữa cũng phải, nhưng một nhà của mình đã vậy, chứ còn bao nhiêu nhà ở trong một vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm, Tôi nghĩ nếu như ngài cứ khăng khăng làm tràn tới mãi, thì e rằng khắp cả sông Lam núi Hồng đều biến thành hồ cá hết thảy, chứ không phải chỉ riêng lo ngại cho cây cỏ một làng Đông Thái chúng ta mà thôi đâu. Đến nỗi để cho quê hương điêu đứng xiêu tàn, tưởng chắc bậc người quân nhân quân tử không lấy gì làm vui mà làm thì phải.
Tôi suy nghĩ đắn đo mãi, vụt lấy làm mừng rỡ mà nói riêng với mình: Được rồi, lời nói đó tôi có thể đem ra nói cho ngài nghe lọt tai, để xin ngài chỉ bảo cho biết như vậy có phải hay không?
Tuy nhiên, sự thế của ngài như cỡi trên lưng cọp đã lỡ rồi, bây giờ muốn bước xuống, nghĩ lại khó khăn biết bao!
Nếu như tôi không có chỗ tự tin chắc chắn nơi mình, thì quyết không khi nào dám mở lời nói liều lĩnh để mang luỵ cho cố nhân về sau. Nhưng may là tôi với quan Toàn quyền, vốn có tình quen biết nhau lâu, lại với quan Khâm sứ ở Kinh, và quan Công sứ Nghệ Tĩnh, cùng tôi quen thân hiệp ý nhau lắm, cho nên trước kia Trần Phiên sứ (tên là Khánh Tiến, làm Tuần phủ, nên gọi là Phiên sứ) Phan Thị Lang, (tên là Huy Nhuận), cũng là chỗ thân trong tỉnh, trong làng hoặc bị tội nặng, hoặc bị xử đày rồi, thế mà tôi bảo toàn cho hai ông ấy đều được yên ổn vô sự. Lại như mới rồi, ông Phan Trọng Mưu ra thú, tôi dẫn đến yết kiến các đại hiến quý quan, thì các ngài cũng tiếp đãi trân trọng như đãi khách quý, và tức thời điện về tỉnh nhà, bắt trả lại mồ mả, và tha cả ba con về, như thế tỏ ra nhà nước Bảo hộ khoan dung biết chừng nào! Cứ xem vậy đủ biết lẽ ấy, lòng ấy, dầu là người nghìn dặm xa nhau, vẫn là giống nhau vậy.
Bây giờ, nếu ngài không cho lời tôi nói là dông dài, thì xin ngài đừng ngần ngại một điều gì khác hết tôi không khi nào dám để cho cố nhân mang tiếng là người bất trí đâu.
Hoàng Cao Khải đốn thư
Bức thư cụ Phan trả lời:
Hoàng quý đài các hạ,[10]
Gần đây, tôi vì việc quân, ở mãi trong chốn rừng rú, lại thêm lúc này tiết trời mùa đông, khí hậu rét quá, nông nỗi thiệt là buồn tênh. Chợt có người báo có thư của cố nhân gửi lại. Nghe tin ấy, không ngờ bao nhiêu nỗi buồn rầu lạnh lẽo, tan đi đâu mất cả. Tiếp thư liền mở ra đọc. Trong thư cố nhân chỉ bảo cho điều hoạ phước, bày tỏ hết chỗ lợi hại, đủ biết tấm lòng của cố nhân, chẳng những muốn mưu sự an toàn cho tôi thôi, chính là muốn mưu sự yên ổn cho toàn hạt ta nữa. Những lời nói gan ruột của cố nhân, tôi đã hiểu hết, cách nhau muôn dặm tuy xa, nhưng chẳng khác gì chúng ta được ngồi cùng nhà nói chuyện với nhau vậy.
Song le tâm sự và cảnh ngộ của tôi có chỗ muôn vàn khó nói hết sức. Xem sự thế thiên hạ như thế kia, mà tài lực tôi như thế này, y như lời cổ nhân đã nói "thân con bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên muốn cản trở cỗ xe" sao nổi không biết; việc tôi làm ngày nay, sánh lại còn quá hơn nữa, chẳng phải như chuyện con bọ ngựa đưa tay ra cản xe mà thôi.
Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình mấy ngàn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau hết đời này qua đời kia, đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, duy có chỗ ỷ thị dựa nương để dựng nước được, là nhờ có cái gốc vua tôi, cha con theo nghĩa vốn có chỗ đủ cho mình tự có thể trông cậy dựa nương lắm vậy. Đến nay người Pháp với mình, cách xa nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể tới đây, đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà, cùng bị đắm chìm hết thảy, có phải là riêng một châu nào hay một nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà thôi đâu.
Năm Ất Dậu, xe giá thiên tử ngự đến sơn phòng Hà Tĩnh, giữa lúc đó tôi đang còn tang bà mẹ, chỉ biết đóng cửa cư tang cho trọn đạo, trong lòng há dám mơ tưởng đến sự gì khác hơn. Song, vì mình là con nhà thế thần, cho nên đôi ba lần đức Hoàng thượng giáng chiếu vời ra; không lẽ nào có thể từ chối, thành ra tôi phải gắng gổ đứng ra vâng chiếu, không sao dừng được. Gần đây, Hoàng thượng lại đoái tưởng lựa chọn tôi mà giao phó việc lớn, uỷ thác cho quyền to; Ấy, mệnh vua uỷ thác như thế đó, nếu cố nhân đặt mình vào trong cảnh như tôi, liệu chừng cố nhân có đành chối từ trốn tránh đi được hay không?
Từ lúc tôi khởi nghĩa đến nay, đã trải mười năm trời, những người đem thân theo việc nghĩa, hoặc đã bị trách phạt, hoặc đã bị chém giết, vậy mà lòng người trước sau chẳng hề lấy thế làm chán nản ngã lòng bao giờ; trái lại, họ vẫn ra tài, ra sức giúp đỡ tôi, và lại số người mạnh bạo ra theo tôi càng ngày càng nhiều thêm mãi. Nào có phải người ta lấy điều ta vạ hiểm nguy làm cho sự sung sướng thèm thuồng mà bỏ nhà dấn thân ra theo tôi như vậy đâu. Chỉ vì họ tin cậy lòng tôi, lượng xét chí tôi, cho nên hâm hở vậy đó thôi. Ấy, lòng người như thế đó, nếu như cố nhân đặt mình vào cảnh của tôi liệu chừng cố nhân có nỡ lòng nào bỏ mà đi cho đành hay không?
Thưa cố nhân, chỉ vì nhân tâm đối với tôi như thế, cho nên cảnh nhà tôi đến nỗi hương khói vắng tanh, bà con xiêu dạt, tôi cũng chẳng dám đoái hoài. Nghĩ xem, kẻ thân với mình mà mình còn không đoái hoài, huống chi là kẻ sơ: người gần với mình mà mình còn không bao bọc nổi, huống chi người xa. Vả chăng hạt ta đến đỗi điêu đứng lầm than quá, không phải riêng vì tai hoạ binh đao làm nên nông nổi thế đâu. Phải biết quan Pháp đi tới đâu, có lũ tiểu nhân mình túa ra bày kế lập công, thù vơ oán chạ; những người không có tội gì chúng cũng đâm thọc buộc ràng cho người ta là có tội, rồi thì bữa nay trách thế nọ, ngày mai phạt thế kia; phàm có cách gì đục khoét được của cải của dân, chúng nó cũng dùng tới nơi hết thảy. Bởi đó mà thói hư mối tệ tuôn ra cả trăm cả ngàn, quan Pháp làm sao biết thấu cho cùng những tật khổ của dân trong chốn làng xóm quê mùa, như thế thì bảo dân không phải tan lìa trôi giạt đi sao được?
Cố nhân với tôi, đều là người sinh đẻ tại châu Hoan, mà ở cách xa ngoài muôn ngàn dặm, cố nhân còn có lòng đoái tưởng quê hương thay, huống chi là tôi đây đã từng lấy thân chịu đựng và lấy mắt trông thấy thì sao? Khốn nỗi cảnh ngộ bó buộc, vả lại sức mình chẳng làm được theo lòng mình muốn, thành ra phải đành, chứ không biết làm sao cho được. Cố nhân đã biết đoái hoài thương xót dân này, thì cố nhân nên lấy tâm sự tôi và cảnh ngộ tôi thử đặt mình vào mà suy nghĩ xem, tự nhiên thấy rõ ràng, có cần gì đến tôi phải nói dông dài nữa ư?
Phan Đình Phùng phúc thư[11]
Tuy tuổi thơ trong chúng tôi chẳng ai hiểu rành rọt ý nghĩa và từ ngữ các bức thư này nhưng lời văn trịnh trọng và mượt mà qua bản dịch của Đào Trinh Nhất đã gieo vào đầu óc sự kính trọng chữ nghĩa văn chương. Cuốn Quốc Văn ấy có cái hay là đều chú thích rất kỹ các chữ khó, chữ Hán – Việt đều kèm theo chữ Hán nên tôi cũng tiện học theo – hay ít nhất cũng quen mắt với chữ gốc. Nói tóm lại, việc học chữ Hán của tôi khởi đầu bằng văn chương Việt Nam vì quả thực các từ Hán – Việt hầu như xuất hiện đến quá nửa trong tiếng nước mình nên học chữ Nho cũng chỉ là vì muốn học tiếng của dân tộc mình. 
(Còn tiếp một kỳ)





1  Trước năm 1975, ở miền Nam thầy dạy bậc trung học đều được gọi là giáo sư
2   [Nguyễn Đăng Thục đề tựa và và Huyền Mặc đạo nhân hiệu đính] Saigon: Yên Sơn, 1959
3  Trong tủ sách giáo khoa Trường Sơn. Saigon: Việt Hùng, 1959
4  Những lá thư này không phải trích từ cuốn Quốc Văn toàn thư mà sưu tầm từ nguồn khác, tuy chưa so sánh nhưng tôi tin rằng không có gì khác biệt.
5  Ðàn ông không vợ gọi là quan, đàn bà goá chồng gọi là quả.
6  公爾忘私Hết lòng vì việc chung mà phải quên việc riêng. Trích từ câu của Lý Chí (李贄) đời Minh: 公爾忘私,而其父又唯知日夜傷晃氏之不安矣。(công nhĩ vong tư, nhi k phụ hựu duy tri nhật dạ thương hoảng thị chi bất an hĩ ). Trong bản của Chương Thâu viết là “công nhi vong tư”.
7  Lá thư này chép lại từ Phan Bội Châu toàn tập, tập 4, Chương Thâu sưu tầm và biên soạn. (Huế: Thuận Hoá, 1990), nguyên tác “Kể cho các con nghe về bà Phan Bội Châu” từ trang 349-351 rút ra trong Phan Bội Châu tiên sinh di cảo (tài liệu chép tay của Tống Châu Phu), 1936.
8  Cụ Phan Đình Phùng khi khởi nghĩa thì đã bị cách chức nên hoàng Cao Khải gọi ông là “túc hạ” [dưới chân, khiêm tốn nhưng cho biết cụ Phan là dân thường].
9   Khi ấy là De Lanessan
10  Cụ Phan gọi Hoàng Cao Khải là “các hạ” [dưới gác, ý chỉ họ Hoàng đang là quan lớn của triều đình]
[11] Hai bài này tôi lấy lại từ Tuyển tập Đào Trinh Nhất (Văn Học: 2000) tr. 170-6. Đây chỉ là bản dịch từ nguyên tác chữ Hán. Nguyên tác hai bức thư này thấy trong Hồng Liên Lê Xuân Giáo: “Thân Thế và Sự Nghiệp vị anh hùng dân tộc Phan Đình Phùng” Tạp Chí Khảo Cổ [bộ mới: số 1) (Khối Văn Hóa, Bộ Văn Hóa Giáo Dục Saigon, 1967) tr. 41-7 nhưng tiếc thay chỉ dịch âm mà không có nguyên bản chữ Hán.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)