Tìm kiếm Blog này

Tràng Thiên: Tờ Báo

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017


(Trích từ báo Bách Khoa số 217 năm 1966, số đặc biệt kỷ niệm 100 năm báo chí Việt Nam. Tràng Thiên là bút hiệu khác của nhà văn Võ Phiến) 

Chính trị cao, không ăn thua 

Trong làng báo có năm ba sự kiện kỳ cục mà có ý nghĩa. Nó cho ta biết về bản chất của tờ báo, về thực chất các thứ nhu cầu mà tờ báo mong thỏa mãn.

Chẳng hạn ở Sàigòn này mấy năm trước đây bán chạy nhất là tờ Sàigòn mới, một tờ báo không có gì xuẩt sắc hết. Thậm chí từng có nhiều lời nói qua nói lại về bà Bút Trà: hoặc đề cập tới trình độ kiến thức của bà, hoặc công kích lối cạnh tranh bằng tặng ảnh tặng hình, hoặc ám chỉ những hoạt động của bà bên cạnh giới cầm quyền hồi ấy v.v...


Nhưng rồi sau bà, bây giờ các tờ báo ấn hành nhiều nhất chắc chắn cũng lại na ná như tờ Sàigòn mới trước kia. Nghĩa là cũng bài vở hời hợt, tin tức đa phần nhảm nhí lặt vặt, chiếm nhiều chỗ nhất là những truyện để giải trí, về mặt chính trị thì vô thưởng vô phạt, không có những bài xã luận chiến đấu nầy lửa, không nhằm tác động đến dư luận để ủng hộ hay chổng đối một khuynh hướng chính trị nào v.v... Và những tờ báo ấy bán chạy không cần tặng hình hay hoạt động vòng ngoài của người chủ nhiệm.Vậy thì yếu tổ thành công ở đâu ? Ở ngoài cái chỗ tầm thường và ba phải ấy chăng ? — Vô lý! Ở đời ai nấy đều muốn chọn cái gì xuất sắc chứ ai lại đi chọn cái tầm thường, và ba phải đâu phải là một thái độ hấp dẫn ? Thế thường ai cũng nghĩ vậy, cho nên để ý mà xem chúng ta thấy gần đây, — trong cái giai đoạn mà nhật báo tranh nhau đua nở — trên những tờ quảng cáo to tướng ở các bờ tường đô thành, có những tờ báo giới thiệu một bộ biên tập cực kỳ hùng hậu, gồm toàn những bằng cấp cao, những văn tài nổi tiếng, có những tờ báo khác giới thiệu một chương trình tranh đấu cấp tiến với một bộ biên tập gồm những chính khách có thành tích, lại đoan chắc với độc giả sẽ sẵn sàng vào tù bất cứ lúc nào vì tư tưởng. Bằng cấp và văn tài bảo đảm cho giá trị bài vở, “dám vào tù” bảo đảm cho lập trường vì dân vì nước; thế là nhất rồi, còn đòi gì nữa ? Vậy mà rốt cuộc nhiều tờ báo xuất sắc như thế đã lần lượt thất bại. Bài vở cao siêu không thu hút được quảng đại quần chúng, mà một thái độ hùng hổ, một nhiệt tình chính trị sôi nổi cũng không có hấp lực lâu bền : nó có thể gây xao động một lúc nào đó, nhưng không lôi cuốn nổi quần chúng theo mình mãi mãi. Mãi mãi quần chúng vẫn chỉ theo được những tờ báo không lập trường nồng nhiệt, đăng tin tạp nhạp, truyện hời hợt v.v...

Như vậy có phải là vì độc giả xứ ta kém cỏi, chậm tiến không ? Năm 1953 ở Hoa Kỳ có kẻ mở cuộc điều tra, hỏi độc giả xem có nên bớt đi chút ít những tin tức địa phương chăng; 14% không trả lời, 78% cực lực phản đối. Từ 1948 đến 1954 có tám cuộc điều tra để biết độc giả thích mục nào nhất trong tờ báo, kết quả vẫn luôn luôn là mục tin tức địa phương. Địa phương thì có gì quan trọng đâu, bất quá là những tai nạn lưu thông, những vụ nhà cháy, những vụ trộm cướp, án mạng, những cuộc đánh ghen, những vụ ly dị, hoặc trẻ con ngã xuống giếng, hoặc người lớn chán đời quyên sinh v.v... Vậy chứ có gì, thế mà được ham chuộng nhất. Ở Pháp, trong hai người đọc báo chỉ có một người liếc mắt đến chính trị, (20% độc giả thì tuyệt nhiên không hề ngó ngàng tới cái mục đáng ghét ấy); trái lại mục tin vặt của tờ France-Soir không có một ai bỏ qua.

Tờ France Soir tiêu biểu cho sự thành công của nhật báo Pháp hiện thời. Theo tình hình năm 1962 thì đó là tờ nhật trình độc nhất của Pháp ấn hành trên một triệu số. Nó thuộc vào loại báo tin tức, không phải là loại báo nghị luận. Còn ở Mỹ thì sự mê say tin tức, nhất là tin giật gân, lại càng nổi bật rõ ràng hơn bất cứ ở xứ nào. Gần đây thịnh hành nhất là loại báo đặc biệt gọi là tabloid, thứ báo khổ nhỏ, ảnh nhiều, lời ít (nghị luận dĩ nhiên là rất hiếm hoi), như các tờ New-York Daily news, Daily mirror...

Xem hình và đọc tin vặt địa phương thì cố nhiên là không cần phải vất vả tìm đến các văn tài lỗi lạc và các chính khách dám vào tù. Vì vậy mà những tờ báo “đứng đắn”, khuynh tả cũng như khuynh hữu, đều bị bỏ rơi : sổ ấn hành của các tờ Humanité,  Le Monde không được một phần sáu của tờ France Soir. 


Càng văn minh càng nhảm

Kỳ cục hơn nữa là càng tiến bộ, càng văn minh, người ta càng ít  “đứng đắn”  càng ham thích những cái nhảm nhí.

Ngày trước, báo chí là cái gì quan trọng lắm. Người ta không nghĩ dùng cơ quan ngôn luận đề quảng cáo nước hoa, thuốc lá, nước ngọt, hay để giải trí cho đàn bà con trẻ. Cơ quan ngôn luận phải là phương tiện để các ông Huỳnh Thúc  Kháng, Nguyễn An Ninh v.v... đấu tranh, để các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh phổ biến kiến thức văn hóa Âu Tây. Ở bên Pháp, những tờ Ami du peuple, Révolution de Paris, Tribune du peuple của những nhà chính trị như Marat, Desmoulins, v.v... rồi tiếp đến các tờ Action Francaise của Charles Maurras và Léon Daudet, L’homme libre của Clémenceau cũng có sứ mệnh cao cả như vậy. Báo chí như thế nhằm phổ truyền tư tưởng, hướng dẫn dư luận, đấu tranh chính trị (presse d‘idées, presse à opinions, presse politique).

Loại báo chí đó lần hồi lụn bại, từ sau thế chiến thứ nhất đến nay. Có tờ mất tích, có tờ ngẳc ngoải sống bằng cách ăn thâm vào quỹ của đảng phái hay nhờ tiền quyên góp của đảng viên, hay nhờ sự tài trợ của chánh phủ. Uy tín của nó vẫn cao, các vị nghị sĩ, các ngài bộ trưởng, các viên chức trong chính quyền và các nhà trí thức vẫn nghiên cứu nó, bàn tán về nó. Trông nó khả kính lắm, nhưng nó đang khốn đốn với cái vẻ khả kỉnh ấy.

Tiêu biểu cho tình trạng của loại báo chính trị là trường hợp của các cơ quan của đảng Cộng sản. Ở Pháp, hai mươi năm trước đây, đảng Cộng sản có mười lăm tờ báo, in ra một triệu rưỡi số đến 1958 đảng ấy chỉ còn lại sáu tờ báo, in ra độ nửa triệu số. Quan trọng như tờ Humanité thì sa sút, cỡ nhỏ như các tờ dịa phương (La République ở Lyon, tờ Allobroges ở Grenoble, tờ Patriote ở Saint Etienne v.v.) thì phải đình bản. Trong hai mươi năm ấy, ai cũng biết ảnh hưởng và lực lượng của đảng cộng sản Pháp không hề suy giảm theo đà các cơ quan ngôn luận của họ, cho nên không thể lấy việc này đề giải thích việc kia.

Ấy, tất cả cố gắng của một đảng lớn có tầm hoạt động quốc tế như thế mà không thề cứu vãn nổi cơ quan tranh đấu của nó, huống chi là các nhóm chánh trị, các hiệp hội văn hóa, văn nghệ nho nhỏ, hay các tư nhân. Thôi thì tha hồ đua nhau tàn lụi, cả nhật báo chính trị như Cesoir, L’Aube cả tạp chí tư tưởng như Mercure de France, Lettres Nouvelles v.v. Nổi danh như cồn, hợp thời và ăn khách như J.P. Sartre cũng phải chịu để cho tờ Les temps modernes điêu đứng ngắc ngoải.

Trong khi ấy, một loại báo chí khác tràn lan như nước lụt, chiếm mất hết quần chúng : đó là loại báo chí chuyên khai thác những tin bất ngờ, xúc động, chuyện giải trí, phổ biến tóm tắt bằng lối viết vui vui những kiến thức phổ thông, chỉ vẽ cho phụ nữ cách bày biện nhà cửa, tiếp đãi khách khứa, mách cho họ mấy món trang phục mới, loan tin màn ảnh, thể thao, kịch trường v.v... (presse d,information, presse de distraction). Các tờ Paris Match, Sélection du Reader's digest, L'Echo des Francaises, Marie Claire, L’Echo de la mode v.v.  đều in ra trên triệu số, gấp năm tờ L’Express, gấp vài mươi lần các tờ Mercure de France, Les temps modernes.

Nói rằng hạng bình dân bao giờ cũng đông hơn hạng trí thức, kẻ thích đọc cái dễ bao giờ cũng nhiều hơn kẻ chịu đọc cái khó khăn cao xa, nói vậy cũng có lý. Nhưng hạng ít tại sao lại cứ ít dần đi mãi ? Xã hội càng ngày càng khai hóa, số người được học hỏi, có bằng cấp tăng lên vùn vụt, dẫu sánh với hạng thất học, thành phần đọc báo khó có ít thì ít nhưng vẫn tăng thêm mới phải. Đằng này đã không tăng mà lại giảm. Trước kia hạng độc giả ấy còn nuôi nổi những tờ báo đứng đắn, bây giờ lực lượng bé nhỏ của họ không đủ nuôi nổi chúng nữa.

Ở xứ ta, mức độ văn minh chưa bằng người, nhưng sự diễn biến của tình hình báo chí cũng biểu lộ một chiều hướng không khác ở xứ người. Những cơ quan ngôn luận “đứng đắn”, hoặc văn nghệ, hoặc chính trị, hoặc nhằm phát huy một ý thức hệ nào, những cơ quan ngôn luận của các văn hào và các chí sĩ, coi bộ càng ngày càng thêm gian nan. Bởi thế các vị chủ trương thường “góp ý” với chính quyền về những biện pháp, kế hoạch, chương trình nâng đỡ văn hóa. Trong khi ấy các tờ báo phổ thông, giải trí, phụ nữ v.v... tha hồ thành công, hốt bạc vô kể, chỉ cần về phía chính quyền một cái giấy phép và những “bông” mua giấy là đủ.

Thỉnh thoảng có những nhà văn nhà báo đi ra thăm năm ba tỉnh miền Trung, mừng rỡ phát giác rằng : ở ngoài Trung người ta chịu khó lắm, biết chọn đọc những cái “đứng đắn”. Dò tìm bắt gặp được long mạch, được chỗ trú ẩn của sự “đứng đắn”, có người giải thích tại vì miền Trung là đất cách mạng, đất của chính trị, của tư tưởng, tại vì miền Trung nghèo nên dân cư chịu khó nhọc, không ngại những suy cứu kiên trì v.v., người ta hy vọng sự “đứng đắn” sẽ ở yên nơi đó mãi để mong sở cậy.

Thực ra, “đứng đắn” đâu có quê hương ở miền Trung. Nước Mỹ là xứ quần chúng ham vui, đọc báo tin tức mạnh nhất, mà theo chỗ nhận xét của Pierre Denoyer, chủ bút tờ Sélection du Reader's Digest, thì ở những thành phố nhỏ họ cũng có lưu ý nhiều hơn đến loại báo “đứng đắn”. Người ở Sàigòn đi ra các tỉnh lỵ ngoài Trung rồi so sánh cảm tưởng có lẽ cũng có chỗ đại loại như người so sánh Nữu-ước với tỉnh nhỏ ở Mỹ.

Như vậy hóa ra ngày xưa số người đọc báo tư tưởng nhiều, ngày nay số đó ít đi ; ở những chỗ xa xôi thưa thớt số người đó nhiều, mà ở chỗ thủ đô văn minh, đông đúc, số đó lại ít đi. Báo chí hồi trước nặng về nhiệm vụ khai hóa, bây giờ đa số lại nặng về giải trí. 


Chuyện nhảm vô hộp
Giải được trí óc khỏi sự buồn nản (ennui), cần hơn hết là mối tương giao giữa người với người.

Sống lẻ loi, người ta ủ rũ, khổ sở, cảm thấy tất cả cái vô vị, phi lý của cuộc đời. Sự tiếp xúc lẫn nhau làm khuây khoả cảm tưởng ấy. Tiếp xúc khắng khít được như trong ái tình là quí. Nếu không, con người cũng cần gần gũi nhau, cần đến hơi nóng của nhau. Tụ tập bạn bè, tán dóc, nhậu nhẹt, cãi nhau những chuyện đâu đâu không ăn thua gì tới công việc làm ăn thiết thực hàng ngày..., thế rồi giải tán, không được tích sự gì ; hôm sau, buồn buồn, lại tìm nhau, lại đấu hót nhảm nhí nữa. Không có kết quả nào, không được tích sự gì, nhưng mà cần thiết. Không có thế, đời sống như mất quân bình, như hết sinh thú.

Trong cái truyện ngắn Các vì sao (Les étoiles) của Alphonse Daudet, cậu bé chăn cừu khổ sở hết sức vì thiếu người để nói chuyện. Cậu ta không nói chuyện nhảm được vì thiếu người, cái đó dễ hiểu ; trong cuộc sống giữa xã hội văn minh ngày nay thường khi người ta lại bị cái nạn lẻ loi ở giữa đám đông, ở những đô thị lớn, ai nấy sống bên nhau mà không quen nhau. Tương giao bị tắc nghẽn, con người lủi thủi một mình, u uất, giữa cái tập thể náo nhiệt, làm mệt tinh thần. Từ ngày thôn quê ở ta bị mất an ninh, dân làng kéo về tỉnh, về thủ đô, một số đông đã biết đến thảm trạng ấy. Nhất là những người tuổi tác, quen với tập tục ở đồng quê, không thích ứng dễ dàng được với hoàn cảnh ấy. Những ông cụ bà cụ này có con cháu tìm được công ăn việc làm ở Sàigòn, rước họ về, ban đầu họ cũng thấy vui vui, về sau rồi than thở kêu trời, nằng nặc đòi về quê. Ở đô thị, các cụ khô héo mất. Các cụ nhớ khung cảnh xóm làng, nhớ ruộng nhớ vườn, nhớ bóng cây hơi gió, nhớ con gà con lợn v.v..., thứ nhất là nhớ bà con xóm diềng. Ở quê, ai nấy đều quen biết nhau, buồn buồn các cụ đi từ đầu làng tới cuối xóm, chỗ nào cũng gặp kẻ chào hỏi, cũng có thể ngừng lại chuyện trò, những việc riêng tư trong từng gia đình, nhất nhất đều có thể làm đề tài bàn bạc chung cho cả xã. Cuộc sống xã hội ấm áp lên. Lạc về đô thị, các cụ lơ láo, hiu quạnh.

Không những các cụ mà ai nấy đều thế. Trong các khu phố chật ních người, thiên hạ chen chúc nhau mà xa lạ hẳn nhau. Con người của xã hội văn minh, của thế kỷ XX, lần lần trở nên cô độc ngay giữa đồng loại. Không nối được tương giao trực tiếp, người đô thị tìm kiếm, gây ra những hình thức tương giao gián tiếp. Tờ báo, bây giờ nó trở nên một hình thức như thế. Nó là một trong những cái giúp cho dân đô thị thoát được tình trạng bế tắc, khô héo, của các cụ già nói trên.

Trước, báo chí có thể có một nguồn gốc cao quí lắm, nó có thề xuất hiện từ một ý định giáo dục, khai hóa v.v... chẳng hạn, điều đó không phải nghi ngờ. Chỉ biết bây giờ, mỗi ngày nó đang mỗi biến dạng, để thỏa mãn nhu cầu mới của quần chúng. Báo chí cũng như một nhà quí tộc trí thức, vì sinh kế dần dần phải tập tành cốt cách một kẻ mách tin nhanh nhẩu có tài pha trò bông lơn.

Người đô thị không lân la hàng xóm, không ngồi lê đôi mách được, họ nằm nhà đọc báo vậy. Cái thứ ấn phẩm mà hàng ngày cả cha, cả con, cả vợ, cả chồng.., đều chuyền tay nhau thưởng thức được, sau những giờ làm lụng mệt nhọc, thứ ấn phẩm đó không thể có gì cao thâm để dạy người, làm mệt óc người. Nội dung nó là nội dung những câu chuyện chung quanh chén trà, chai rượu những câu chuyện của các bà khi có dịp tụ tập lại với nhau, của các anh các chị khi có dịp đàn đúm bạn bè, đấu hót huyên thiên... Tờ báo nó cóp y theo những trận đấu hót, những chuyện ngồi lê đôi mách như thế. Không tin, kiểm điểm mà xem : ở đâu có căn nhà cho thuê, có chiếc Honda còn tốt bán rẻ, vụ án Lolobrigida mặc hở ra tòa xử thế nào, công chúa Margaret hồi đó lăng nhăng vói ông Towsend ra sao, áo tắm có kiều nào mới, giặc đánh tới đâu, hôm nay có gì ác liệt hơn hôm qua chăng, du đãng ném lựu đạn bên Phú Nhuận đầu đuôi ra sao, cá ngựa, đá banh... có gì đáng để ý. A ! lại còn vài truyện đấu chưởng đề tiêu sầu nữa; nhân tiện cũng coi thử bên Nam Dương quân đội làm ăn ra sao v.v...
Trong truyện Cô Mùi của Nhất Linh có một người đàn bà (bà Ký Ân) chuyên mách tin vặt, chuyện gì xảy ra trong làng trong xóm bà ta cũng thông thạo, đem việc nhà này kể lại nhà kia, người ta đặt tên bà là Bà Chủ Nhật Trình. Cái tên thật thích hợp. Nhật trình bây giờ là vậy đó, không có gì là cao siêu. Muốn cao siêu hơn, nó ít được hâm mộ.

Xã hội rất cần những Bà Chủ-Nhật-Trình để làm ấm lên mối tương giao. Ở các đô thị đông đúc Bà-Chủ bằng xương bằng thịt không tiện đi lại để cung cấp những chuyện ngồi lê đôi mách thì có tờ nhật trình. Nó không bì kịp với thứ chuyện trao đổi miệng đối miệng, tai đối tai, nó thiếu cái “chất tươi”, nhưng biết sao, đặc điểm của xã hội văn minh, xã hội kỹ nghệ, là dùng đồ hộp thay thế đồ tươi : nhật trình, đó là thứ chuyện đấu hót, ngồi lê đôi mách, mà người ta vô hộp sẵn, sản xuất hàng loạt, cung cấp tận nhà cho các thân chủ dùng đề đỡ ghiền, đỡ nhớ những tiếp xúc mật thiết giữa người với người xưa kia, thuở còn sinh sống ở xóm làng, ở tỉnh lẻ, ở các quận lỵ nhỏ hẹp. Tờ báo, chiếc máy thu thanh, máy vô tuyến truyền hình, những cái ấy cốt yếu đều là để thay thế cho bà Ký Ân. Thay thế một cách miễn cưỡng, bởi trong một cuộc đàm đạo thực sự với bà Ký Ân có kẻ nói đi người nói lại, đằng này kẻ xem báo, nghe ra-đi-ô đều thụ động, hứng thú bị giảm thiểu. Trong trường hợp sau này sự tiếp xúc với đồng loại không trực tiếp, có vẻ gì giả tạo, dẫu sao cũng là tiếp xúc. Tờ báo thay thế bà Ký Ân bất quá cũng như hoa ni lông thay thế hoa thực, mấy chậu kiểng tí hon bày trong phòng khách để gợi nhớ thiên nhiên v.v... đó là một phát kiến của văn minh đề sửa chữa lại những hậu quả tai hại của cuộc sống văn minh. 

Trùm mền đọc nhiều báo

Báo, tính chất của nó không giống như sách. Bởi vậy việc đọc báo không giống như đọc sách. Không phải cứ hễ xứ nào hạng học thức nhiều, có tinh thần hiếu học cao, là có đông người đọc báo. Không phải thế. Chuyện đọc báo có lẽ ít liên hệ đến tinh thần hiếu học bằng liên hệ với thời tiết và mật độ dân cư.

Thực vậy, nước Anh người ta đọc báo nhiều nhất thế giới. Ở đây trung bình cứ một trăm gia đình thì tiêu thụ hết chín mươi lăm số báo mỗi ngày, riêng ngày chủ nhật một trăm gia đình mua tới một trăm ba mươi số báo. Dân số Anh ít hơn Mỹ, mà báo Anh vượt xa báo Mỹ về số lượng ấn hành. Sau nước Anh — theo thống kê của Liên hiệp quốc năm 1962 thì quốc gia thứ nhì đọc nhiều báo vẫn chưa phải là Pháp hay Mỹ. Đó là nước Thụy Điển. Đại loại những nước như Thụy-điển, Phần-lan, Na-Uy, Đan Mạch, Ái-nhĩ-lan, Lục-xâm-bảo v.v..., đều hơn cả Mỹ, Pháp.

Lý do ? Bernard Voyenne (1) cho rằng ấy là vì khí hậu. Nơi nào nắng ráo, bầu trời quang đãng, cảnh vật tươi tốt, người ta hay ra ngoài, thường có dịp gặp nhau, chuyện trò. Có sự tiếp xúc thực, không cần đến sự tiếp xúc gia qua tờ báo. Trái lại, ở xứ lạnh lẽo, mưa mù, ướt át, việc di chuyển khó khăn, sau mỗi ngày làm về tối tối cả gia đình ru rú trong phòng : bấy giờ cần rước bà Chủ-Nhật-Trình đến nói chuyện tầm phào cho đỡ buồn.

Lại còn trường hợp nước Nhật nữa. Tờ báo in nhiều nhất thế giới là tờ Asahi Shimbun của Nhật Bản. Đứng hàng thứ ba cũng là một tờ báo Nhật, thứ sáu cũng là báo Nhật nữa. Ở đây có lẽ là do nếp sống. Nước Nhật đất hẹp người đông, lại được kỹ nghệ hóa mạnh mẽ ; nếp sinh hoạt của họ ngày nay có lẽ đủ các tính cách tiêu biểu cho cái văn minh của thế kỷ này. Dân quê của họ không còn đất cày, đa số về đô thị làm thợ, các đô thị của họ hết sức đông đảo : riêng Đông Kinh và Hoành Tân đã tập trung đến trên mười triệu người. Cũng từng ấy dân Nhật, với trình độ học thức ấy, nếu sống tản mác ở các làng mạc chắc chắn họ không ngốn ngấu nhiều báo đến thế.

Như vậy rõ ràng báo chí bù đắp vào sự thiếu thốn tương giao, và hiện tượng thiếu thốn ấy dính liền với trình độ phát triển của nền văn minh kỹ nghệ hiện nay.

(Về sự chênh lệch giữa số lượng độc giả báo và độc giả sách, có thể nhận thấy: Theo nguyệt san Le Courrier, cơ quan của tổ chức văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), số tháng 9 năm 1965, thì Trung Hoa lục địa đứng hàng nhì trong các nước in nhiều sách hơn hết, Ấn Độ với Tiệp Khắc cũng được liệt vào danh sách mười hai nước nhất thế giới về sách, trong khi ấy về mặt báo chí các quốc gia kể trên không có gì xuất sắc hết. Trái lại Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy v.v., những tay cự phách về báo đều mất tên trong bản xếp hạng về sách.) 

*  
Báo bổ dưỡng và báo cấp cứu

Cái lối sống trong xã hội bây giờ, nó uy hiếp con người nặng nề vô kể.

Bằng cách dồn người lại, nó làm cho con người xa lạc nhau. Chúng ta cố gắng nối lại sự tiếp xúc, nhưng mối tương giao cũng biến thể đi. Không có sự gặp gỡ thực sự, con người đô thị chỉ được biết những đồng loại trừu tượng, những đồng loại không toàn vẹn.

Ở thôn quê, người ta nghe chuyện mà cũng nghe cả kẻ nói chuyện, giá trị nội dung câu chuyện dính líu với giá trị của kẻ nói. Bởi vậy địa vị của các thân hào nhân sĩ ở thôn quê bao giờ cũng quan trọng hơn ở đô thị. Cùng một điều ấy mà do kẻ có uy tín nói ra thì được tin nghe, mà do những kẻ khác thì bị coi thường. Trái lại ở đô thị những người có học vấn cao, có tư cách đặc biệt, không được đồng bào trong cùng khu phố dành cho sự vị nể đáng kể. Một ý kiến đăng lên báo miễn hay là được hoan nghênh, không cần biết người viết ra là người thế nào : có thể đó là một kẻ bê bối, rượu chè be bét, đào đĩ lê mê..., mặc kệ. Ở đây, không biết đến con người. Dân đô thị đã quen như thế, từ lâu họ đã không còn những tương giao trực tiếp nữa ; họ có tìm kiếm con người, nhưng họ chỉ gặp những hình bóng trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, gặp giọng nói trong máy thu thanh, gặp những giòng chữ trên sách báo. Họ quen bằng lòng với những con người phiến diện, trừu tượng ấy.

Bây giờ, với tờ báo, những chuyện tầm phào ngồi lê đôi mách ở đô thị cũng mất cả hơi hướng con người. Tuy vậy, tờ báo là phương tiện gợi lại cái hơi hướng ấy, chiêu hồn tình thân khắng khít đã mất giữa người và người.

Không những chỉ làm cho xa lạ nhau, lối sống đô thị ngày nay còn khiến cá nhân tự xóa mất. Ở thôn quê, một người đứng đắn nếu có lần gây gỗ với ai, chuyện bất ngờ đó liền được xì xầm bàn tán ; trong gia đình, ta lỡ thốt ra một lời nói quấy đối với con, dâu, lời nói đó xóm giềng cũng không bỏ qua ; ra đường, lối ăn mặc của ta có gì khác thường, tức thì gặp sự chỉ trích... Mỗi người cảm thấy cuộc sổng của mình là một cái gì hệ trọng ; mỗi một lời nói, một cử chỉ từng người vang dội đến cả tập thể quanh mình. Thực khó mà làm điều gì quá đáng, ngông cuồng, ở thôn quê. Mỗi người được tập thề chú ýr mỗi người ý thức tầm quan trọng của mình và tự thấy có trách nhiệm.

Tại những đô thị lớn, cá nhân không còn là gì hết. Những nỗỉ buồn, vui, khổ, sướng của từng người, những thảm trạng trong mỗi gia đình, phần ai nấy chịu lấy, không mảy may ảnh hưởng đến xung quanh. Những tai họa, những vụ xung đột đẫm máu v.v... bất quá chỉ biến thành mấy giòng tin vặt, được độc giả nhật báo biết đến như một cái gì trừu tượng, xa xôi. Thậm chí ta có chết đi, cái chết của ta cũng không xúc động nổi ai, không làm xôn xao được một ngõ hẻm. Gia đình Tolstoi là một gia đình quí tộc tiếng tăm, ở Iasnaia Poliana ai cũng kính nể, người trong gia đình ấy mỗi lần bước ra khỏi nhà gặp ai cũng được chào hỏi. Đến khi dọn nhà tới Moscou, Tolstoi ngỡ ngàng trước một hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt, và ông đã viết trong cuốn Tuổi thanh niên (Adolescence) : “Lần đầu tiên, tôi nhận thấy rõ ràng là không phải chỉ có riêng có chúng tôi sống trên mặt đất, là không phải ai nấy đều chăm vào chúng tôi, là cuộc sống khác hẳn, là cuộc sống của những kẻ không dính líu chút gì đến chúng tôi, không quan tâm đến chúng tôi và thậm chí không hề biết đến sự có mặt của chúng tôi trên đời”.  Tóm lại, ở đô thị lớn chỉ có một số ít danh nhân tài tử lừng danh là tự cảm thấy sự hiện diện hệ trọng của mình giữa xã hội, kỳ dư thiên hạ tan biến hết. Không có gì để nhắc nhở cho mỗi người sự có mặt của họ giữa tập thể, ai nấy hoàn toàn tự do, vô trách nhiệm... Một vụ chửa hoang, cái đó có nghĩa lý gì, có động chạm gì tới ai, giữa đô thị đông đảo? Trái lại, ở thôn quê một vụ lỡ lầm phóng uế không phải chỗ cũng đủ làm tổn thương đến danh vọng một bậc thân sĩ.  Ở thành phố làm gì mặc kệ, miễn đừng để cảnh sát tóm cổ.

Những kẻ từng ở tỉnh nhỏ, trong cuộc sống thường nhật cứ hay vướng víu trở ngại vì cái dư luận quá chăm chỉ luôn luôn theo dõi đời tư của mình, những kẻ ấy thoạt mới đến ở đô thị lớn lấy làm hả hê vì được tự do. Nhưng lâu ngày, họ sẽ sợ hãi cái tự do ấy, có kiếp sống nào mà lại đành phận để mình tự xóa, không gây một âm vang xung quanh ? Có ai sống mà không muốn xác nhận một cách mạnh mẽ đời sống của mình, không muốn cho nó một tầm hệ trọng ? Nhưng làm cách nào để được chú ý, đếm xỉa đến, ở đô thị ?  Để “nồi bật” lên được một tí ti ? Ăn mặc cho thực lố lăng ? Phóng xe thật nhanh, bất chấp đèn đỏ các ngã tư ? Làm tàng, vô cớ đánh người ngoài đường ? Có phải tất cả những hành tung quái dị của một thế hệ phá phách ngày nay đều là nẩy ra từ cái ý muốn tuyệt vọng tự xác nhận sự hiện diện của cá nhân giữa tập thể, đều là sản phẩm của văn minh đô thị ? Nhưng vô ích ! Ở những thành phố lớn bây giờ dẫu cho con gái có phơi cả ngực, đàn ông có trần truồng mà đi (như đã xảy ra), chuyện ấy cũng chỉ đủ khuấy động trật tự một góc phố trong chốc lát. Rồi đâu lại vào đấy, giòng sông ồ ạt lại ào ào trôi cuốn phăng mất sự ngạc nhiên và những lời đàm tiếu. Cố gắng để ngoi lên khỏi cái vô danh mênh mông hóa ra vô ích. Như thể một con cá nhảy vọt lên một cái chỉ làm xao mặt nước sông chút xíu, rồi giòng sông chảy xiết lại xóa nhanh dấu vết. Ở đô thị mỗi người tung hoành như một vật di động trong khoảng chân không, không cảm thấy sự cọ xiết vào dư luận, vào sự chú ý của xung quanh. Không có sự cọ xiết ấy lấy gì nhắc nhở sự tồn tại của cá nhân ?

Mong chống lại cảnh trạng bị thủ tiêu oan uổng và âm thầm như thế, người đô thị lại tìm đến tờ báo. Bị tập thể lờ đi, từng người cố lết đến gần cái tập thể ấy : cố nghe nói đến nó, cố theo dõi những hoạt động của nó. Tấm hình chụp vụ hỏa hoạn tại khu phố mình ở cũng là cái gì của mình, vụ gian thương phát giác tại khóm mình ở cũng có chút gì động chạm đến mình... Đến gần cái sinh hoạt của tập thể, và cũng đến gần những cá nhân tốt số nổi bật lên trong cái tập thể ấy : cuộc mổ thận của ông tổng thổng. vụ trộm hột xoàn tại nhà một cô ca sĩ v.v... những cái đó làm cho tập thể hỗn độn vô tình kia có “tính người”, đem đến một yên ủi cho cảnh vô danh mờ mịt của mỗi một chúng ta, sống trong đô thị lớn.

Lắm kẻ thường hoặc chê “văn chương” nhật báo ngày càng bê bối, trình độ nội dung của báo không tiến cao, hoặc trách thị hiếu của độc giả báo ngày một xoàng v.v... có để ý đâu rằng không gì bất công bằng sự so sánh báo chí xưa và nay như thế. Hoàn cảnh sinh sống thay đổi; con người có những nhu cầu mới, và đã cải biến phương tiện cũ cho kịp thích nghi. Nếu báo chí đã khước từ bớt một phần nhiệm vụ khai hóa, để lo giải cứu một cuộc khủng hoảng tâm lý khẩn bách, sự hy sinh của nó cũng cứ cao quí. Dưới cái lốt trước, tờ báo là món xa xỉ tinh thần đề bồi bổ kiến thức cho một tầng lớp thượng lưu ; trái lại, dưới hình thức bây giờ nó là món thiết yếu hàng ngày cho đủ mọi hạng người, kể từ những anh chị em phu phen lao động. Trước, nó là thứ bổ dưỡng, có càng hay không cũng được cho số ít; bây giờ nó là thứ cấp cứu đối với căn bệnh tâm lý của số đông, về phương diện lợi ích như vậy là nó có tiến. 

Tháng 12-1965 
Tràng Thiên

Chú thích:
(1) Le presse dans la société contemporaine

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)