Tìm kiếm Blog này

Trần Hữu Thục: Đi vào thế giới ca từ Trịnh Công Sơn

Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017



Hôn phối

Văn Cao: “Tôi gọi TCS là người ca thơ (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ.[1]

Nguyễn Xuân Hoàng nhận xét: “TCS là một thi sĩ. Vâng, anh đích thị  là một nhà thơ viết nhạc.[2]  
Vũ Thư Hiên: “Xét cho cùng, TCS là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng ta.[3] 

Bùi Bảo Trúc: “Có những bản nhạc của ông, phần lời ca đúng là những bài thơ. Ông dùng nhạc để nâng đỡ những đoạn thơ đó. Và ông cũng dùng thơ để dẫn những đoạn nhạc đi.[4]  

Một người bạn là giáo sư âm nhạc, khi chỉ tôi về cách sáng tác ca khúc, nhắc nhở: “Ông viết sao đó thì viết, nhưng nhớ là đừng có bị “lai” Phạm Duy và Trịnh Công Sơn.” Tôi hứa cố gắng. Bắt chước nhạc Phạm Duy thì không được rồi. Giòng nhạc của ông phong phú, đa dạng quá, vừa sáng tạo lại vừa chuyên môn và thay đổi theo từng loại  ca khúc, theo nội dung và đề tài, chẳng cái nào giống cái nào. “Thiền Ca” không giống “Tâm Ca”, khác xa “Tục Ca”, lại chẳng quan hệ chút nào đến “Tình Ca” và những ca khúc yêu nước. Riêng TCS thì thật là khó thoát. Tôi đã thử loay hoay “sáng tác” nhiều đoạn, nhiều bài, nhưng xong rồi nghe lại (và nhờ bạn bè nghe lại) thì chúng cứ “lai lai” TCS thế nào ấy. Nhẹ nhẹ. Buồn buồn. Đều đều. Nghe cứ phảng phất, nếu không “Diễm Xưa”, “Tuổi Đá Buồn” thì cũng “Ru Em Bốn Mùa”, “Hạ Trắng”...Sửa đi, sửa lại, cố thay đổi. Vẫn cứ thế. Vẫn nặng “mùi” TCS. Tức quá, tôi tìm cách viết theo một thể điệu khác hẳn, thay vì “gam” Mi thứ, La thứ, tôi chọn Đô trưởng chẳng hạn. Nghe có hơi khác TCS. Mừng, tưởng thoát. Nhưng đến khi đặt lời thì nào là rong rêu, cát bụi, phố xưa, ngậm ngùi, nào là muộn phiền, hư vô, ngày tháng, trăm năm, hư hao, nỗi nhớ...chúng nó cứ ào vào. Rốt cuộc, thoát được  nhạc thì “bị” lời. Đặt lời khác thì lại không được, vì cái “tạng” mình nó vậy, làm sao bây giờ. Thế thì thôi, hát TCS đi cho nó khỏe. Đành bỏ mộng sáng tác.

Tại sao vậy nhỉ? Thì ra, lý do khá đơn giản: nhạc của TCS rất giản dị, không có gì chuyên môn và cầu kỳ. Cũng như TCS, tôi thích mấy “gam” bình thường như La thứ, Mi thứ. Thích nhịp điệu buồn buồn, trầm trầm và nhiều chất diễn tả như Blue (2/4), Boston (3/4) và cách chuyển “gam” rất bài bản và dễ. Xem lại, tôi nhận thấy hầu hết những bản nhạc nổi tiếng của ông - mà nhiều người ưa thích - đều “rơi” vào hai “gam” La thứ (nếu không thì La trưởng, hoặc La thứ + trưởng) và Mi thứ (hoặc Mi trưởng). Này nhé:

* La thứ: Biển Nhớ, Gọi Tên Bốn Mùa, Cát Bụi, Chiếc Lá Thu Phai, Cúi Xuống Thật Gần, Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ, Hạ Trắng, Lời Buồn Thánh, Một Ngày Như Mọi Ngày, Phôi Pha, Ru Ta Ngậm Ngùi, Tình Xa, Ướt Mi, Em Đi Bỏ Lại Con Đường, Những Giọt Máu Trổ Bông, Nối Vòng Tay Lớn, Dân Ta Vẫn Sống...
           
* La trưởng: Nắng Thủy Tinh, Nhìn Những Mùa Thu Đi, Quỳnh Hương, Tuổi Đá Buồn

* Mi thứ: Còn Tuổi Nào Cho Em, Diễm Xưa, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, Hoa Vàng Mấy Độ, Một Cõi Đi Về, Như Cách Vạc Bay, Ru Em, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Tình Nhớ, Tình Sầu, Thương Một Người, Ta Đã Thấy Gì Trong Đêm Nay.

*  Mi trưởng: Nguyệt Ca

La và Mi là hai “gam” dễ hát, dễ đàn, rất thích hợp với nhạc TCS. Chỉ cần một chút kiến thức âm nhạc và một chút thói quen là có thể “chơi” nhạc ông dễ dàng. Đây là một kinh nghiệm thuần cá nhân và thuần cảm tính. Tôi có thể nói, dường như hai âm giai đó tự nó đã mang cái chất TCS (hoặc là vì ông đã mang cái chất của ông vào hai “gam” đó).

Phạm Duy nhận xét: “...toàn thể ca khúc TCS không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại.[5]
Văn Cao nhận xét: “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra.[6]

Một người viết khác, Phạm Văn Tuấn nhận xét: “Đứng trên khía cạnh lý thuyết nhạc, nhạc của Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, phần lớn những bài hát đều được viết theo thể điệu chậm (slow), Boston hay nhanh lắm là điệu Fox. Suốt hơn 40 năm sáng tác, Trịnh Công Sơn không khai phá gì thêm ngoài những giai điệu đơn giản đó.[7]

Những nhận xét trên cùng với kinh nghiệm nhỏ nhoi của riêng mình cho tôi thấy, chỉ với nhạc không, ta sẽ chỉ có một TCS nhạc sĩ  bình thường, không mang cái hơi hướm đặc biệt TCS như ta biết hiện nay, không trở thành một hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử ca nhạc và cả trong lãnh vực văn học như hiện nay. Vậy thì sao lại là nhạc TCS?

Một nghịch lý: Nhạc TCS hay là nhờ ở ngôn ngữ TCS. Nếu không thích hát, ta có thể giở bất cứ một bài hát nào của TCS và đọc, y như đọc thơ. Ta sẽ thưởng thức các ca từ đó như bài thơ. Và thế cũng đủ. Người viết bài này, rất thích hát nhạc TCS, nhưng trong nhiều trích đoạn dưới đây, không hề biết “nhạc” của chúng. Mỗi một bản nhạc, tôi đọc như một bài thơ. Nhưng một câu hỏi khác đặt ra: ở Việt Nam, trước 1975 cũng như sau này, đâu có thiếu những bài thơ hay (bằng hoặc hay hơn TCS) của những nhà thơ tài hoa khác, Tô Thùy Yên chẳng hạn. Tại sao chúng không nổi tiếng bằng TCS?

Điều đó dẫn đến một nghịch lý thứ hai: thơ TCS hay là vì chúng được biến thành nhạc và phổ biến rộng khắp. Như ta biết, nhiều bài thơ đã trở thành hay, và được công chúng đón nhận là nhờ được phổ nhạc, nghĩa là biến thành âm thanh. Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Du Tử Lê chẳng hạn. Ngôn ngữ TCS là những bài thơ. Y như bất cứ một bài thơ nào khác. Có điều chúng tự biến thành âm thanh cùng lúc sáng tác. Đó là những “bài thơ âm” (Văn Cao gọi TCS là người ca thơ). Chúng có cùng với nhạc. Chúng được sáng tác cho nhạc. Nhưng vẫn không phải là những bài thơ phổ nhạc.

Mặt khác, qua một số lượng khá lớn bài hát, ngoài việc tạo các cấu trúc câu khá cân đối, ta nhận thấy TCS chú ý nhiều đến cách hợp vần. Như ta đã biết, khi sáng tác nhạc, nhạc sĩ  nào cũng tìm lời có vần, rất  cần thiết để tạo âm thanh thích hợp trong giòng nhạc. TCS, cũng như Phạm Duy, dụng công rất nhiều trong việc tạo vần, nhất là cho những từ ở cuối mỗi câu nhạc. Và cũng như Phạm Duy, lối hợp vần của TCS khá đa dạng, do đó, tạo nên những nét nhạc lạ, nhiều khi rất bất ngờ:
- Để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài
- Đi lên non cao đi về biển rộng,
  đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
- Tình ta như núi rừng cúi đầu, nghe tiếng buồn rơi đều
- Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng
  Ru bay tà áo rộng, vừa tình tôi chắp cánh

Bốn câu cuối, khi hát lên, mấy chữ  gấm, hồng, rộng, cánh đều có vẻ “vần” với nhau. Như thế, khác với thơ để đọc, thơ để ca có thể “vần” thanh trắc và thanh bằng vào với nhau một cách thoải mái. Nhờ khai thác được quan hệ giữa lời và âm, nên ông dễ tìm ra vần. Cách khai thác vần này khiến các bài ca đâm ra dễ nghe, suông sẻ, phong phú. Đồng thời, do đi với nhạc, nên những vần “lai lai”, khi hát lên nghe vẫn thuận y như là vần thật. Thậm chí vần “lai lai” nghe còn  thú hơn là vần  quá thuận. Trong ca từ TCS, ta thấy ông “vần” những chữ như  nhỏ –nọ – lạ – cỏ – do - giờ – đổ - chợ – thơ – lửa... hoặc thơm – tình – xanh – nhiên – yên – mình – tên – quên – mòn - điên – câm – đông – màng…. Nhiều bản nhạc của ông chỉ có vài vần. Có bản, do chọn chữ và cấu tạo  âm, ta nghe dường như chỉ có một vần độc nhất từ đầu đến cuối.  Một số ca khúc nổi tiếng của ông có thể gọi là “ca khúc vần”, vần gần vần xa, vần trắc vần với vần bằng và ngược lại. Có lẽ nhờ thế mà nhiều ca khúc lời rất vô nghĩa, người ta không hiểu, nhưng vẫn thích hát. Có những bài, người ta “hát vần” chứ không “hát ý”. Hồi trước, tôi đã nhiều lần cười thầm một mình khi đi ngang qua một xóm nghèo, chợt nghe một cô gái  ăn mặc lam lũ vừa bồng em vừa cất tiếng hát, Gọi nắng, trên vai em gầy đường xa áo bay lẫn với Đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn...

Trịnh Công Sơn tự nhận xét: “Ca khúc đối với tôi là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh. Nó là một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc.”[8]

Vâng, hôn phối giữa thơ và nhạc.  Đó là một lẽ. Theo tôi, nó còn là một cuộc hôn phối khác, hôn phối giữa Trịnh Công Sơn và thời đại của ông (cũng là của chúng tôi). Không một chút chủ quan, tôi có thể nói thời đại chúng tôi là một thời đại đặc biệt chưa hề có trong lịch sử đất nước. Nó không dài, nhưng cũng vừa đủ để tạo nên sắc thái hết sức riêng của nó. Đó là một giai đoạn bùng vỡ mọi mặt. Nguyễn Mộng Giác gọi giai đoạn đó là “mùa biển động”, cũng là dùng đặt tên cho bộ trường thiên tiểu thuyết của ông. Vâng, mùa biển động! Liên tục động.

Suốt 12 năm trời, từ cuối năm 1963 cho đến tháng 4/1975, miền Nam không khi nào yên tĩnh. Biểu tình, đảo chánh, pháo kích, giới nghiêm, bãi khóa, hội thảo. Các phong trào, đảng phái mọc lên như nấm. Các xu hướng chính trị, triết học phát triển rầm rầm rộ rộ, có khi đi đến chỗ loạn xà ngầu: hiện sinh, cộng sản, tả khuynh, hữu khuynh, phân tâm, thiền, cách mạng tính dục. Cả một xã hội dường như trần truồng, lộ liễu, phơi bày toang hoác. Các tệ nạn xã hội được dịp phát triển kinh khiếp: tham nhũng, đĩ điếm, cướp bóc, giết người... Thời đại tướng lãnh sợ sinh viên, bộ trưởng sợ cha, sợ thầy chùa. Một giai đoạn lịch sử tự do, bung phá. Mọi tháp ngà bị đập vỡ. Mọi đường ranh bị băng qua. Tất cả các tiêu chuẩn chân lý bị xét lại. Xã hội đầy kịch tính. Tuổi trẻ đứng cheo leo trên đường biên. Thích thì làm, thích thì nói mà vẫn cảm thấy chênh vênh. Đó là thời kỳ của khai mở và bi kịch. Không chỉ là bi kịch của chiến tranh, của sự đổ vỡ mọi giá trị, mà còn là bi kịch của những yếu tố mâu thuẫn nội tại.

TCS hít thở cái không khí tự do, đa dạng đó đồng thời cũng hít thở luôn cái không khí ngột ngạt, bế tắc của nó. Ông đớn đau nhận lãnh và sung sướng thừa hưởng để biến thành nghệ thuật. Có những bi thảm của chiến tranh thì cũng có những ước mơ rực rỡ về hòa bình. Có cái đẹp của tình yêu thì cũng có cái bế tắc, tuyệt vọng của cuộc nhân sinh. Có cái nhẹ nhàng, giải thoát của thiền thì cũng có cái khắc khoải đớn đau của cảnh bể dâu. Có những bài ca kêu gọi chiến đấu thì cũng có những bài ca chán nản, tuyệt vọng đến cùng cực. Trong nhạc của TCS, có đầy dẫy những nghịch lý của thời đại được diễn tả qua các khái niệm siêu hình: đỉnh cao/vực sâu, vô hạn/hữu hạn, có/không, còn/mất... Nói theo kiểu Tô Thùy Yên thì những ca khúc của TCS “như những tra vấn quyết liệt về đời người nhìn thấy qua một chuyến phiêu lưu của hữu hạn trong nghìn trùng vô hạn.[9] Đặng Tiến  khen TCS “có tài đặt nhạc, soạn lời, lại biết bắt mạch thời đại, sống đúng thế hệ của mình, trong lòng đất nước, trong nhạc cảnh thế giới. Ngần ấy cái tài dồn lại, gọi là thiên tài cũng không quá đáng.[10]

Có thể nói khác đi một chút: ca từ của TCS là một hôn phối giữa nhiều “nỗi”, nhiều “niềm”, nhiều “sự” khác nhau: nỗi tuyệt vọng nhân sinh, sự phẫn nộ về chiến tranh, nỗi khao khát hòa bình, nỗi băn khoăn siêu hình, niềm vui tình yêu, đoàn tụ, nỗi buồn thăm thẳm của thân phận con người. Có lẽ vì thế mà dù thỉnh thoảng TCS có “đao to búa lớn” la to những là hãy thế này, thế kia, cũng chỉ là “bốc đồng”. Ông rên rỉ, than thở và chỉ muốn ru: ru tình, ru đời, ru đêm, ru tình, ru em...

Rốt cuộc, ông chẳng bao giờ có thể là chiến sĩ, mà chỉ là một nghệ sĩ.

Ngôn ngữ  

Trong sự nghiệp sáng tác của TCS, ta thấy có hai giòng nhạc tách nhau rất rõ: dòng nhạc nói về chiến tranh và hòa bình và dòng nói về tình yêu, thân phận. Chúng khác nhau về nội dung đã đành, mà kỹ thuật diễn đạt, cách kết cấu ca từ cũng như nhịp điệu và âm thanh  hoàn toàn khác. Như đã đề cập, ông viết về chiến tranh và hòa bình bằng một lối viết rất hiện thực, kể cả khi mô tả những giấc mơ, những ước vọng.  Hiện thực chiến tranh kinh khiếp đó được mô tả bằng chữ nghĩa sống động và đầy hình ảnh: trái tim rơi theo đại bác, thịt người cho thú nhai ngon, thịt xương đã phơi đồng xanh, đại bác ru đêm dội về thành phố....TCS sử dụng những chi tiết cụ thể, có thể nghe, nhìn, đồng thời nâng chúng cao hơn, phóng lớn, mở rộng nghĩa. Hiện thực ông bắt gặp và ví von bất ngờ quá khiến đôi khi làm ta thảng thốt: mộ bia đều như nấm, chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò nằm chết như mơ. Ca từ lại rất “văn phạm”, nghĩa là có ý nghĩa cụ thể vì cấu trúc câu giản dị, dễ hiểu. Ông muốn gửi một thông điệp rõ ràng đến người hát và người nghe.

Mọi sự hoàn toàn khác hẳn khi ta bước vào tình ca và thân phận ca mà tôi gọi chung là nhân sinh ca. Tất cả bắt đầu chông chênh ở biên giới của chữ nghĩa và ý tưởng bởi vì có một sự pha trộn đặc biệt giữa nhiều hình ảnh và ý tưởng khác nhau. Bửu Ý nhận xét: “...ta còn chứng kiến một công cuộc thể nghiệm của tiếng Việt trên những chặng đường mới của ngôn ngữ với những kết hợp từ ngữ tài hoa, những góc độ thu hình lạ lẫm, những tri giác dày dặn nhiều tầng, đồng thời làm sáng giá những sự vật thông thường và tầm thường, khả năng tưởng tượng bay bổng.[11]

Trước hết, ngôn ngữ ở đây là một thứ ngôn ngữ buồn và ray rứt. TCS tận dụng, và trong một số trường hợp có vẻ như lạm dụng, thứ ngôn ngữ đó. Đúng ra thì chúng được lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều bài hát khác nhau. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong nhiều bài hát, ông sống cùng một thức cảm thức: cô đơn. Ta nhiều lần bắt gặp những từ và nhóm từ như: quạnh hiu, lênh đênh, trăm năm, giòng sông, gian nan, ăn năn, ngậm ngùi, hoang mang, hoang phế, mỏi mòn, hư hao, mệt nhoài, buồn tênh, rong rêu, đời, chơi, vui, cuộc tình, vai gầy, gầy guộc, buồn phiền, ưu phiền, cội nguồn, con đường...Nhiều nhóm từ có chữ đá: đá buồn, sỏi đá, đá cuội, bia đá, cồn đá. Một số từ trong triết học Phật giáo: vô thường, tiền kiếp, từ bi, cõi tạm, hư không. Tất nhiên, những từ trên không có gì là lạ trong ngôn ngữ Việt. Nhưng ở đây, cái lạ là cách kết hợp thành những nhóm từ và cách sử dụng chúng trong các đơn vị câu để tạo nên những hình ảnh, biểu tượng với ý nghĩa từ mới đến hoàn toàn mới và rất nhiều khi tạo nên những hiệu ứng đặc biệt về mặt âm thanh: tuổi/ đá/buồn, cồn/ đá, môi/hờn, bàn tay xanh xao/đón/ ưu phiền, nắng/khuya, mặt trời/ngủ yên, hạt/từ tâm.

So với những ca từ viết về chiến tranh, sự khác biệt rất rõ nét. Xác người nằm trôi sông thì ta hiểu ngay nhưng tuổi đá buồn nghe kỳ quặc, lạ hoắc và vô nghĩa. Mặt trời sáng trên quê hương thì có nghĩa nhưng nắng khuya hoàn toàn vô nghĩa. Còn dài tay em mấy là cái gì vậy? Có phải là “có mấy thuở tay em dài và mắt em xanh xao” không? Vẫn vô nghĩa. Ấy thế mà ta cứ hát và cái lạ là hình như nó vẫn có nghĩa. Tiếp tục hát. Và dần dà chúng có nghĩa thật! Có nghĩa mà không giải thích được. Thực ra thì ông dùng cách kết hợp các từ ngữ xuất phát từ những ý tưởng khác xa nhau. Cụm từ tuổi đá buồn chẳng hạn. Thay vì phải giải thích dài dòng, anh cột chúng lại, buộc chúng phải ở với nhau: tuổi (tuổi đời, tuổi em, tuổi xuân, tuổi ngọc, lứa tuổi...) + đá (đá cuội, đá sỏi, bia đá, cứng như đá, vô tình như đá, lạnh như đá...) + buồn. Tóm lại chỉ để diễn tả nỗi buồn sâu lắng của một thời tuổi trẻ.

“Diễm Xưa” là gì? Hãy nghe TCS giải thích: “Nhưng thật sự, thật và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia” ... “Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian”... “Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường .Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định.[12]   

Phải mẫn cảm lắm mới nhận ra điều gọi là “đi đến trường” mà như “đến một nơi vô định” như thế. Đúng ra, tôi nghĩ, cô gái biết rõ mình đi đến đâu, chỉ có kẻ ngồi ngóng “những chuyến mưa qua” mới là vô định. Và suốt đời, đây đó, anh ta luôn luôn vô định. Để diễn tả cái hình ảnh và cái cảm giác vô định đó, TCS tạo ra một thứ ngôn ngữ mới lạ, không hệ lụy vào ý nghĩa có sẵn vẫn thường quy cho chúng. Ngôn ngữ ở đây có tính tạo hình, tạo âm và trong chừng mực nào đó, là một thứ ngôn ngữ “vô ngôn”. Ca từ chỉ còn là sự ghép những hình ảnh hay ý hay chữ chợt bắt gặp hay chợt rơi vào trí tưởng. Nói một cách khác, không nhất thiết phải dán cho chúng những ý nghĩa cụ thể nhất định nào. Cứ để chúng tan vào âm thanh, trôi tuột giữa chữ và chữ với nhau. Chữ cuốn theo chữ. Âm cuốn theo âm. Hình cuốn theo hình. Khi nghe câu hát “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ dài tay em mấy thuở mắt xanh xao,” tôi nghĩ đến một bức tranh siêu thực: hình ảnh của một cô gái nằm vắt ngang giữa rừng cây mưa, giữa đền đài lăng miếu cũ buồn tênh, tay dài ngoẵng và mắt thì sâu thẳm. Buồn! Bất tuyệt buồn! Có phải TCS đã vẽ trong khi làm thơ và sáng tác ca khúc?  Hát “Tuổi Đá Buồn” hay “Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng” cũng thế, tôi thường hình dung những chi tiết nào đó của một bức tranh: một đôi mắt, một vệt màu, vài nét chấm phá vu vơ, một lối đi hoang vắng hun hút dài, những sợi mưa nhỏ, mái tóc dài tung bay lòa xòa dưới bầu trời xám đục...Tưởng tượng đến một bức tranh khiến tôi thâm cảm được thêm chất liệu ẩn dấu đàng sau ngôn ngữ của ông, từ gót chân trần em quên em quên cho đến tóc em như trời xưa đã qua đi ngàn năm.

Cái chất “vô ngôn” (tiến đến phá ngôn) của TCS đạt đến đỉnh cao trong “Dấu Chân Địa Đàng”, và “Vết Lăn Trầm”. Những là loài sâu ngủ quên trong tóc chiều, bài ca dạ lan như ngại ngùng, loài sâu hát lên, từ vào trong đá xưa, tóc xanh vầng trán thơ, loài rong rêu ngủ yên. Trừu tượng hơn: hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền, bồn gió hoang, chờ ta da du một chuyến, bài ca dao trên cồn đá. Toàn  là những nhóm từ kết hợp vô định, tình cờ, hình ảnh loải choải, nhảy vọt bất ngờ, thậm chí có vẻ ngây ngô, vô nghĩa y như một kẻ ưa làm dáng chữ nghĩa. Đã thế, không giống như  những bài khác về sau, nhạc ở đây ngúc ngắt, thiếu hẳn cái nét trơn tru mềm mại của giòng nhạc “chính thống” TCS. Lối viết nhạc và lời kiểu này khá hiếm trong toàn bộ nhạc TCS. Chúng được sáng tác trong thời kỳ đầu và không hề thấy xuất hiện về sau này. Có lẽ vì ông hết cảm hứng hay vì nó khó đến với công chúng, nói chung?

Ngôn ngữ ở những bản nhạc này không đóng chức năng bình thường của chúng là tạo nghĩa và tạo ý. Y như trong hội họa hiện đại, chúng chẳng khác gì một loại tranh “cắt dán” (collage). Trong thực tế, theo như cảm nhận riêng của tôi, hai bài ca trên là nỗi khắc khoải có tính chất siêu hình của TCS. Đó là một khắc khoải không chỉ về thân phận, mà về cái tuyệt đối, về một thời hồng hoang đã mất, về một chới với trong cõi vô biên, từa tựa như Trần Tử Ngang:
Tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du, độc sảng nhiên nhi lệ hạ

Khắc khoải của Trần Tử Ngang có tính trực giác, còn khắc khoải của TCS lại nhuốm mùi duy lý. Có thể nói đó là một khát khao bất tuyệt về một thiên đàng, không phải đã mất, mà không hề có. Nhiều lần, hát “Vết Lăn Trầm”, đến chỗ “bài ca dao trên cồn đá”, âm thanh vút cao lên, khiến lòng chợt chới với, hụt hẫng, nghe đau đáu một nỗi đau mênh mang khó tả!

Phải nhận rằng, cách cấu tạo ngôn ngữ TCS tài hoa, táo bạo và lạ. Trong quá trình tạo vần cho phù hợp với âm và với nét nhạc, anh “bật” ra những tứ, những ý, những hình ảnh và ngôn ngữ hết sức bất ngờ, mới lạ đôi khi khiến ta sửng sốt  y như chúng từ trên trời rớt xuống. Đọc hoặc hát và nghe hát đi hát lại hàng bao nhiêu lần mà cảm giác sửng sốt  và mới lạ vẫn còn tươi rói y như mới nghe lần đầu. Chẳng hạn như những từ tôi nhấn mạnh dưới đây:
Lùa nắng cho buồn vào tóc em

       

- Nhật nguyệt trên cao ta ngồi dưới thấp
   một đường cong queo, nắng vàng đột ngột

- Lòng tôi có đôi khi
   tựa bông hoa vừa mọc
   hân hoan  giây xuống thế      
- Chợt nắng long lanh chợt nắng thưa
- Tặng hết cho tôi một phố chờ

Ngoài nhiều từ lập đi lập lại, hầu như bài nào cũng có những ý, những chữ hoặc những tứ thật bất ngờ, và lạ như thế. Thực ra về mặt ý tưởng, chúng cũ, rất cũ nữa là khác hoặc là cùng một ý được lập đi lập lại qua nhiều bài hát khác nhau. Cũng là nỗi cô đơn, mất mát, tâm trạng xao xuyến trước cuộc lữ, sự bất lực của con người trước thời gian, ám ảnh triền miên về cái chết. Nhưng cách dùng chữ mang lại những hình ảnh mới. Có khi mới toanh. Chữ nghĩa có vẻ dễ dàng đối với ông y như chúng nằm sẵn đâu đó chỉ đợi có cơ hội là tuôn ra. Lạ tai mà thú vị. Này nhé, hãy nghe, Xin đứng yên trong chiều - Treo tình trên chiếc đinh không. Chữ nghĩa dùng thì có khác nhưng rõ ràng là ý tứ chưa có gì mới lạ, hình ảnh cũng bình thường. Bỗng nhiên tiếp theo đó:
gập ghềnh nhiều kiếp lưu vong, ta lăn đời đã quá
Đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng

Nghe đã thật! Còn nữa. Này nhé, ta đang nghe, Ru trên đường em đến - Xôn xao từng tiếng chim - Ru em là cánh nhạn. Bỗng, anh hạ bút:
Miệng ngọt hạt từ tâm

Hoặc là:
Vườn khuya đóa hoa nào mới nở
Đời ta có ai vừa qua.

Bỗng:
Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ
Tôi nghĩ quanh đây hồ như

Ô hay! Sao hai chữ “hồ như” lại rơi vào đây? Chữ trông như chẳng có nghĩa gì ráo, mà làm sao nó khiến cho lòng mình bề bộn thế này! Bốn câu vừa trích là từ bản nhạc “Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ”, một trong những bài hát rất hay của TCS. Bản nhạc điệu “Blues” nhẹ, gam La thứ là gam ruột của nhạc TCS. Nếu tách hẳn ra thì là một bài thơ hoàn chỉnh mà ông Hoàng Ngọc Hiến bảo là bài thơ hay nhất thế kỷ![13]  Hay thì có hay thật, nhưng “hay nhất thế kỷ” thì nhất định là không.

Ngoài ra, như trên đã đề cập, một đặc điểm khác rất dễ nhận thấy và đóng một vài trò chủ yếu trong ca từ TCS: vần. Nhờ vần, ca từ trơn tru, êm đềm từ đầu đến cuối bản nhạc, nghe như một tiếng thở dài với nhiều hình ảnh đan xen lẫn nhau. Có cái dính kết, có cái đứt đoạn. Tôi chợt khám phá ra một điều: các từ ngữ và hình ảnh mới thường nằm ở cuối đoạn nhạc hoặc ở cuối câu. Và cuối câu thì phải “vần”, hoặc với từ cuối câu kế hoặc với từ cuối câu trước đó. Chính đòi hỏi đó làm “bật” ra những từ ngữ và hình ảnh mới. Như thế, nhờ âm mà tạo ra lời. Âm thanh là “tiềm năng” của lời.

Phải chăng đó là một trong những bí quyết của Trịnh Công Sơn trong việc sáng tạo ra ca từ độc đáo của ông?

Những bài  ca chiến tranh và hòa bình
           
Không biết tự lúc nào, nhạc TCS được gán cho nhãn hiệu “phản chiến”. Còn nhớ, vào đầu năm 1969, tôi có ghé thăm TCS, lúc đó đang ở trọ tại  một căn gác lửng trên đường Võ Tánh gần nhà thờ Huyện Sĩ. Ông khoe một mẩu tin đăng trên tờ “Le Monde” (Pháp) viết về ông. Tờ báo gọi TCS là một nhạc sĩ “anti-guerre” (phản chiến). Trông bộ ông có vẻ thích thú. Thích mẩu tin và có lẽ thích cả  hai từ phản chiến gán cho mình. Dẫu vậy, có người không đồng ý.

Trịnh Cung cho rằng “Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ “phản chiến” không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án.”[14]

Tô Thùy Yên: “...có vài người tâm hồn giản dị đã vội kết luận rằng những ca khúc này của anh là những tác phẩm phản chiến để buộc tội anh về những tác dụng nguy hại  của chúng đối với đám đông trong giai đoạn nghiêm trọng này của đất nước”... “Nghệ thuật khi đã hình thành, là một nhận thức bao quát về đời sống, là cánh hồng bay bổng tuyệt vời, chớ đâu phải là con gà què ăn quẩn cối xay.[15]

Từ phản chiến, theo tôi, tùy cách nhìn, mà ý nghĩa nó khác. Và cũng tùy cách giải thích.

Tôi đồng ý với cách giải thích sau đây của nhà thơ Sương Biên Thùy, một sĩ quan tác chiến thời VNCH. Tuy cực lực lên án thái độ đầu hàng nhà nước Cộng Sản của TCS sau tháng 4/1975, nhưng anh thừa nhận: “Phản chiến là chống chiến tranh tức là chống những người gây ra chiến tranh. Tôi không thấy TCS có lỗi gì hết với những sáng tác của anh được mệnh danh là phản chiến. Thêm vào đó, tôi không thấy có gì tác hại tiêu cực lên tinh thần người lính từ những bản nhạc phản chiến của anh, trong đó có tôi” ... “Sau một cuối tuần nghỉ phép, ngồi trước cốc cà phê, miệng ngậm điếu thuốc lá quân tiếp vụ, nghe giọng hát Khánh Ly và nhạc Trịnh Công Sơn, hôm sau trở lại đơn vị, tiền đồn, tinh thần sảng khoái, trí óc minh mẫn...[16]

Hồi đó, dưới phù phép của bộ máy tuyên truyền, cả miền Bắc hừng hực trong cơn sốt chiến tranh với những lời hô hào “chiến đấu”, “nhắm thẳng quân thù mà bắn”, “giết”, “tiến công”, “tiêu diệt”..., nghĩa là không dung dưỡng bất cứ một thái độ tiêu cực nào, thì miền Nam sống trong không khí khốc liệt của chiến tranh và khát vọng hòa bình. Khát vọng này không riêng  cho bất cứ ai, từ người lính ngoài chiến trường cho đến những bà mẹ ở thành phố, vì hầu như không có ai thoát khỏi những di lụy của cuộc chiến. Nếu gọi là phản chiến, ta có thể nói hầu như cả miền Nam đều phản chiến, dưới nhiều hình thức khác nhau: hiện tượng lính đào ngũ, lính kiểng, lính ma, tình trạng chạy chọt để được hoãn dịch học vấn, hoãn dịch gia cảnh, hoãn dịch vì công vụ hay chạy chọt để được vào quân cảnh, cảnh sát, chạy chọt đi nước ngoài vân vân là những chuyện bình thường, mà mục đích là khỏi ra chiến trường. Thêm vào đó là những cuộc xuống đường đòi hòa bình của những nhóm tín đồ Công giáo hay Phật giáo hay sinh viên học sinh. Còn báo chí thì  tràn ngập những cột báo phân ưu lính chết trên chiến trường hằng ngày. Nội đọc những giòng phân ưu đó cũng đã làm người thành thị kinh khiếp chiến tranh.

Đó là chưa kể  đến các tác phẩm văn chương. Chỉ trừ những tài liệu tuyên truyền, hầu hết các tác phẩm thơ văn đều không ít thì nhiều, cách này hoặc cách khác, lên án chiến tranh và mô tả những bi kịch thảm khốc của chiến tranh không che dấu. Nhiều nhà văn, nhà thơ là lính hoặc làm trong các cơ quan nhà nước VNCH, khi viết những bài tuyên truyền thì viết như là một cán bộ, công chức mẫn cán, nhưng khi viết như một nhà văn, tác phẩm của họ cũng mô tả hiện thực chiến tranh và cách này hay cách khác, lên án chiến tranh. Và tất nhiên, vẫn hát nhạc TCS. Đúng ra, không ai cảm thấy hát nhạc TCS là một cái tội. Vì quả thật, những gì TCS nói lên qua ca khúc của anh đều là nỗi lòng và mơ  ước chung của mọi người.

Vả lại, đâu chỉ nhạc TCS mới làm nản lòng người lính. Một số nhạc của Phạm Duy và một số tác giả chuyên viết nhạc lính khác cũng có tác dụng tiêu cực chẳng thua gì nhạc TCS. Nói cho cùng, tâm tình phản chiến và biểu lộ tâm tình đó qua con đường nghệ thuật là nét đặc thù của những xã hội mở rộng và tự do như xã hội miền Nam thời trước 1975. Tưởng tượng nếu miền Nam sống dưới chế độ chuyên chính như miền Bắc thì làm gì tồn tại được một nền văn học nghệ thuật phong phú như đã có và được nối dài ra Hải Ngoại cho tới bây giờ. Và tưởng tượng nếu TCS bất hạnh mà lớn lên ở miền Bắc thì chắc chắn ta sẽ không có một TCS như  ngày nay.

Rõ ràng TCS là sản phẩm đặc thù của một miền Nam đặc thù  trên chiều dài lịch sử.

Thực cảnh chiến tranh

Với tài hoa riêng, TCS đã mô tả chiến tranh bằng một bút pháp hiện thực, với những chi tiết hiện thực rất đậm đà, rất sống, rất sắc. Khác với những ca khúc về tình yêu và thân phận, những bài ca chiến tranh sử dụng một thứ ngôn ngữ đời thường, nhiều khi chẳng khác gì những bài tường trình về chiến trận. Ca từ khá gần gũi với truyện, ký. Theo TCS, trong quá trình lịch sử, Việt Nam luôn luôn sống trong lệ thuộc và chiến tranh: đánh Tàu, đánh Tây và nội chiến. Đất nước lúc nào cũng có thể trở thành bãi chiến trường:
Dân ta đã bao nhiêu năm, đầu đội bom bước đi mong manh
Tầm đạn bay nhức đau trong xương
nhìn trái tim treo trên đầu súng

Một đời nước mắt chan cơm...

Chiến tranh là bức hoành tráng toàn một màu đỏ ghê khiếp: máu
Bao năm, máu như sông trôi thành nguồn
Máu đã khô trên ruộng đồng, máu âm u trong rừng rậm
Tràn đầy xác người:
Xác người năm trôi sông, trôi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố, trên những đồi hoang vu

Nhân đây, ta thử đọc lại vài giòng thơ viết về chiến tranh của một nhà thơ  khác cùng thời với ông, Tô Thùy Yên chẳng hạn:
Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác,
Thây sình, mặt nát, lạch nương tanh
(Qua Sông)
           
một đoạn khác:
Ta chắt cho nhau giọt rượu sót
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây
Giờ cất quân, đưa tay ra bắt
Ước cõi âm còn gặp để say
 (Anh Hùng Tận)

Hay Trần Hoài Thư:
Chiến trường thì cũng thây người chết
Cũng là biển lệ cũng hờn căm
Trường Sơn chưa dứt cơn kinh động
Đồng Tháp dòng kênh máu đỏ ròng
(Quán Gió Đồng Bằng)         

Cũng là nói về thảm kịch chiến tranh, nhưng các đoạn thơ trên là của những người lính trực tiếp tham dự cuộc chiến. Rõ ràng là không ai muốn chiến tranh cả. Nhưng mỗi người nhìn bi kịch từ một chỗ khác. TCS ở thành phố, không tham dự cuộc chiến. Ông từ chối nó, trốn tránh nó. Hay nói cho đúng hơn, ông may mắn không rơi vào cái bẫy chiến tranh. Là một kẻ đứng ngoài, TCS không cảm nhận được cái bi tráng đặc thù của người lính miền Nam trước giờ cất quân ra chiến trận, hết rượu, còn hẹn nhau về âm phủ nhậu tiếp như trong “Anh Hùng Tận” của Tô Thuỳ Yên!

Do thế, TCS tìm cách nói những điều mà người lính không nói, hoặc nói một cách khác. TCS đi sâu hơn vào thực cảnh và tâm tình của người thành phố, những kẻ ở hậu phương, tuy không trực tiếp chịu đựng cảnh máu chảy đầu rơi, nhưng tác động của nó cũng ghê gớm bội phần. Đó là cảnh một cô gái trở nên điên kêu gào vô vọng trên đường phố vì có người yêu là lính chết mất xác ở một trong những trận đánh nào đó hay là cảnh đại bác đêm đêm dội về thành phố mà anh gọi bóng bẩy là “đại bác ru đêm”. Có những cảnh  lặng lẽ hơn nhưng không kém phần xót xa, nhức nhối:
Em đi qua cầu, có gió bay theo
thổi bùng khăn tang, trắng giữa mây chiều
Em đi qua cầu chở chiều trên vai ngậm buồn trên môi...

Một cảnh khác:
Ghế đá công viên dời ra đường phố
Người già co ro chiều thiu thiu ngủ
Người già co ro buồn nghe tiếng nổ
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi

Một khung cảnh phố chợ đìu hiu, nghèo nàn, tan nát trong những năm biến loạn miền Trung 1965-1966 khi máu lửa chết chóc bao trùm toàn bộ đất nước.  Thật sống động và bi thiết!
Kêu gào tranh đấu   
           
Trong nỗi bi phẫn vì chiến tranh, ông lên tiếng kêu gào tranh đấu đồng thời nói lên những khát khao về hòa bình. Khác với “Ca Khúc Da Vàng”, hai tập “Kinh Việt Nam” và “Ta Phải Thấy Mặt Trời” gồm toàn những ca khúc mang tính đấu tranh và đầy niềm tin về tương lai. Ca từ và nhạc hùng hồn, thúc dục. Một số đoạn nhạc có những luyến láy đặc biệt, rõ ràng là chịu ảnh hưởng của lối viết nhạc chiến đấu miền Bắc.
- Em đã thấy các anh lên đường
Những tay trần làm cơn bão lớn
Cùng đứng bên nhau, triệu bước nôn nao
Biểu ngữ giăng cao...
- Xin anh chị hãy vùng lên, đời sống này đầy bóng tối
Triệu anh em chia sớt nguy nan,
xây cách mạng dựng đời người mới 
- Anh bước đi, tôi bước đi, em với chị bước theo
Tìm Việt Nam xưa yêu dấu
Ta đi trong cách mạng tự hào

Trong một vài bài, TCS còn hô hào “đứng lên”:
Chính chúng ta phải nói hòa bình ...Anh em quyết lòng, đứng lên!
Hơi hướm của những bài nhạc như thế rõ ràng chẳng khác gì mấy so với bài “Dậy Mà Đi”, thơ phổ nhạc của Tố Hữu. Lại còn có vẻ “mạnh” và có tính “chiến đấu” cao hơn nhiều so với những bài do các tác giả thuộc phe Cộng Sản sáng tác nằm trong sách lược “sinh viên học sinh vận” như bài “Tự Nguyện” chẳng hạn:

Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ làm một đóa hướng dương  

Những bài ca của TCS trong hai tập này chẳng khác gì những bài ca xung trận. Ông hô hào, kêu réo, thúc dục. Điệu nhạc 2/4 khi thì hùng hồn, khi thì tha thiết. Ca từ khi thì mạnh mẽ như phá ngục tù, đứng dậy, cách mạng, bước đi, vùng lên, tự hào...khi thì rộn ràng phấn khởi như: mặt đất rung rinh, ba miền thống nhất, triệu người, trăm con phố, trăm câu nói, triệu lá cờ, triệu người qua, anh bước đi, em bước đi, anh với chị bước theo. Nghe toàn ngôn từ Cộng Sản!
(Còn một kỳ)
Chú thích :
[1] Văn Cao, Lời Bạt, Tuyển tập những bài ca không năm tháng, tái bản lần 4, Nhà Xuất Bản Âm Nhạc Việt Nam 1998, tr. 278
2 Nguyễn Xuân Hoàng, “Sổ tay”, Văn (Cali) 53 &54, số đặc biệt về Trịnh Công Sơn, 5 & 6/2001, tr. 7
3 Vũ Thư Hiên, “Thương nhớ Trịnh Công Sơn”, Thế Kỷ 21 (Cali) số 145, 6/2001,  tr. 62
4 Bùi Bảo Trúc, “Về Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 44
5 Phạm Duy, “Hồi ký Phạm Duy III”, dẫn theo Văn, sđd, tr. 35
6 Văn Cao, Tuyển tập... đã dẫn, tr. 278
7 Phạm Văn Tuấn, “Vĩnh biệt thi sĩ du ca Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 26
8 Trịnh Công Sơn, “Ca khúc mang đến sự cảm thông giữa mọi người”, Văn, sđd, tr. 150
9 Tô Thùy Yên, “Mỗi ca khúc như một lời trăn trối”, Văn , sđd, tr. 37
10. Đặng Tiến, “TCS, đời và nhạc”, Văn, sđd,  tr. 15
11. Bửu Ý, “Thay lời tựa”, Tuyển tập những bài ca không năm tháng, tr. 9
12. Trịnh Công Sơn, “Diễm của những ngày xưa”,Văn, sđd, tr. 140
13. Xem “Một bài thơ hay của TCS”, Hoàng Ngọc Hiến, dẫn theo Tạp chí Thơ (Cali)  số mùa Xuân 2001, tr. 19-21
14. Trịnh Cung, “Bi kịch Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 79
15. Tô Thuỳ Yên, “Mỗi ca khúc như một lời trăn trối”, Văn, sđd, tr. 38
16. Sương Biên Thùy, “Thảm kịch của một thiên tài”, bài gửi riêng


size=1 width="33%" align=left>

[1] Văn Cao, Lời Bạt, Tuyển tập những bài ca không năm tháng, tái bản lần 4, Nhà Xuất Bản Âm Nhạc Việt Nam 1998, tr. 278
[2] Nguyễn Xuân Hoàng, “Sổ tay”, Văn (Cali) 53 &54, số đặc biệt về Trịnh Công Sơn, 5 & 6/2001, tr. 7
[3] Vũ Thư Hiên, “Thương nhớ Trịnh Công Sơn”, Thế Kỷ 21 (Cali) số 145, 6/2001,  tr. 62
[4] Bùi Bảo Trúc, “Về Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 44
[5] Phạm Duy, “Hồi ký Phạm Duy III”, dẫn theo Văn, sđd, tr. 35
[6] Văn Cao, Tuyển tập... đã dẫn, tr. 278
[7] Phạm Văn Tuấn, “Vĩnh biệt thi sĩ du ca Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 26
[8] Trịnh Công Sơn, “Ca khúc mang đến sự cảm thông giữa mọi người”, Văn, sđd, tr. 150
[9] Tô Thùy Yên, “Mỗi ca khúc như một lời trăn trối”, Văn , sđd, tr. 37
[10] Đặng Tiến, “TCS, đời và nhạc”, Văn, sđd,  tr. 15
[11] Bửu Ý, “Thay lời tựa”, Tuyển tập những bài ca không năm tháng, tr. 9
[12] Trịnh Công Sơn, “Diễm của những ngày xưa”,Văn, sđd, tr. 140
[13] Xem “Một bài thơ hay của TCS”, Hoàng Ngọc Hiến, dẫn theo Tạp chí Thơ (Cali)  số mùa Xuân 2001, tr. 19-21
[14] Trịnh Cung, “Bi kịch Trịnh Công Sơn”, Văn, sđd, tr. 79
[15] Tô Thuỳ Yên, “Mỗi ca khúc như một lời trăn trối”, Văn, sđd, tr. 38
[16] Sương Biên Thùy, “Thảm kịch của một thiên tài”, bài gửi riêng
x


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)