Tìm kiếm Blog này

PROF. ĐÀM TRUNG PHÁP: TRẦN QUANG KHẢI (1241-1294) AND HIS POEM “ESCORTING THE IMPERIAL RETURN TO THE CAPITAL”

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017


Dedicated to the DĐTK Dream Team

In the history of Vietnam’s struggle for independence, the Lý dynasty (1010-1225) and the Trần dynasty (1225-1400) stood out as the two most glorious. During these four hundred years, the country– named “Great Viet” (ĐạiViệt) then – produced far more heroes than at any other time, even though its land area was much smaller than what it is now, with its southern border ending only at the northern tip of  QuảngTrị province. Aggressors from the north, including the fearsome Mongols, had oftentimes been tempted by this beautiful land, yet every time they were crushed, with numerous generals, princes, and thousands of troops killed in fierce battles.


Among the military geniuses and refined literati of these two dynasties were Lý Thường Kiệt and Trần Quang Khải. While Marshal Lý Thường Kiệt of the Lý dynasty achieved phenomenal military victories and penned the poem “The southern land” (Nam quốc sơn hà)known as the country’s first declaration of independence – General and Prime MinisterTrần Quang Khải of the Trần dynasty accomplished similar astounding military victories and authored a short celebratory poem titled “Escorting the imperial return to the capital” (Tụng giá hoàn kinh sư).

The Mongols were awesome warriors. Cruel and belligerent, they were superb archers and cavalrymen with great mobility. They knew only one kind of order — the order of their leader. They would charge when so ordered even though they knew that the action would be fatal. Their ancestors were the Huns (Rợ Hồ or Hung Nô ). That was the kind of enemies that our heroes of the Trần dynasty had to face.

Trần Quang Khải was the third son of King Trần Thái Tông. Robust, handsome, and gifted in both literary and military arts, he played a major role in the campaigns against the Mongol invaders. Of his many military triumphs, his watershed victory at Chương Dương ferry in 1285 stood out, as it led to the liberation of the capital Thăng Long which had been occupied by Togan (Thoát Hoan) and his troops for a few months.

After that momentous victory, as the General was escorting Emperor NhânTông and Retired Emperor ThánhTôn during their return to Thăng Long, he composed afour-line poem in Chinese characters (mentioned above). Extolling glorious victories over ferocious enemies, providing sound advice for citizens during peace time, and praying for an eternal existence for the country, all in an elevated style, the historic poem was an epic in miniature.

An English translation of the poem appears below, followed by the original poem in Chinese characters (accompanied by its transliterationinto Sino-Vietnamese), a Vietnamese translation, and annotations:
We seized spears at Chương Dương ferry [1]
We captured Huns at Hàm Tử port [2]
In peace let us maintain our strength [3]
Forever shall live this nation
(Translation by ĐàmTrung Pháp)

奪槊章陽渡–Đoạt sáo Chương Dương độ
擒胡鹹子關–Cầm Hồ Hàm Tử quan
太平須智力–Thái  bình tu trí lực
萬古此江山–Vạn cổ thử giang san
(陳光啓Trần Quang Khải)
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)

ANNOTATIONS
[1] Chương Dương ferry is now in Thường Tín district, Hà Tây province. It was here that Trần Quang Khải crushed Prince Togan (Thoát Hoan), a son of Kubilai (Hốt Tất Liệt), in 1285.
[2] The Huns (Rợ Hồ or Hung Nô) were a nomadic people, probably originating in northern central Asia, who invaded China in the third century B.C. and then spread westward to Asia and Europe. During the fourth century A.D., under their leader, Attila (A Đề Lạp), they overran much of the Roman Empire. Trần Quang Khải referred to the Mongols as descendants of the barbaric and destructive Huns. Hàm Tử port is now in Văn Giang district, Hưng Yên province. It was at this port that Trần Nhật Duật triumphed over Sogetu (Toa Đô), a Mongol general.
[3] The message of this verse is similar to the Latin adage Si vis pacem, para bellum meaning “If you wish for peace, prepare for war.” More than anyone else, Trần Quang Khải knew that a strong society would be less likely to be attacked by enemies. The Latin adage was by the fifth-century author Flavius Vegetius Renatus in his book De re militari or “Concerning military matters.”
ĐTP AUG 2017

Số lượt thích Đang tải...


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)