Tìm kiếm Blog này

Alice Munro: THỊ TRẤN BẠCH DƯƠNG

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

(cuộc đời yêu dấu 2)
tác giả: Alice Munro
nguyên tác: amundsen (*)
người dịch: Nguyễn Đức Tùng
Tôi ngồi chờ trên băng ghế phía ngoài nhà ga. Cửa nhà ga mở mỗi khi tàu điện đến, nhưng nay đang đóng lại. Một người đàn bà ngồi đầu kia ghế, giữa hai đầu gối giữ một cái túi có dây cột, đầy những gói nhỏ bằng giấy cũ loang loáng mỡ. Thịt – thịt sống. Bạn có thể ngửi được mùi ấy.
 Bên kia đường tàu là chiếc tàu điện, không khách, đứng chờ.
Không một hành khách nào tới cả, sau một lúc người trưởng ga thò đầu ra ngoài gọi to “San.” (1) Mới đầu tôi tưởng ông ta gọi người nào đó tên Sam. Một người đàn ông mặc đồng phục đi tới, vòng quanh góc tòa nhà. Anh ta băng qua đường xe lửa, lên toa tàu điện. Người đàn bà với gói giấy đi theo anh ta, tôi cũng làm thế. Có tiếng la gọi từ hai bên đường và cánh cửa lem luốc của tòa nhà mái bằng bật mở, một vài người đàn ông chạy ra, đầu đội mũ, xách những cái lon bới thức ăn trưa va đập vào đùi. Nghe tiếng lao xao cứ tưởng tàu sắp chạy ngay trong vài phút. Nhưng khi họ đã ngồi an vị, chẳng có gì xảy ra cả. Chiếc tàu điện vẫn đứng yên khi họ đếm số người, xem thử có ai đó không kịp lên xe, và bảo người tài xế đừng chạy vội. Thế là có người nhớ lại đó là ngày nghỉ của một người kia, nay không có mặt. Chiếc xe điện bắt đầu chạy, mặc dù bạn không biết tài xế có nghe họ nói gì không, hay có thèm để ý không.

Tất cả bọn đàn ông đều xuống tàu ở chỗ nhà máy cưa gỗ, gần bên bụi rậm – không quá mười phút đi bộ - ngay sau khi cái hồ hiện ra trước mặt, đầy tuyết phủ. Một dãy nhà bằng gỗ trắng dài phía trước. Người đàn bà cặm cụi sửa lại túi đựng thịt sống, đứng lên, và tôi đi theo bà. Người tài xế gọi lần nữa, “San,” những cánh cửa mở ra. Vài người đàn bà đang đứng phía dưới, chờ lên tàu. Họ chào người đàn bà có gói thịt trên tay, cô ta bảo họ đó là một ngày ăn thịt sống.
 Mọi người tránh nhìn vào mặt tôi, khi tôi bước xuống sau lưng người đàn bà.
 Không ai chờ nữa ở trạm xe này. Những cánh cửa đóng sập, chiếc tàu điện quay lại đường cũ.
Kế đó là im lặng, bầu không khí lạnh như nước đá. Những cây bạch dương mỏng mảnh với những vết đen ở trên cành màu trắng, những bụi cây thường xuân mọc rời rạc như bầy gấu đang ngủ đông. Mặt hồ băng giá không dâng lên cao mà chỉ vươn xa vào bờ, như thể những làn sóng đã thành băng trong khi chưa kịp kéo xuống. Và toà nhà phía sau với những cánh cửa sổ và những cầu làm bằng kính ở cuối đường. Mọi thứ đều xinh đẹp và có dáng vẻ miền Bắc, đen và trắng ở dưới những vòm mây trời cao vòi vọi.
Nhưng vỏ cây bạch dương không trắng như bạn tưởng, khi tới gần. Vàng hơi xanh, xanh hơi xám, xám.
Mọi vật yên tĩnh, đứng yên lớn rộng như khúc nhạc du dương.
“Cô bạn đi đâu?” người đàn bà xách túi thịt gọi với về phía tôi. “Giờ đến thăm bệnh đã qua lúc ba giờ.”
“Tôi không phải là khách đến thăm,” tôi nói. “Tôi là cô giáo.”
“Họ không cho cô vào cửa chính, dù thế nào đi nữa,” người đàn bà nói với vẻ hài lòng. “Cô nên đi theo tôi. Không mang cả vali à?”
“Người trưởng ga nói rằng anh ta sẽ mang tới sau.”
“Cô đứng đó nhìn có vẻ như lạc đường.”
Tôi nói rằng tôi đứng đó vì thấy cảnh quá đẹp.
“Một vài người cũng nghĩ thế. Nhưng họ sẽ đổi ý nếu mắc bệnh hoặc quá sức bận rộn.”
Không ai nói gì nữa cho đến khi chúng tôi bước vào căn bếp ở cuối toà nhà. Tôi bắt đầu thấy lạnh và cần sưởi ấm. Tôi không có dịp nào để nhìn quanh cả vì đôi ủng của tôi bắt đầu sinh chuyện.
“Cô nên cởi mấy đôi ủng này ra trước khi chúng tạo ra vết bẩn trên sàn nhà.”
Tôi loay hoay tháo chúng ra – không có ghế để ngồi – đặt chúng lên tấm thảm nhỏ nơi người đàn bà cũng để những đôi ủng của mình.
“Cầm chúng lên và mang theo người, vì tôi không biết người ta sẽ sắp xếp cô ở đâu, cô nên mang theo áo choàng vì không có lò sưởi ấm ở phòng giữ mũ áo.”
Không có lò sưởi, không có ánh sáng, trừ ánh sáng chiếu ra từ một cửa sổ nhỏ cao quãng tầm tay với. Giống như bị trừng phạt ở nhà trường. Gởi - đến - phòng - giữ - mũ - áo. Đúng vậy. Giống hệt mùi của áo quần mùa đông không bao giờ được phơi khô, của những đôi ủng ướt đẫm vì những đôi vớ bẩn, những bàn chân không rửa.
Tôi trèo lên một cái băng ghế nhưng vẫn không thấy rõ bên ngoài. Trên những kệ gỗ nơi khăn quàng và mũ được ném lên tôi tìm thấy một cái túi với những trái vả và trái chà là. Một kẻ nào đó đã ăn cắp mấy thứ này và giấu chúng ở đây trước khi mang về nhà. Bỗng tôi thấy đói. Chưa ăn gì cả từ sáng, trừ một cái bánh kẹp pho mát. Tôi ngần ngại, suy nghĩ về việc ăn trộm một vật của một kẻ trộm. Nhưng rồi những trái vả ngọt kia làm tôi chạnh lòng, phản bội lại nguyên tắc của mình.
Tôi leo xuống vừa đúng lúc, một người nào đó đang bước vào phòng. Không phải người giúp việc nhà bếp nhưng là một cô bé học sinh với một cái khăn lông mùa đông dày cộp, khăng quàng trùm lên tóc. Cô bé bước vào rất vội, ném sách vở lên băng ghế khiến chúng rơi tung tóe lên sàn, chiếc khăn quàng quấn lung tung mấy lọn tóc, và cùng lúc đôi ủng đá vào nhau bật ra lăn lông lốc trên sàn nhà. Rõ ràng là không có ai coi chừng con bé, bảo nó phải đặt giày ủng ở ngay cửa.
“Này tôi không cố ý tông vào cô đâu nhé,” con bé nói. “Ở đây tối quá, không biết đang làm cái gì. Cô có lạnh không? Đứng đây chờ ai vậy?”
“Tôi chờ bác sĩ Fox.”
“Thế thì không phải chờ lâu đâu, tôi mới đi phố về với ông ấy. Cô không bị bệnh chứ? Nếu bị bệnh thì cô không đến đây được, phải chờ ông ta ở trong phố.”
“Tôi là cô giáo.”
“Thế à? Có phải cô đến từ Toronto?”
“Vâng.”
Dừng lại một lát, có lẽ là sự kính trọng.
Nhưng không, đang ngắm nghía cái áo choàng của tôi.
“Đẹp quá. Trên cổ áo là lông con gì thế?”
“Cừu Ba Tư. Thật ra đây là thứ giả lông thú.”
“Lầm chết. Em không biết tại sao người ta để cô đứng đây, lạnh run cả người. Xin lỗi. Cô muốn gặp bác sĩ em có thể chỉ cho. Em biết mọi nơi mọi góc, em sống ở đây từ hồi mới sinh. Mẹ em quản lý nhà bếp. Tên em là Mary. Tên cô là gì?”
“Vivi. Vivien.”
“Nếu cô là cô giáo thì có chữ cô ở đằng trước chứ. Cô gì?”
“Cô giáo Hyde.”
“Hãy phát mông một cái, nó nói (2). “Xin lỗi, em chợt nghĩ ra thế. Em thích cô là cô giáo của mình nhưng em phải đi học trong thành phố. Đó là một quy định xuẩn ngốc. Bởi vì em không bị bệnh lao phổi.”
Trong khi trò chuyện con bé kéo tôi đi xuyên qua cánh cửa ở cuối phòng mũ áo, rồi đi dọc hành lang của bệnh viện. Vải bạt phủ bóng. Sơn xanh buồn tẻ, mùi thuốc sát trùng.
“Bây giờ cô ở đây rồi thì Reddy sẽ cho phép em chuyển đổi.”
“Reddy là ai vậy?”
“Reddy Fox. Từ một cuốn sách. Em và Anabel bắt đầu gọi ông bác sĩ như thế.”
“Thế Anabel là ai?”
“Không ai biết đâu. Con bé chết rồi.”
“Ồ, cô xin lỗi.”
“Không phải lỗi của cô. Chuyện ấy xảy ra quanh đây. Em đang học trung học năm nay. Anabel chưa bao giờ tới trường cả. Khi em đi học ở trường công lập Reddy khiến cho cô giáo cho phép em ở nhà rất nhiều lần, nhờ thế em làm quen với nó.”
Cô bé dừng lại trước một cánh cửa mở hé và thổi sáo.
“Ê. Em mang cô giáo lại đây.”
Giọng một người đàn ông vang lên, “Được rồi Mary. Một ngày vậy là đủ rồi.”
“Ok. Em đã nghe.”
Nó nhảy lò cò ra khỏi phòng và để tôi đứng đối diện với một người đàn ông tầm thước trung bình, mái tóc đỏ cắt rất ngắn và chiếu lấp lánh trong ánh sáng nhân tạo từ hành lang.
“Thế là cô đã gặp Mary,” ông ta bảo. “Con bé có nhiều chuyện để nói về nó đấy. Nó không học lớp cô nên chuyện ấy sẽ không xảy ra mỗi ngày. Mọi người hoặc là thích nó hoặc là không.”
Ông ta xuất hiện như một người lớn hơn mười đến mười lăm tuổi và thoạt đầu cũng nói chuyện với tôi theo kiểu của một người lớn. Một ông chủ tương lai bận rộn. Ông ta hỏi tôi về chuyến đi, chỗ để vali của tôi. Ông ta muốn biết làm sao tôi có thể sống trong rừng sau khi đã sống ở Toronto. Liệu ở đây một thời gian có chán không.
Không phải là nơi đáng chán nhất, tôi nói thế, và thêm quang cảnh ở đây cũng đẹp.
“Nó giống như – nó giống như là trong một tiểu thuyết Nga.”
Ông ta nhìn tôi chăm chú lần đầu tiên.
“Vậy hả? Cô nói cuốn tiểu thuyết Nga nào?”
Đôi mắt ông ta xanh trong, sáng. Lông mày nhướn lên một bên, như một cái mũ nhọn be bé.
Không phải là tôi chưa từng đọc tiểu thuyết Nga. Tôi đã đọc một vài, đọc hết hoặc đọc giữa chừng. Nhưng bởi vì hàng lông mày của ông ta, cách biểu lộ tuy lý thú nhưng có phần thử thách, làm tôi chẳng còn nhớ cái nhan đề truyện nào cả ngoài Chiến Tranh và Hòa Bình. Tôi không muốn nói cái tên ấy vì có vẻ như ai cũng nhớ được thế.
Chiến Tranh và Hòa Bình.”
“Ồ, vậy thì chỉ có hòa bình ở đây thôi. Tôi có thể nói thế. Nhưng nếu cô muốn chiến tranh tôi đề nghị cô có thể tham gia vào một trong những cuộc diễn tập của phụ nữ và có dịp đi đây đó ra nước ngoài.”
Tôi tức giận và cảm thấy bị tổn thương vì tôi không hề có ý khoe khoang. Hoặc không chỉ khoe khoang mà thôi. Tôi muốn nói là khung cảnh xinh đẹp đã ảnh hưởng đến tôi ra sao.
Ông ta rõ ràng là một loại người có thể đặt những câu hỏi hất cho người ta rơi xuống.
“Tôi tưởng là mình sẽ đón một cô giáo già vừa thoát được công việc khó khăn,” ông ta nói, hơi có vẻ xin lỗi. “Như thể bất cứ người nào hơi đứng tuổi và có trình độ có thể đi làm việc trở lại trong thời buổi này. Cô không phải đi học để làm cô giáo, đúng thế không? Ý tôi hỏi là cô tính làm gì sau khi học xong cử nhân?”
“Tôi muốn học lên thạc sĩ.” Tôi trả lời ngắn.
“Vậy thì cái gì đã làm cô đổi ý?”
“Tôi nghĩ tôi cần một ít tiền.”
“Rất đúng. Mặc dù tôi e rằng cô cũng chẳng kiếm được nhiều tiền ở đây đâu. Xin lỗi vì tôi hơi tọc mạch. Tôi chỉ muốn biết chắc là cô sẽ không bất ngờ bỏ đi khiến chúng tôi lại phải lao đao. Chưa tính lập gia đình chứ?”
“Không.”
“Được rồi. Cô được tự do. Tôi không làm cô chán nản chứ, có đến nỗi thế không?”
Tôi quay đầu đi.
“Không.”
“Đi dọc xuống hành lang tới chỗ văn phòng của Matron và cô ta sẽ nói thêm với cô nhiều việc cần biết. Cô sẽ dùng bữa với các cô y tá. Cô ấy sẽ chỉ chỗ ngủ cho cô. Đừng để bị cảm lạnh. Tôi không nghĩ là cô có kinh nghiệm gì về bệnh lao phổi?”
“Ồ tôi có đọc qua - ”
“Tôi biết. Tôi biết. Chắc là cô đã đọc Ngọn Núi Thiêng.”
Một cái bẫy giăng ra nữa nhưng rồi ông ta thu lại. “Mọi việc đã khá lên, tôi hy vọng thế. Đây, tôi có viết một số bài về trẻ con ở nơi đây và về những điều tôi nghĩ là cô có thể muốn làm với chúng. Đôi khi tôi cảm thấy tốt nhất là thể hiện ý tưởng của mình bằng cách viết ra. Matron sẽ nói cho cô nghe những sự thật khó chịu khác.” 
Tôi ở đó chưa đến một tuần trước khi tất cả những sự kiện của ngày đầu tiên trở nên kỳ lạ và khó tin. Căn bếp, phòng để mũ áo của bếp nơi những công nhân treo áo quần và giấu những đồ ăn cắp, là cái phòng mà tôi không gặp lại nữa và chắc sẽ không có dịp gặp lại. Văn phòng của bác sĩ cũng vậy, không có ai tới, phòng của Matron là nơi thích hợp cho mọi người tới đó thắc mắc, than phiền và cho những thu xếp công việc thường ngày. Matron là một người đàn bà lùn, mập, mặt đỏ bừng, mang kính không có gọng, thở nặng nhọc, bất cứ chuyện gì mà bạn hỏi cũng làm cô ta ngạc nhiên và gây ra những việc khó khăn, nhưng rồi cuối cùng cũng được thu xếp hay được mang lại. Đôi khi cô ta dùng bữa ở phòng ăn của y tá, ăn một cái bánh kem ngọt có mùi thơm, tráng một lớp màu. Nhưng hầu hết cô ta chỉ ngồi ở khu vực của mình.
Bên cạnh Matron còn có ba người nữ y tá, nhưng không ai ở lứa tuổi ba mươi như tôi cả. Họ đã về hưu nhưng vẫn tới đây làm việc, thực hiện bổn phận trong thời chiến. Rồi có những người hộ lý, vào cỡ tuổi của tôi hay trẻ hơn, hầu hết đều đã có gia đình hay hứa hôn hay sắp hứa hôn, đa số có chồng hoặc hôn phu đi lính. Lúc nào họ cũng trò chuyện, nếu Matron và y tá không có mặt ở đó. Họ không hề để ý đến tôi. Họ chẳng cần biết Toronto là thành phố thế nào, mặc dù có một số người biết người quen của họ tới đó để hưởng tuần trăng mật, và họ cũng không quan tâm đến việc dạy học của tôi hay tôi đã làm gì trước khi đến nhận nhiệm sở ở khu điều dưỡng này. Không phải vì họ là những người thô lỗ - họ chuyển cho tôi dĩa bơ (được gọi là bơ nhưng thực ra là một loại dầu thực vật màu vàng, được nhuộm màu ở trong nhà bếp như là phương pháp hợp pháp thời đó) và họ cũng nhắc nhở tôi rằng cái bánh hạnh nhân có thể có thịt nhím ở trong ấy. Chẳng qua là vì những việc xảy ra ở những nơi chốn mà họ không biết, những người mà họ không hay, hay ở những thời gian mà họ không có mối quan tâm nào cả. Điều đó làm họ bối rối, bực mình. Họ tắt máy thu thanh mỗi khi gặp chương trình tin tức và chỉ nghe ca nhạc mà thôi.
“Nhảy múa với một con búp bê xinh đẹp mang vớ có lỗ thủng…”
Cả y tá lẫn những người hộ lý đều không thích đài phát thanh CBC là chương trình phát thanh mà từ nhỏ đến lớn tôi vẫn tin tưởng là mang lại nền văn hóa cho những vùng đất sâu hẻo lánh. Họ có vẻ rất ngưỡng mộ bác sĩ Fox một phần vì ông ta đọc nhiều sách vở.
Họ cũng nói rằng chẳng có người nào như ông ta có thể lột trần tất cả nếu ông ta muốn.
Tôi không thể hình dung được làm sao họ lại có được mối liên hệ giữa việc đọc sách vở và việc lột quần áo ra. 
Những khái niệm về giáo dục căn bản không áp dụng được ở đây. Một số đứa trẻ con này sẽ trở lại thế giới với hệ thống chung nhưng một số sẽ không bao giờ. Tốt nhất là đừng phải lo lắng nhiều quá. Đó là một chuyện vớ vẩn thử nghiệm ghi nhớ và phân loại.
Hãy quên đi mọi thứ lý thuyết về trường học. Những người cần học từ chúng sẽ bắt kịp sau này hoặc chúng chẳng cần học hành chi. Thật ra đó là những kỹ năng vô cùng đơn giản, các yếu tố thực tế này nọ, vân vân, cần thiết để vào đời. Thế những đứa trẻ thiên tài thì sao? Chữ đó chẳng có nghĩa gì nếu chúng là những đứa thông minh dựa theo phương pháp giáo dục còn nhiều hồ nghi thì chúng tất sẽ bắt kịp.
Hãy quên đi những con sông ở Nam Mỹ, hãy quên Magna Carta.
Những truyện kể có âm nhạc và hình vẽ được người ta thích thú hơn.
Các trò chơi cũng thích hợp nhưng hãy để ý cẩn thận đừng để bọn trẻ quá sức hào hứng hay tranh đua quyết liệt quá.
Hãy cố gắng tạo sự cân bằng giữa một bên là quá lo âu và một bên là chán chường. Sự chán chường đưa đến bệnh tật.
Nếu Matron không thể giúp bạn một việc gì đó thì người quét dọn vệ sinh có thể sẽ giúp bạn được.
Thượng lộ bình an.
Số học sinh hiện diện thay đổi mỗi ngày. Mười lăm đứa, có khi rơi rụng còn sáu bảy đứa. Chỉ học buổi sáng từ chín giờ đến trưa, kể cả giờ nghỉ ra chơi. Trẻ con không được tới trường nếu chúng bị sốt hoặc đang trong quá trình xét nghiệm. Nếu có mặt chúng sẽ im lặng và dễ bảo, nhưng không tỏ ra hào hứng về chuyện gì. Chúng biết ngay rằng đây là một hình thức nhà trường giả tạo nơi chúng chẳng phải học hành vất vả theo những tiêu chuẩn nghiêm khắc vì không phải bám theo chương trình học và không phải học thuộc bài. Niềm tự do này không làm chúng sỗ sàng hay chán nản gì, chỉ là khiến chúng trở nên dễ bảo và lơ tơ mơ. Bọn học sinh hát theo vòng ngân nga. Chúng chơi những trò chơi của học sinh. Có một cái bóng của sự thua cuộc, chịu trận, lơ lửng trong những lớp học ngẫu hứng.
Tôi quyết định nghe theo lời khuyên của ông bác sĩ, hoặc là một vài lời khuyên. Chẳng hạn lúc ông ta nói về sự chán chường như một kẻ thù của bạn.
Trong căn phòng nhỏ của người dọn vệ sinh tôi thấy quả địa cầu. Tôi đề nghị đem nó tới. Tôi bắt đầu giảng bài về địa lý căn bản. Năm châu, bốn biển, khí hậu. Sao không nói luôn về gió và các dòng hải lưu? Các quốc gia và các thành phố? Các đường hạ chí tuyến và đông chí tuyến của đường xích đạo? Thế rồi các con sông của Nam Mỹ nữa?
Một số trẻ con đã từng học qua, nhưng chúng gần như quên cả. Thế giới phía sau mặt hồ và khu rừng đã bị quên đi mất. Tôi nghĩ là chúng vui vẻ trở lại, như thể bắt tay làm bạn với nhau lần nữa, với những gì chúng đã từng trải qua. Tôi không ném tất cả kiến thức vào chúng một lần, tất nhiên và tôi phải đi từng bước từ dễ đến khó, nhất là với những đứa chưa từng học những thứ này trước khi chúng không chịu nổi.
Mọi thứ có vẻ tốt ra. Có thể là một trò chơi. Tôi chia học sinh ra từng đội, bắt chúng trả lời lớn tiếng khi tôi chỉ chỗ này chỗ kia với một cái thước kẻ. Tôi cẩn thận không để cho sự hào hứng của bọn trẻ trở nên quá lâu. Nhưng một ngày kia ông bác sĩ đi tới, vừa mới từ một cuộc mổ ra, và tôi bị bắt gặp. Tôi không thể nào dừng lại trò chơi hào hứng, nhưng tôi kiềm chế cuộc ganh đua. Ông ta ngồi xuống vẻ hơi mệt mỏi, trầm lặng. Ông bác sĩ không hề phản đối. Một lúc sau ông ta bắt đầu tham gia vào trò chơi, nói to những câu trả lời kỳ quặc, những cái tên không phải vì nhầm lẫn nhưng do tưởng tượng. Rồi ông để cho giọng nói của mình trầm xống nhỏ lại, nhỏ đi, nhỏ dần, mới đầu như một tiếng lầm bầm, rồi như một tiếng nói thầm, cho đến một lúc không còn ai nghe được gì nữa. Không nghe gì cả. Bằng cách này với vẻ quái gở, ông ta điều khiển cả căn phòng. Cả lớp học bỗng nhiên bắt chước ông ta nói thì thào, lầm bầm, mắt chúng nhìn chằm chặp lên môi của ông bác sĩ.
Bỗng nhiên ông ta gào một tiếng làm cho bọn trẻ cười ngả nghiêng.
“Tạo sao mọi người cứ nhìn tôi thế? Cô giáo có dạy các cháu làm thế không? Nhìn chằm chặp vào một người không hề làm phiền ai cả?”
Hầu hết bọn trẻ đều cười phá lên, nhưng một số mải mê nhìn ông ta. Bọn chúng thích những trò hề vui vẻ hơn nữa.
“Tiếp tục đi. Chạy ra đây và làm trò phá phách ở một nơi vào đó.”
Ông ta xin lỗi tôi vì đã chen ngang vào lớp học. Tôi bắt đầu giải thích cho ông những lý do vì sao tôi phải làm cho nó giống như một trường học thật.
“Mặc dù tôi đồng ý với bác sĩ về các xúc cảm lo âu-” Tôi bắt đầu nói hào hứng. “Tôi đồng ý với bác sĩ về những điều ông viết trong bản hướng dẫn. Tôi chỉ nghĩ rằng - ” 
“Bản hướng dẫn nào? Ồ, đó là những thứ lặt vặt hiện lên trong đầu tôi. Tôi không hề có ý tạc nó vào đá đâu.”
“Tôi muốn nói rằng trong chừng mực mà chúng không quá bị bệnh-”
“Tôi tin là cô giáo đúng, tôi không nghĩ là chuyện đó có vấn đề gì.”
“Nếu không chúng sẽ ngồi im như tượng.”
“Không cần phải viết một bài hát hay nhảy múa với điều đó đâu,” ông bác sỹ bảo và bỏ đi.
Rồi bỗng quay lại xin lỗi gần như nửa giả dối nửa chân thành.
“Chúng ta sẽ nói về chuyện ấy một hôm nào.”
Một hôm nào, tôi nghĩ, tức là không bao giờ. Ông ta rõ ràng là nghĩ tôi như một kẻ làm phiền và như một con mụ điên.
Vào buổi ăn trưa hôm đó từ những người phụ tá, tôi được biết rằng có một người bệnh đã chết trong phòng mổ. Và nỗi tức giận của tôi có vẻ không hợp lý lắm và vì vậy tôi thấy mình đúng là hơi điên. 
Tất cả những buổi chiều tôi đều tự do rảnh rỗi. Mắt tôi nhíu lại buồn ngủ và tôi cũng muốn thế. Phòng ở lạnh – tất cả những phòng của tòa nhà đều lạnh, lạnh hơn nhiều so với căn chung cư ở đại lộ, nơi ông bà của tôi giữ hệ thống sưởi ấm ở mức thấp nhất, để tiết kiệm trong thời kỳ đất nước chiến tranh. Và chăn mền thì mỏng – chắc là những người bị bệnh lao phổi cần thứ gì thoải mái hơn chăng.
Tất nhiên tôi không bị bệnh lao. Có thể là người ta keo kiệt hay hà tiện đối với những người như tôi.
Tôi thấy chóng mặt nhưng không ngủ được. Trên đầu có một vài miếng giấy quay vòng để mở thông hơi vào buổi chiều giá lạnh.
Tòa nhà, cây cối, mặt hồ, không bao giờ trở lại như ngày đầu tôi mới đến đây, khi tôi ngẩn người vì sức mạnh và sự thần bí của nó. Vào ngày hôm đó tôi tin rằng tôi là một kẻ vô hình. Dường như điều này về sau không bao giờ có thật.
Đây là một cô giáo. Cô ta làm gì ở đó?
Cô ta đứng nhìn mặt hồ.
Để làm gì kia chứ?
Thì đâu có chuyện gì mà làm.
Chà, có người rảnh rỗi quá nhỉ. 
Đôi khi tôi bỏ bữa ăn trưa, mặc dù đó là một phần của tiền lương của tôi. Tôi tới Amundsen nơi tôi có thể ăn trưa trong một quán cà phê. Cà phê thuộc loại Pustom, một cái bánh mì sandwich cá hồi, nếu họ có. Một dĩa xà lách với thịt gà trông ngon lành có cả da và sụn. Dù sao tôi cũng thấy dễ chịu hơn nhiều ở đó. Vì chẳng ai biết tôi là ai.
Nhưng hình như tôi đã nhầm. 
Quán cà phê không có phòng vệ sinh phụ nữ, vì vậy bạn phải tới khách sạn kế bên, đi qua một lần cửa mở của tiệm bia, lúc nào cũng tối và ồn ào và bốc mùi bia và rượu whisky, nồng nặc khói thuốc lá và khói xì gà làm bạn muốn xỉu. Mặc dù vậy tôi vẫn cảm thấy thỏa mái ở đó. Những người thợ cưa, từ nhà máy xẻ gỗ, không bao giờ cười rú lên khi thấy phụ nữ, như cái cách mà những người lính bộ binh và không quân ở Toronto đã làm với tôi. Họ ngụp lặn trong thế giới đàn ông với những câu chuyện ồn ào của mình, không phải tới đây để tìm phụ nữ. Có thể họ thích được một mình ra khỏi những mối quan hệ nào đó.
Văn phòng của ông bác sĩ ở trên đường lộ chính chỉ là một tòa nhà nhỏ. Vậy chắc ông ta sống ở một nơi khác. Những người hộ lý bảo tôi là ông không có vợ. Ở bên đường tôi thấy một căn nhà có vẻ như của ông ta – một nhà xi măng với cửa sổ ở phía trước, có nhiều sách dựng lên ở trên khung cửa. Khu nhà có vẻ ảm đạm nhưng ngăn nắp, chỗ ở tối thiểu nhưng tiện nghi gọn ghẽ, mà một người đàn ông độc thân – một người cô độc, chỉn chu – có thể nghĩ ra.
Trường học ở cuối khu phố dân cư duy nhất có hai tầng lầu. Tầng dưới dành cho học sinh từ nhỏ đến lớp tám, tầng trên cho đến lớp mười hai. Một buổi chiều tôi thấy Mary ở đó tham dự trò chơi ném bóng tuyết. Dường như một bên là bọn nữ sinh một bên nam sinh. Khi nhìn thấy tôi, Mary la lớn, “Ơ kìa, cô giáo,” và ném những quả bóng bằng cả hai tay tung tóe rồi băng thong thả qua đường. “Hẹn gặp cô ngày mai.” Nó nói ngoái lại, để biết chắc là không có ai đi theo sau nó.
“Cô đang đi về nhà phải không?” nó hỏi. “Em cũng vậy. Em thường đi xe với Reddy, nhưng hôm nay lại về muộn. Cô làm gì, đi xe điện hả?”
Tôi trả lời vâng và Mary nói, “Ồ, em có thể chỉ cho cô cách khác mà cô tiết kiệm được tiền. Đường qua những bụi rậm.”
Rồi nó dẫn tôi tới một con đường chật hẹp nhưng đi được dẫn xuống khu phố, chạy xuyên qua rừng và qua nhà máy cưa.
“Đây là con đường mà Reddy hay đi,” nó nói. “Con đường này đi lên cao nhưng ngắn hơn khi cô tới nhà thương.”
Chúng tôi đi vượt qua nhà máy cưa, và bên dưới, hiện ra một vài chỗ cắt xén loang lổ của khu rừng. Một vài nơi có vẻ là có người ở vì có nhiều đống gỗ, dây phơi quần áo, khói lam chiều bay lên. Từ khu nhà ấy một con chó thật lớn chạy ra giơ nanh sủa ồn ào.
“Câm mõm đi,” Mary kêu lên. Không biết từ lúc nào nó có sẵn một quả bóng tuyết vo tròn trong tay ném phụt một cái trúng ngay giữa hai mắt của con vật. Nó chạy vòng và con bé lại có thêm một cục tuyết nữa trong tay sẵn sàng ném nó. Một người đàn bà mang tạp dề trước bụng đi ra và la lên, “Mày giết nó mất.”
“Đuổi nó đi cho khuất mắt.”
“Tao sẽ nói ông già nói chuyện với mày.”
“Xin mời. Ông già chẳng làm nên trò trống gì.”
Con chó đi theo chúng tôi một quãng xa, vẻ đe doạ giả vờ.
“Em có thể trừng trị tất cả các con chó, cô đừng lo.” Mary bảo. “Em nghĩ là em có thể đối phó được một con gấu nếu chúng ta lỡ gặp phải nó.”
“Không phải là những con gấu đang ngủ đông hay sao.”
Tôi hơi sợ hãi con chó nhưng cũng sợ hãi sự bất cẩn của người khác.
“Đúng vậy nhưng mình chẳng bao giờ biết. Đã có một con gấu từng thức dậy rất sớm và tới đống rác tới nhà thương rồi. Mẹ em chỉ cần quay người lại đã thấy một con như thế. Reddy chạy đi lấy khẩu súng và bắn chết nó.”
“Reddy thường hay mang em và Annabel tới chỗ xe trượt tuyết, và đôi khi những đứa trẻ khác nữa và ông ta có thể bắt chước thổi sáo khiến cho những con gấu sợ hãi lánh xa. Nốt của nó cao lắm tai của người ta không nghe được.”
“Thật à, em có thấy vậy chưa?”
“Không phải thứ đó. Em muốn nói là thứ ông ta có thể làm với miệng của mình.”
Tôi nghĩ tới buổi diễn tập trong phòng học.
“Em không biết, có thể là để làm cho Annabel đừng quá sợ như ông ta bảo thế. Con bé không thể ngồi trên xe vì vậy ông ta phải kéo nó trên một cái xe trượt tuyết loại nhẹ. Em chạy theo sau nó và đôi khi lén nhảy lên xe và ông ta sẽ nói quái quỷ gì vậy, nó bỗng nhiên nặng cả tấn. Thế rồi ông quay thật nhanh để chụp lấy em nhưng chẳng bao giờ làm được. Ông sẽ hỏi Annabel cái gì làm cho xe trượt tuyết trở nên nặng nề, có phải mày đã ăn sáng nhiều quá không nhưng con bé không nói gì cả. Nếu có những đứa trẻ khác em cũng sẽ không làm vậy. Thú vị nhất là chỉ có mình em và Annabel. Nó là đứa bạn thân nhất của em.”
“Còn những đứa con gái khác ở trường thì sao? Bọn nó không phải là bạn của em à?”
“Em chỉ chơi với chúng khi không có ai cả. Bọn chúng toàn là một lũ ngu ngơ.”
“ Annabel và em có chung ngày sinh nhật trong một tháng. Tháng sáu. Vào ngày sinh thứ mười một của chúng em, Reddy mang chúng em xuống một cái hồ nước trên một chiếc thuyền. Ông dạy chúng em bơi lội. Thật ra chỉ có mình em. Lúc nào ông ta cũng phải giữ chặt lấy Annabel. Con bé không biết cách bơi. Có lần ông bơi một mình ra xa và hai chúng em liền lấy cát đổ vào giầy của ông ấy. Vào ngày sinh nhật thứ mười hai chúng em không đi xa đâu được liền tới nhà ôg để ăn bánh. Con bé không ăn được một miếng nào nên ông ấy dẫn chúng em đến xe hơi và chúng em ném những miếng bánh qua cửa sổ cho bọn chim hải âu. Chúng giành nhau kêu ầm ĩ. Chúng em cười phá lên khiến ông ta phải kêu dừng lại và ôm chặt lấy Annabel để cho nó khỏi bị ho ra máu.”
“Và sau đó,” nó nói tiếp, “sau đó thì em không được phép gặp Annabel lần nào nữa. Mẹ em không bao giờ muốn em đi chơi với những đứa trẻ bị bệnh lao phổi. Nhưng Reddy nói chuyện đầu đuôi với mẹ em, ông bảo sẽ ngừng chuyện đó nếu phải thế. Rồi ông ngừng thật và em lấy làm tức giận. Nhưng Annabel không còn vui vẻ như trước nữa bởi vì nó bệnh quá. Em sẽ chỉ cho cô ngôi mộ của nó nhưng ở đó chẳng có một tấm bia nào cả. Reddy và em sẽ làm một cái bia cho nó khi anh ta có thì giờ. Nếu chúng ta đi thẳng chứ không đi xuống như vừa nãy thì chúng ta đã gặp nghĩa địa của nó rồi. Đó là nơi dành cho những người không có thân nhân, chẳng ai mang họ về nhà.”
Vào lúc này chúng tôi đã đi xuống khu vực gần nhà thương.
 Nó nói, “Ồ tí nữa em quên mất,” và lôi ra một nắm những tấm vé.
“Cho ngày lễ tình nhân. Chúng em có một vở ca nhạc kịch ở nhà trường gọi là Pinafore. Đây là những tấm vé em mang đi bán và cô sẽ mua cái đầu tiên. Em đóng trò trong vở ca nhạc kịch ấy.”
(Còn tiếp)


1 nhận xét

  1. Nguyễn Đức Tùng dịch vừa hay vừa chính xác. Tiếng Việt có đủ từ ngữ để ta dịch chính xác. Dịch không chính xác là chưa vững tay nghề, chứ đừng nói văn của tác giả cao siêu, rối rắm quá, nên không thể dịch chính xác ra tiếng Việt.

    Trả lờiXóa

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)