Tìm kiếm Blog này

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: PHAN HUY ÍCH (1751-1822) TINH SÀ KỶ HÀNH - KÝ SỰ TRÊN THUYỀN ĐI SỨ (VỚI VUA QUANG TRUNG GIẢ) NĂM 1790

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

(Tiếp theo và hết)

ĐỀ MIẾU NHẠC VƯƠNG Ở YỂN THÀNH
Chí hùng mong uống rượu Hoàng Long,
Áo giáp mũ đồng hét cõi không.
Hương đỉnh hân hoan lòng phụ lão,
Kim bài phụng chiếu khóc anh hùng.
Trời xui Nam Tống ngu hòa giặc,
Người ví Trung Nguyên tiếc chiến công.
Căm phẩn bừng bừng nơi chiến địa,
Một sân tùng bách gió thu rung.

ĐỀ YỂN THÀNH NHẠC VƯƠNG MIẾU
Tráng hoài cảm khái ẩm Hoàng Long,
Thiết giáp đâu mâu khiếu sá không.
Hương đỉnh nghinh sư hân phụ lão,
Kim bài phụng chiếu khấp anh hùng.
Thiên giao Nam Tống ngu hòa tự,
Nhân vị Trung Nguyên tích chiến công.
Liệt phẩn do di cung kiếm địa,
Nhất đình tùng bách vãn hào phong.

Dĩu Lý thuộc huyện Thang Âm tỉnh Hà Nam, tương truyền là nơi Trụ giam Chu Văn Vương. Trong lúc bị giam giữ Văn Vương đã diễn nghĩa lý Kinh Dịch. Nhờ bề tôi là Tản Nghi Sinh dâng ngọc ngựa cho Trụ  mà Văn Vương được tha. Lý của cỏ thi, mai rùa có cái sâu xa. Nơi đồng hoang còn bia đá ghi sự tích này. Hàn Dũ có viết bài Cầm tháo, phổ trên đàn cầm nói tấm lòng Văn Vương bị giam nơi Dĩu Lý.


Nghĩa lý tinh vi : Thân tức là đạo. Lúc động lúc tỉnh theo tính trời. Giữ tiết tháo ở miền Tây xa xôi. Để tâm tư trước tiên vào thái cực. Theo Kinh Dịch thái cực là cái đầu tiên có trong trời đất. Nếu không có việc bị giam ở Âm Khư, thì nét vạch Phục Hy lấy ai phát huy ý huyền diệu. Nếu không có việc Chu Văn Vương bị giam ở Ân Khư cố đô nhà Ân. Tương truyền Phục Hy vạch ra tám quẻ Kinh Dịch, Văn Vương trong lúc bị giam ở Ân Khư đã đặt ra lời giải thích ý nghĩa chủ yếu từng quẻ. Dâng ngọc, ngựa, bề tôi tỏ lòng thành kính. Tản Nghi Sinh là bề tôi Chu Văn Vương, ông đem biếu vua Trụ ngọc và ngựa, Trụ bèn tha cho Văn Vương. Lý của cỏ thi, mai rùa hai vật người xưa dùng vào việc bói toán vốn là sâu xa. Nơi đồng hoang nay còn tấm bia đá. Lời đại thoán còn đầy  ở lề da. Đời xưa chưa có giấy, chép lời vào thẻ tre rồi dùng dây da xâu lại. Sử Ký nói: Khổng Tử ham đọc Kinh Dịch đọc mãi đến cái lề da xâu thẻ tre bị đứt ba lần. Nhớ khúc cầm tháo của ông Hàn Dũ nói nỗi lòng kiên trinh của Văn Vương khi bị giam ở Dĩu Lý mà tấm lòng u uất băn khoăn.

DĨU LÝ NƠI DIỄN NGHĨA KINH DỊCH
Nghĩa sâu:  thân là đạo,
Động tỉnh đều tính trời.
Miền Tây xa giữ tiết,
Để tâm Thái cực thôi.
Âm Khưkhông giam giữ,
Phục Hy  giải  diệu huyền,
Ngọc,  ngựa dâng thành kính,
Thi, qui vốn cao thâm.
Đồng hoang còn bia đá,
Lời xưa đầy thẻ xanh.
Nhớ khúc cầm Hàn Dũ,
Lòng u uất băn khoăn.

DĨU LÝ DIỄN DỊCH XỨ
Tinh vi thân thị đạo,
Động tức tính chư thiên.
Thủ tiết tây giao viễn,
Du tâm Thái cực tiên.
Ân Khư phi dưỡng hối,
Hy hoạch thục câu huyền.
Bích mã thần tâm kính,
Thi qui vật lý uyên.
Hoang nguyên lưu thạch kệ,
Đại thoán diễn vi biên.
Cầm tháo tư Hàn cú,
U thê cảnh cảnh nhiên.

Di chỉ Trú Cẩm Đường ở phủ thành Chương Đức, tức Tương Châu xưa, có cột bia to ghi công tích Hàn Ngụy Công. Hàn tên là Hàn Kỳ đỗ tiến sĩ  lúc còn trẻ tuổi, là danh thần nhà Bắc Tống, có công cùng Phạm Trọng Yêm dẹp giặc Tây Hạ. Sau Hàn Kỳ làm tể tướng, được phong Ngụy Quốc Công. Hàn Kỳ có xây biệt thựở quê tên là Trú Cẩm Đường :  Bia xưa vời vợi trong nắng chiều. Dấu thơm Ngụy Quốc ứng với mây ngũ sắc. Thời vua Tống Nhân Tông, quan thái sư tâu dưới mặt trời xuất hiện đám mây ngũ sắc. Người đương thời cho làđiềm tốt lành, ứng với việc Hàn Kỳ làm nên công nghiệp lớn. Rủ giải mũ ở xã tắc nêu cao đức trí, Hàn Kỳ là quan tể tướng trong triều đình thể hiện một người có đức có tài. Áo gấm không thiếu phần cảm hứng ‘phần du’. Khi đi kinh lýở quê nhà, Hàn Kỳ tỏ ra có công lao. Áo gấm chỉ sự giàu sang, Hàn Kỳ mặc áo gấm về quê hương, phần du là hai thứ cây, đồng thời là quê của Hán Cao Tổ. Người xưa dùng hai chữ này để chỉ quê hương. Gác vẽ còn lại bài văn châu ngọc. Âu Dương Tu thi hào đời Tống viết bài văn Trú Cẩm Đường ghi trên bình phong lầu gác ca ngợi công nghiệp Hàn Kỳ.

TRÚ CẨM ĐƯỜNG  HÀN NGỤY CÔNG
Bia xưa vời vợi nắng chiều say,
Nước Ngụy dấu thơm năm sắc mây.
Xã tắc mũ xiêm cao trí đức,
Quê hương cờ tiết đức công dày.
Cho dù áo gấm quê hương hứng,
Còn lại  gác văn  châu ngọc  lời.
Sự nghiệp tiên hiền lòng tưởng nhớ,
Mùi thơm chất chứa mãi nơi đây.

HÀN NGỤY CÔNG TRÚ CẨM ĐƯỜNG CỐ CHI
Sa nga cổ kệ quải tình huân,
Ngụy Quốc phương tung ứng ngũ vân.
Xã tắc thùy thân xuy đức trí,
Gia hương kiến tiết biểu huân cần.
Cẩm y bất thiểu phần du hứng,
Họa các duy dư uyển diễm văn.
Lịch lịch tiền tu tràng xi tưởng,
Tự đường như ấp tích thanh phân.

Nhân ngày sinh nhật phụ thân, Phan Huy Ích viết bài tự sự :  Người cỡi hạc bay tít lên làng mây xa. Con không được mặc áo quan văn dâng rượu chúc thọ. Việc hái rau ngoài khe cậy người vợ dưới cửa sổ. Kinh Thi thơ Thái Tần nói việc vợ quan đại phu lo việc cúng tế có câu : Vu di thái tần, nam giản chi tân. Vu di thái tảo, vu bỉ hàng lao.. Vu di điện chi, tôn thất dũ hạ . (Hái rau tần ngoài khe suối. Hái rau tảo ở vũng nước ven đường.. Rồi đặt dưới cửa sổ nhà thờ tự.) trong tiếng Việt có chữ  người đàn bàtảo tần gốc từ câu thơ này. Kẻ sứ thần không nhận được cành mai ở Lũng Đầu, không nhận được tin tức ở nước nhà gửi sang. Lòng hiếu đáp sao được ơn như trời đất của cha mẹ. Việc công thăm hỏi, lúc đi đường thủy, lúc đi đường bộ rất vội vàng. Lòng quê vạn dậm luôn luôn tìm thấy trong mộng. Buổi sớm ở nhà trạm những ghê khí lạnh mùa thu.

CẢM NGHĨ NHÂN NGÀY SINH NHẬT PHỤ THÂN
Cỡi hạc người bay mây cõi xa,
Áo văn chẳng mặc thọ mừng cha.
Hái rau cậy vợ bên khung cửa,
Đi sứ cành mai chẳng nhận quà.
Cha  mẹ đất trời, ơn chẳng đáp,
Việc công thăm hỏi vội vàng ra.
Làng quê vạn dậm luôn trong mộng,
Buổi sớm trạm dừng thu lạnh qua.

TIÊN KHẢO SINH THỜI CẢM TÁC
Liêu liêu hạc ngự cách vân hương,
Phi phục văn thân hiến thọ trường.
Giản tảo hữu trai tông dũ phụ,
Lũng mai vô tín sứ tinh lang.
Hiếu tư đối việt càn khôn đại,
Công sự chu tư thủy lục mang.
Vạn lý gia hương tần nhập mộng,
Dịch đình thiên hiểu khiếp thu lương.

Sứ bộ tới trạm Lương Hương, quan Lễ Bộ Thị lang là Đức Minh vâng mệnh tiếp trà, xong xuôi lại lên đường. Đi qua ngoại thành Yên Kinh vào cửa Chương Nghi, theo cầu Chính Dương vào cửa Tuyên Vũ, đi qua phố phường phía Tây hoàng thành . Từ giờ tý đến giờ mùi (đi mất 16 g , từ 11 giờ khuya đến 3 giờ chiều) mới tới cửa Đức Thắng ở thành Bắc. Trong thành đường đi toàn lót đá, tiếng xe kêu như sấm, bước chân người rầm rập, vị quan đi theo dục đi gấp, nên không nghỉ ngơi được một chút để xem phong cảnh.

Mây lành bay toả nơi đế vương ở. Núi như chầu, sông như đai thế đất hùng tráng. Chốn đô hội phồn hoa của một nước. Nơi xây dựng thanh giáo của triều thịnh. Rồng uốn hổ ngồi, hướng về thành trì.Gia Cát Lượng bàn về hình thế đất Kim Lăng (Nam Kinh) nói : Chung Phụ long bàn, Thạch Thành hổ cứ, chân đế vương chi trạch.(Núi Chung Phụ như rồng uốn, núi Thạch Thành như hổ ngồi, thật xứng là chổ của đế vương.Phan Huy Ích cho rằng thế đất của Yên Kinh cũng như thế. Ngựa giong xe ruổi vì sợ mệnh nhà vua. Kinh Thi có câu: Úy thứ giản thư (Sợ mệnh nhà vua). Ý thơ nói xe ngựa đi lại tấp nập vì mệnh lệnh nhà vua khẩn cấp khiến người ta không dám trì hoản. Phố phường hoa lệ thật đẹp mắt. Cung khuyết Càn Thành, cung điện nhà Thanh vui biết chừng nào.

QUA YÊN KINH
Bay tỏa mây lành chốn Đế vương.
Đai chầu sông núi, đất oai hùng.
Phồn hoa đô hội kinh đô nước,
Thanh giáo dựng xây triều Thịnh Vương.
Rồng cuộn, hổ ngồi thành trực hướng,
Ngựa xe rong ruổi lệnh quân vương.
Phố phường hoa lệ trông say mắt,
Cung khuyết Càn Thanh vui biết chừng.

QUA YÊN KINH
Tường vân phiếu diếu đế vương cư,
Củng đới sơn hà tráng địa dư.
Thượng quốc phồn hoa đô hội xứ,
Hy triều thanh giáo triệu bồi dư.
Long bàn hổ cứ chiêm thành trạm,
Mã sậu xa trì úy giản thư.
Ỷ  lệ nhai triền kham diệm mục,
Càn Thành cung khuyết lạc hà như !

Sau khi, dâng biểu, nộp cống phẩm tại Bộ Lễ và đến tập lễ tại Hồng Lô Tự và dự yến triều đình, Sứđoàn được mời đi thăm Vạn Lý Trường Thành phía Bắc  cách Bắc Kinh khoảng 100km. Từ Yên Kinh một ngày rưỡi thì đến thành nhà Tần. Lên cửa núi đi ra phía Bắc, xe chạy dồn lên dập xuống, đường rất khó đi.

Phan Huy Ích làm bài thơ tức sựở  Vạn Lý Trường Thành. Tường trên thành liền núi cao chót vót một màu xanh. Trên cửa ải mở thông một con đường. Thành quách vương dài, ai bảo nơi nhờ cậy muôn đời ? Trời đất bao la, nay thuộc triều thịnh trị. Mục đích Vạn Lý Trường Thành là ngăn chận các dân Bắc Di xâm lăng. Nhưng Trung Quốc vẫn bị  hết nhà Kim thời Tống, đến Mông Cổ cai trị gần 100 năm, nhà Mãn Thanh cai trị 248 năm., triều thịnh trị nhà Thanh vốn là dân Mãn Châu nằm ngoài Vạn Lý Trường Thành. Vẻ thu mờ nhạt, núi khe cổ kính. Đường đá vòng vèo, đường trạm xa xôi. Nhìn sang phía Bắc thấy nhà cửa của vua chỉ cách trời gang tấc. Tiếng nhạc ngựa vang thấu đến lớp lớp mây.

TỨC SỰ Ở TRƯỜNG THÀNH
Tường thành liền núi ngất mây xanh,
Cửa ải mở thông một nẽo thành.
Thành quách vương dài đâu vạn thuở,
Bao la trời đất thịnh triều vương.
Mờ xa thu nhạt hang khe núi,
Đường đá vòng xa tít trạm đường.
Phía Bắc cung đình gang tấc thấy
Ngựa vang tiếng nhạc lớp mây sương.

TRƯỜNG THÀNH TỨC SỰ
Liên sơn trĩ điệp bích thiều nghiêu,
Quan thượng phi thông lộ nhất điều.
Diên mậu thùy vân tư vạn thế,
Tế bàn kim dĩ thuộc hy triều.
Thu dung đạm đãng nham khê lão,
Thạch kính oanh vu nhật dịch lao.
Bắc vọng hoàng trang thiên chỉ xích,
Tằng tằng vân lĩnh đạt chinh biều.          

Nhiệt Hà tỉnh ở đông bắc Trung Quốc, phong cảnh đẹp, khí hậu tốt, vua Thanh làm khu đặc biệt xây dựng hành cung ở đó. Sau khi đi thăm Vạn Lý Trường Thành, sứ đoàn trở lại cửa Bắc, thành Yên Kinh, rồi đi đến Nhiệt Hà bằng cửa Đông Bắc. Ra khỏi cửa ải mười dậm, qua đền thờ Dương Nghiệp, lại đi mười dặm nữa qua chùa Thái Ninh, phải đi đêm nên chưa thăm phong cảnh được. Sách Dụ Am Ngâm Lục nxbKHXH 1978  dịch lầm là Đêm đi ở cửa Tái Bắc.

Cưỡi ngựa ruổi nhanh trên đường quan ải xa tít. Suối khe rào rào, đá lởm chởm. Đến đất Nhiệt Hà mặt vua gần gũi. Vin leo Hàn Lĩnh bóng trăng mới lên. Hàn Lĩnh chỉ núi non miền Bắc Trung Quốc. Đền VôĐịch thâm nghiêm ánh đèn thấp thoáng. Am Thái Ninh yên tỉnh hạt móc vừa sa. Vất vả chẳng ngại giong ruổi xa xôi. Đêm thu nơi nhà vắng dễ não lòng người.

ĐÊM TRỞ LẠI CỬA BẮC
Cỡi ngựa ruổi đường xa ải quan,
Đường đi lởm chởm suối khe tuôn.
Nhiệt Hà thấy mặt rồng gần gủi,
Hàn Lĩnh nhìn trăng sáng mới lên.
Vô Địch thâm nghiêm đèn thoáng hiện,
Thái Ninh yên tỉnh móc vừa buông.
Xa xôi rong ruổi lòng không ngại,
Nhà vắng đêm thu dế não lòng.

TÁI BẮC KHẨU DẠ HÀNH
Tuyệt tái chinh đồ sậu giá nhân,
Khê tuyền tích lịch thạch lân tuân.
Nhiệt Hà chiêm ngưỡng thiên nhan cận,
Hàn Lĩnh tê phan nguyệt phách tân.
Vô Địch từ thâm đăng bán hiện,
Thái Ninh am tĩnh lộ sơ quân.
Hiền lao phi đạn trì khu viễn,
Hoang thự thu tiêu dị não nhân.

Chiêu Quân, cung nhân của Hán Nguyên Đế, tên Vương Tường là một giai nhân tuyệt sắc. Hán Nguyên Đếsai Diên Thọ vẽ tranh các cung phi để dâng lên vua xem, có lẽ vì vua không thể gặp mặt hết các cung phi. Các cung phi đều hối lộ cho Mao Diên Thọ để được vẽđẹp. Chiêu Quân không chịu hối lộ, bị Diên Thọ vẽ xấu đi. Thời Hán Nguyên Đế triều đình hèn yếu, vua Hán phải triều cống cho vua Hung Nô để được yên ổn không bị Hung Nôđem quân đánh. Vua Hán Nguyên Đế phải cống cung phi đẹp cho vua Hung Nô. Lúc từ biệt nhà vua mới biết Chiêu Quân là người đẹp nhất trong hậu cung, nên cóý hối hận bèn giết Diên Thọ. Nhưng cuối cùng Chiêu Quân phải cống cho Hung Nô. Chiêu Quân có ngón đàn tỳ bà tuyệt vời, các tranh thường vẽ nàng với cây đàn tỳ bà. Về sau Chiêu Quân chết và chôn ở đất Hồ. Chiêu Quân cống hồ là đề tài của một truyện thơ khuyết danh Việt Nam, và nhiều vỡ tuồng, và cải lương. Năm 1792, vua Quang Trung có sai Trần Quang Diệu sang cầu hôn công chúa con vua Càn Long và xin phần của hồi môn là hai tỉnh Lưỡng Quảng vốn là đất Bách Việt ngày xưa. Việc đang tiến hành tốt đẹp thì vua Quang Trung qua đời, Trần Quang Diệu đành quay về, chuyện công chúa nhà Mãn Thanh “đi cống” nước Nam vì thế không xảy y ra.

Ven núi thành Tần cỏ um tùm, người ta chỉ mộ Minh Phi táng trong thung lũng ấy. Dù trướng nhung có thương người mệnh bạc. Các dân tộc phía Bắc  Vạn Lý Trường thành lấy lông cừu non làm trướng, gọi là trướng nhung, đây chỉ vua Hung Nô. Sao bằng hộp phấn cứ chết già trong cung. Người Trung Quốc ngày xưa kỳ thị: làm vợ vua Hung Nô không bằng làm cung nữ vua Hán, dù là không được vua đoái hoài đến chết già trong cung. Mày liễu ủ rũ ngậm móc mùa thu. Tiếng đàn thê lương nghẹn ngào trong gió bấc. Song dung nhan phi thường thì bút cũng khó vẽ nổi.

MỘ CHIÊU QUÂN
Thành Tần ven núi cỏ um tùm,
Người bảo Minh Phi chôn lũng trong.
Dù dưới trướng nhung thương mệnh bạc,
Sao bằng hộp phấn chếttrong cung.
Liễu mày ủ rũ thu sương móc,
Đàn gãy thê lương gió bấc rung.
Muôn thuở chê tranh Diên Thọ vẽ,
Bút nào vẽ nỗi sắc phi thường.

CHIÊU QUÂN MỘ
Tần thành lĩnh bạn thảo mông nhung,
Kiến chỉ Minh Phi táng lũng trung.
Nhuế trướng túng nhiên liên bạc mệnh.,
Hương liêm hà tự lão thâm cung.
Liễu mi lãnh lạc hàm thu lộ,
Cầm vận thê thanh yết sóc phong.
Thiên cổ mạn cừu Diên Thọ họa,
Phi thường nhan mạo bút nan công.

Dự yến ở Tây Uyển, có người thư ký Triều Tiên  tên là Phác Trai Gia, đem bài thơ đề trên quạt tới trình, liền họa vần tặng lại ngay trong bữa tiệc.

Các sao xúm quanh tòa Đế tọa. Đế toạ là tên  vì sao, thường dùng để chỉ nhà vua. Chắp cánh lên cõi tiên. Móc sớm trùm lên cây liễu xanh tươi. Hương trời thơm nức trên lầu cánh chả, (lầu sơn màu xanh, nóc mái ngói bằng sứ xanh chim thúy vũ). Vui  cùng hát bài thơ Lộc minh. Bài thơ hội yến quân thần chép ở thiên Tiểu nhã, Kinh Thi.  Các cung nữ múa khúc Nghê thường, chuyện Đường Minh Hoàng lên cõi tiên cùng Hằng Nga. Nơi tôi vàông gặp nhau. Là khi cùng ngồi cùng thuyền trong ao.

DỰ YẾN Ở TÂY UYỂN
Sao quanh toà Đế tọa,
Chắp cánh cõi tiên châu.
Tràn liễu xanh sương móc,
Hương trời thơm thúy lâu.
Lộc minh cùng vui hát,
Nghê thường múa đẹp sao !
Nơi tôi anh gặp mặt,
Trong ao một thuyền câu.

THỊ YẾN TÂY UYỂN
Tinh thần tuyền Đế tọa,
Hàn vũ thướng tiên châu.
Hiểu lộ thông thương liễu,
Thiên hương tử thúy lâu.
Hoan đồng ca lộc tịch,
Thái sán vũ nghê thu.
Tử ngã thương phùng xứ,
Trì đường thích nhất chu.

Ngày 19 ở triều mừng lễ vạn thọ xong. Đêm cùng bạn đồng sự nói chuyện phiếm ngẫu nhiên làm thơ dựa ý: Nhu thử lương hà dạ. Đêm tốt lành thế này tính sao, lấy vần hà.Câu này lấy từ bài Hậu Xích Bích của TôĐông Pha.

Dâng chén rượu mừng thọ lên cửa trời, bến Ngân Hà thả chiếc bè chơi. Tích Trương Khiên  nhà Hán đi tìm nguồn sông Hoàng Hà xem có bắt nguồn từ sông Ngân Hà trên trời, về sau dùng nói việc đi sứ. Ánh sáng trăng trắng xóa trên sân vắng. Tiếng hát rộn ràng bên kia tường. Quan cảnh thu đâu đâu cũng đẹp. Đường đời làm cho người ta già đi nhiều. Bên ngọn đèn khuya tịch mịch. Lòng nhớ quê hương chẳng ngăn nỗi, biết tính sao đây?

ĐÊM TỐT LÀNH THẾ NÀY TÍNH SAO
Cửa trời chén chúc thọ,
Thả bè chơi ngân hà.
Trăng sáng tràn sân vắng,
Tiếng hát rộn tường hoa.
Cảnh thu đâu cũng đẹp,
Đường đời người chóng già.
Bạn đèn khuya tịch mịch,
Lòng quê biết sao a ?

NHƯ THỬ LƯƠNG DẠ HÀ ?
Thiên hôn xưng thọ giả,
Tinh chữ ổn du sà.
Kiểu phách không đình nguyệt,
Phồn thanh cách bích ca.
Thu quang tùy xứ hảo,
Thế lộ lão nhân đa.
Tịch mịch hàn đăng bạn,
Hương tâm bất cấm hà ?

Ngày hôm ấy từ kinh thành hộ giá (vua Quang Trung giả) đến Nguyệt Đàn, đêm đến công quán Viên Minh. Gương nga trên trời lạnh soi xuống thềm sân. Bóng trong sáng xa xa từ biển quế tới. Nước Phương Nam sản sinh nhiều quế nên gọi là biển quế, ở đây chỉ nước Việt. Nửa phần sắc thu đến trong lúc bận rộn. Năm canh lòng quê về trong giấc chiêm bao. Hạt sương rơi thấm mái tóc sầu, dựa lan can cô quạnh. Giọt đồng nhỏ giọt đêm thanh, dốc chén rượu say tít. Dịch chữ lậu trong thơ. Ngày xưa chế cái bầu bằng đồng khắc ngấn và dùi lỗ cho nước nhỏ xuống. Bầu nước cạn đi bao nhiêu thì biết bấy nhiêu giờ khắc. Khí cụ ấy gọi là cái đồng hồ (cái bầu đồng). Suốt mấy năm lênh đênh mang mối hận du tử. Hết Phú Xuân mùa thu năm Mậu Thân (1788) hầu vua ở kinh thành Phú Xuân, mùa thu năm Kỷ Dậu (1789) chờ mệnh ở trấn Lạng Sơn để tiếp sứ giả, mùa thu năm nay lại tới Yên Kinh.

TRUNG THU NƠI QUÁN KHÁCH
Gương nga trời lạnh chiếu thềm sân,
Từ biển quế xa bóng sáng trong.
Thu sắc nửa phần đang lúc bận,
Lòng quê năm khắc giấc mơ nồng.
Hạt sương rơi tóc hiên sầu quạnh,
Đồng giọt đêm thanh  dốc chén quỳnh,
Năm tháng lênh đênh du tử hận,
Phú Xuân,  xứ Lạng lại Yên kinh.

KHÁCH QUÁN TRUNG THU
Hàn không nga kính chiếu đình giai,
Thanh ảnh dao tòng quế hải lai.
Thu sắc bán phần mang lý quá,
Hương tâm ngũ dạ mộng trung hồi.
Sương xâm sầu mấn bằng cô hạm,
Lậu yết hương tiêu đáo túy bôi.
Bồng ngạnh liên niên du tử hận,
Xuân thành, Lạng khổn hựu Yên Đài.

Ngô Chiếu người Thanh Uyển tỉnh Trực Lệ, đậu Tiến sĩ năm Đinh Mùi (1787) gặp tôi ở phòng triều yết, rót trà mời tiếp đãi kính trọng, nhân gửi bài thơ tặng ông ta.

Trên Hội Bàn ào áo mũ chen nhau. Theo Hán Võ nội truyện: Tây Vương Mẫu cho Võ Đế mười quảđào, vua định cất lấy hạt đem ương cây giống. Tây Vương Mẫu bảo: Đào này ba nghìn năm ra quả một lần, đất trần gian không trồng được. Về sao dùng Bàn đào để chỉ bữa tiệc nơi sang trọng quyền quí. Trong ban măng ngọc được gặp phượng loan. Ngọc duẫn là ngón tay ngọc. Ý nói Ngô Tiến sĩ là người có dung mạo, tài năng khác thường vào hàng chim phượng, chim loan. Sớm có văn chương nỗi danh tiến sĩ. Tạm đem lễ độ giúp việc Bộ Lễ. Tinh thần sảng khoái như trăng sáng ba thu. Độ lượng mênh mông như sóng lớn nghìn khoảnh. Để lại nỗi nhớ chiêm bao vấn vương với bình rượu trong. Đời người như bèo nước, ngẫu nhiên gặp nhau kết giao vui vẻ.

TẶNG TIẾN SĨ HỌ NGÔ TIẾN  BỘ  LỄ
Bàn Đào tiên hội áo xiêm chen,
Ngọc duẫn trong hàng gặp phượng loan.
Tài sớm                văn chương  danh tiến sĩ,
Tạm đem lễ độ giúp  xuân quan,
Tinh thần sảngkhoái ba thu sáng
Độ lượng mênh mông nghĩa sóng tràn,
Chiêm bao bình rượu còn ghi mộng,
Ngẫu nhiên bèo nước kết tâm can.

TẶNG LỄ BỘ CHỦ SỰ NGÔ TIẾN SĨ
Bàn Đào hội thượng xí y quan,
Ngọc duẩn ban trung cấu phượng loan.
Tảo hưởng văn chương tiêu giáp đệ.
Tạm tương lễ độ tá xuân quan.
Tam thu cửu nguyệt phong thần sảng,
Thiên khoảnh uông ba vũ lượng khoan.
Khiển quyển thanh tôn lưu mộng ức,
Nhân sinh bình thủy ngẫu đề loan.

PHAN HUY ÍCH TINH SÀ KỶ HÀNH
PHẦN II. THƠ TRÊN ĐƯỜNG VỀ

Ngày 22 phụng mệnh từ Tây Uyển công quán lên đưởng về nước, mừng làm thơ.

Đêm trên sông Lô nuốt nước mắt qua đò. Lúc ở quán Yên Kinh được quay cương ngựa trở về. Sướng khổ lòng son những lo đối phó. Vất vả phận thường phải đi thăm hỏi.Dịch chữ tuân ti. Thơ“Hoàng hoàng giả hoa” trong Kinh Thi có câu : Chu viên tư tuân (đi thăm hỏi khắp nơi). Nội dung bài thơ vua ủy lạo sứ thần. Vìâm vận tác giả đổi tư tuân thành tuân tư, chữ tư lại đọc là ti cho hợp vận. Xem phong cảnh mà được gần gũi tầng mây.. Dịch chữ quan quang trong bài. Đời xưa hay dùng nói việc đi sứ làđi thăm phong cảnh nước người (Kinh Dịch).Đi xa luôn được ngắm vẽ lạ sông núi. Lòng khách côđơn riêng những mến cảnh. Hoa liễu vườn Viên Minh rợp cung Dao Trì. Cung điện thần tiên, đây chỉ cung điện nhà vua ở Nhiệt Hà.

LÊN ĐƯỜNG VỀ NƯỚC
Sông Lô nén lệ qua đò đêm,
Quay ngựa trở về từ quán Yên.
Sướng khổ lòng son lo đối phó,
Phận đi thăm hỏi phải lo thường,
Được xem quang cảnh mây gần gủi,
Ngắmcảnh non xa vẻ lạ lùng.
Lòng khách cô đơn riêng mến cảnh,
Viên Minh hoa liễu rợp Dao Cung.

ĐĂNG TRÌNH HỒI QUỐC
Lô giang ngấn lệ hoành chu dạ,
Yên quán thừa ân phản bí thì.
Khổ lạc sơ tâm kham đối đãi,
Cần lao thường phận yếu tuân ti.
Quan quang thân tiếp vân tiêu cận,
Hành viễn trùng khan thủy thạch kỳ.
Lao lạc khách hoài thiên luyến cảnh,
Liên Minh hoa liễu ấm Dao Trì.

Cỗ xe về phương Nam, đường khách vời vợi. Tình thu trăn trở qua đêm lạnh. Canh tư trạm công giục giã cương ngựa. Mười dặm chòi canh lặng thinh mõ gác. Gió đưa chuông loan, tiếng vang nhè nhẹ. Xe sứ thường treo cái chuông bên cạnh, khi xe đi chuông kêu nghe như tiếng chim loan. Móc thấm áo nệm da, chiêm bao quạnh hiu. Hãy mừng việc bói rùa hợp điềm tốt lành.Mây núi cố quốc chờ xe sứ thần trở về.  Phan Huy Ích viết: Lúc chuẩn bị hành lý ở Thăng Long, tôi có đến Văn Miếu gieo quẻ bói, bói được quẻ Hoán. Lời quẻ Hoán nói: khi chia tay thì tốt.

DỰA VẦN VŨ  CÔNG BỘ

VIẾT KHI ĐI XE ĐÊM
Phương Nam vời vợi khách hồi hương,
Trăn trở tình thu gió lạnh vương.
Trạm dục  canh tư  xe ngựa bước,
Chòi canh mười dặm , mõ im lìm.
Chuông loan gió đẩy  vang vang  tiếng,
Áo dạ  móc rơi  hiu quạnh  hồn,
Mừng bói toán điều lành tốt đẹp,
Núi mây  chờ  đợi sứ đoàn sang.

DẠ GIAN XA HÀNH Y VŨ CÔNG BỘ VẬN.
Biển thặng nam hồi khách lộ thiều,
Thu hoài triển chuyển độ hàn tiêu.
Tứ canh công địch thôi chinh bí,
Thập lý tiểu lâu tĩnh thú điêu.
Phong dẫn loan linh thanh tế tế,
Lộ xâm cầu nhục mộng liêu liêu.
Qui do thả hỉ phù nguyên cát,
Cố quốc vân sơn hậu phản thiều.

Đến thành Trác Châu nhân đi qua miếu Tam Nghĩa kỷ niệm  Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi kết nghĩa ở vườn đào, thề sống chết có nhau để tôn phò nhà Hán.Trời giữ lại giềng mối nhà Hán để họp mặt anh hùng. Vua tôi anh em hợp trong tình tri ngộ. Tôn miếu xã tắc nhà Hán lại bị vùi lấp, bọn quan gian thần lộng quyền nổi lên. Hỏađỉnh: vạc lửa, nhà Hán lấy hỏa đức để trị thiên hạ, cho nên hỏađỉnh chỉ nhà Hán. Vườn đào ba người kết nghĩa sống chết có nhau. Không bàn đến cuộc đời giành nhau làm bá chủ riêng. Đời Tam Quốc:  Ngụy, Ngô, Thục mỗi nước làm bá chủ một phần lãnh thổ Trung Quốc chống nhau. Còn đem luân thường nêu cao đến tận trời xanh. Tình nghĩa vua tôi, anh em của ba người kết nghĩa là tiêu chuẩn của luân thường đạo lý. Trên đường trạm ngẫu nhiên đến đền miếu xưa. Chiêm ngưỡng di vật mũ miện, mũ biền hai thứ lễ phục ngày xưa xong, dạo trong gió thông vi vút.

MIẾU TAM NGHĨA Ở THÀNH TRÁC CHÂU
Trời lưu nhà Hán họp anh hùng,
Huynh đệ quân thần gặp mặt chung.
Đỉnh lửa lấp vùi quan tiếm loạn,
Vườn đào kết nghĩa tử sinh cùng.
Chẳng bàn thế cuộc dành ngôi bá,
Đem đạo cương thường soi thái không.
Đường trạm ngẫu nhiên thăm miếu cổ,
Ngắm nhìn mũ miện, dạo tùng phong.

TRÁC CHÂU THÀNH TAM NGHĨA MIẾU
Thiên lưu Hán thống hợp anh hùng,
Huynh đệ quần thần kế ngộ trung.
Hoả đỉnh tái nhân cường tiếm khởi,
Đào viên tam kết tử sinh đồng.
Vô luân thế cục tranh thiên bá,
Hoàn bả nhân thường yết thái không.
Bưu nhật ngẫu lâm từ miếu cổ,
Miện biền chiêm bái lộng tùng phong.

Đến Hứa Châu tức Hứa Đô kinh đô nhà Đông Hán, sứđoàn dừng chân, nhớ chuyện Tào Tháo, Phan Huy Ích viết bài thơ:  Di tích Hán Đô mờ mịt không nghe thấy gì. Đương thời dựa vào cố quân để dòm ngó vạc báu. Tào Tháo dựa vào hư danh của vua Hiến Đế để ra mệnh lệnh cho các chư hầu. Thay thế ngôi vua ngấm ngầm truyền lại cho Thế tử họ Tào. Thế tử họ Tào là Tào Phi. Sau khi Tào Tháo chết, Tào Phi lên thay đoạt ngôi nhà Hán rồi xưng đế tức Ngụy Văn Đế. Chức để phần mộ vờ mượn tiếng : tướng quân nhà Hán. Tào Tháo vẫn tự xưng mình là tướng nhà Hán, hàm chức và phần mộ Tào Tháo vẫn đề là Hán tướng quân. Thuật ma quỷ gian hùng làm ô uế sử xanh. Dáng mùa thu ở lư tỉnh chiếu lên mây biếc. Theo cổ chế thì phép tỉnh điền chia ruộng đất theo hình chữ tỉnh, cứ tám gia đình là một tỉnh, những nhà cửa trong khu vực gọi là lư tỉnh(hu tong). Du khách ngày nay đến Trung Quốc thường được đi thăm các lư tỉnh. Câu này ý nói Tào Tháo làm ô uế sử xanh, nhưng sau khi Tào Tháo chết đất Hứa Châu vẫn đẹp. Đồng Tước chỗ dạo chơi cũ nay đã mai một. Đồng Tước là lâu đài do Tào Tháo xây dựng ở tây nam huyện Lâm Chương tỉnh Hà Nam. Tào Thực con út Tào Tháo có làm bài thơ tuyệt tác ca tụng lâu đài này tả hai cây cầu (kiều) nối với đền. Khổng Minh sửa câu thơ Tào Thực, cho rằng Tào Tháo xây đài Đồng Tước để bắt hai nàng Kiều vợ Tôn Quyền và vợ Chu Du về giam ởđây: Một nền Đồng tước khóa xuân hai Kiều. Khích Chu Du, Tôn Quyền đánh trận Xích Bích. Nào ai hỏi nghi phần trên cao nguyên hoang vắng. Tào Tháo cho đắp 72 ngôi mộ giả trên cao nguyên để cho đời sau khó phát hiện được nấm mộ nào chôn hài cốt mình, vì thế gọi là nghi phần.

NGHỈ Ở THÀNH HỨA CHÂU NHỚ SỰ TÍCH TÀO MAN
Hứa Đô di tích mịt mờ không,
Thời dựa cố quân, vạc báu tranh.
Thay thế ngôi vua Tào Thế tử,
Chức đề phần mộ Hán Tướng quân.
Gian hùng quỷ thuật nhơ trang sử,
Lư tỉnh dáng thu mây biếc xanh.
Đồng Tước dấu xưa nào có thấy,
Mộ phần ai hỏi chốn mênh mông ?

TÚC HỨA CHÂU THÀNH TRUY ỨC TÀO MAN CỐ SỰ
Hứa đô di tích mịch vô văn,
Khuy đỉnh đương sơ hiệp cố quân.
Thiện đại ám di Tào thế tử,
Mộ hàm hư thác Hán tướng quân.
Gian hùng quỉ thuật ô thanh giản,
Lư tỉnh thu dung chiếu bích vân.
Đồng Tước cựu du nhân một tận,
Hoang nguyên thùy phục phỏng nghi phần.

Cuối mùa hè vừa rồi đi đến đây thì đang mùa nước lũ, sóng lên cuồn cuộn. Thuyền sang phải mấy khắc mới đến được bờ phía Bắc. (Khắc tương đương với 2 giờ, đêm năm canh, ngày sáu khắc; Giờ Tý nửa đêm, giữa trưa là chính Ngọ)

Buồm gió lênh đênh nước gợn sóng. Bãi rau tần qua thu đưa gió bấc lạnh. Hãy xem sương móc buổi sớm trên ngọn sóng; Chẳng như dòng nước chảy xiết sau cơn lũ lụt. Cá rồng ẩn hiện, tiềm tàng vô tận. Sông Hoàng Hà có nhiều loài thủy tộc sinh sống. Trâu ngựa lờ mờ phân biệt cũng khó. Vượt hiểm đi theo con đường trung tín là thuận lợi. Người xưa quan niệm giữ lòng trung tín thì không sợ nguy nan.  Dòng nước vàng mênh mông là một kỳ quan. Sông Hoàng Hà nước màu vàng nên gọi là Hoàng lưu.

SÁNG SỚM QUA SÔNG HOÀNG HÀ
Sóng gợn lênh đênh buồm gió lên,
Hơi thu buốt lạnh bãi rau Tần.
Hãy xem sương móc trên sông sớm,
Chẳng phải nước ròng sau lũ tuôn.
Cá rồng ẩn hiện tàng thu tận,
Trâu ngựa lờ mờ khó biệt phân.
Vượt hiểm giữ đườngtrung tín thuận,
Mênh mông dòng nước một kỳ quan.

THẦN ĐỘ HOÀNG HÀ
Phong phàm phiếm phiếm thủy dương lan,
Tần phố kinh thu tống sóc hàn.
Hảo khán đào đầu phù hiểu lộ,
Phi đồng lạo hậu sấn kinh thoan.
Ngư long xuất một tàng vô tận,
Ngưu mã vi mang biện diệc nan.
Di hiểm lợi hành trung tín lộ,
Hoàng lưu di diểu nhất kỳ quan.

Ải Vũ Thắng nằm giữa phân giới châu Kinh và châu Dự,nay là tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc.Đêm trăng sứđoàn đi ngang qua cửa ải Phan Huy Ích viết:  Bờ nội chắn ngang phân giới giữa châu Kinh châu Dự. Vén bức rèm xe trông bốn phía thấy mặt trăng vừa lên. Sương móc cuối thu mang nhiều hơi lạnh. Đồng bằng Trung Quốc còn dấu vết cũ.  Trạm trên gác đê canh nghiêm ngặt, luôn luôn sẵn sàng nổ súng. Xóm thôn miền núi khe xa vắng, le lói ánh đèn. Mãi đi, nhất là lúc lòng muốn về trĩu nặng. Ra đi khỏi một cửa ải, nỗi mừng tăng thêm một.

ĐÊM TRĂNG QUA ẢI VŨ THẮNG
Kinh Dự hai châu ranh giới phân,
Vén rèm bốn mặt sáng vầng trăng.
Cuối thu sương móc mang hơi lạnh,
Trung Quốc đường bằng dấu cũ còn.
Trạm gác trên đê nghiêm pháo nổ,
Sơn khê thôn xóm ánh đèn chong.
Mãi đi lòng muốn về trĩu nặng,
Đi thêm một ải, nỗi mừng tăng.

NGUYỆT TỊCH QUÁ VŨ THẮNG QUAN
Chu Dự phân cương hoành dã ngạn,
Yết thiềm tứ diếu nguyệt sơ thăng.
Thâm thu sương lộ đa hàn khí,
Trung Quốc giao nguyên hữu cựu trưng.
Đường tấn thú nghiêm tần phát pháo,
Sơn khê thôn quýnh  thiểu trương đăng.
Tham trình tối thị qui tâm trọng,
Xuất nhất tằng quan hỉ nhất tòng.

Trên đường trở về đến Vũ Xương,   sứđoàn lại lên thăm Hoàng Hạc Lâu. Lầu ở thành Vũ Xương, nhìn xuống sông Hán. Truyền thuyết Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên nên thường cưỡi hạc vàng đến chơi đó. Nay tầng thứ nhất có thờ tượng Phí, tầng thứ hai thờ tượng Lã tiên. Tương truyền Lã Đồng Tân hiệu là Thuần Dương người đời Đường gặp loạn Hoàng Sào, đem gia quyến đến núi Chung Nam ở và tu tiên đắc đạo. Bên cạnh có thờ tượng Lư Sinh, phía sau cóđình Táo Tiên, rễ táo vẫn còn giống như rễ trầm hương. Cách bờ là bến lớn sông Hán, người tụ tập đông đúc, hàng hóa chất đầy. Núi Qui, gác Tình Xuyên, bãi Anh Vũ thật là những cảnh đẹp trong trời đất. Người ta vẽ nhiều cuốn tranh Lầu Hoàng Hạc để bán cho khách. Sứ bộ ta từ nhà công quán ở Hán Dương bơi ngang thuyền đến. Buổi chiều lên gác cao, bồi hgồi nhìn bốn phía,, lúc đó quan Hàn Lâm họĐoàn (Đoàn Nguyễn Tuấn), đã làm ba bài thơ trước, tôi mượn một bài có nhuận sắc thêm, dựa vào bài bút đề trên vách lầu của ông Đoàn, tôi cũng ghi lại bài thơ.

Buộc neo vào mỏm đá dưới khe, lên thăm cảnh tiên. Mái lầu lên cao trăm thước đứng trên đầu. Hạc vàng mây trắng, lời thơ tuyệt trần. Sóng biếc cây hồng cảnh thu trong trẻo. Thị thành hoa lệ tranh vẽ chẳng giống. Khói nước mênh mông lòng khách thêm sầu. Cảnh thật đầy trước mặt ngâm vẫn chưa xong. Mượn đè tài tạm ghi lại chuyến chơi lầu.

LÊN CHƠI HOÀNG HẠC LÂU
Mỏm đá buộc neo thăm cảnh lầu,
Mái lầu trăm nóc đứng trên đầu.
Hạc vàng mây trắng lời thơ tuyệt,
Sóng biếc cây hồng xanh ngát thu.
Hoa lệ thị thành tranh chẳng giống,
Mênh mông khói nước khách thêm sầu.
Cảnh đầy trước mắt ngâm chưaphỉ.
Đề tạm lại ghi chuyến viếng lầu.

DU HOÀNG HẠC LÂU
Khê ki duy lãm phỏng tiên du,
Bách xích phi manh nhiếp thượng đầu.
Hoàng Hạc bạch vân nga tuyệt diệu,
Bích ba hồng thụ điếu thanh thu.
Thị thành hoa lệ đồ phi tiếu,
Yên thủy thương mang khách diệc sầu.
Chân cảnh mãn tiền ngâm vị cánh,
Tá đề liêu ký thử đăng lâu.
Trước kia khi đếnlầu Hoàng Hạc có làm thơ gửi cho quan Binh Bộ Ngô Thì Nhậm nay trở về lại lên chơi lầu, bèn họa vần bài trước gửi tặng.

LẠI CHƠI HOÀNG HẠC LÂU
Sông lạnh cỏ thơm vẫn lối này.
Mừng như mọc cánh trở về đây.
Ánh thu lặng chiếu ba tầng gác,
Lòng nhớ quê theo cánh nhạn bay.
Xong việc báo tin nhanh ngựa trạm,
Đường sứ xa xôi thuyền khách đầy.
Nhớ lúc Nam Quan cầm tay hẹn,
Lại nhìn đài núi  bóng trăng say.

TÁI DU HOÀNG HẠC LÂU
Phương thảo Tình Xuyên cựu khứ trình,
Qui biền hỉ tự vũ hàn sinh.
Thu quang tỉnh chiếu lâu tam điệp,
Hương tứ mang tùy nhạn nhất thanh.
Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn,
Chu tư lộ viễn khách chu hành.
Nam quan bả ác tương kỳ  cứu,
Thời phán sơn đài nguyệt nhất minh.

Từ Yên Kinh đi ba nghìn dặm đến Hán Dương, lưu lại mấy hôm. Tổng đốc họ Phúc từ biệt về tỉnh thành Quảng Đông. Tuần phủ Quảng Tây là Trần Dụng Phu, Bố chánh là Thang Hùng Nghiệp cùng quan văn, võ chức vẫn đi theo sứ bộ ta để lo liệu thuyền bè. Ngày 22 tháng 9 nhổ neo, qua bảy ngày đêm thì đến Hồ Động Đình.

Đường trạm qua ba nghìn dặm bỗng rời cương ngựa. Trên sông Hán Dương khách về dương cánh buồm xa. Mây quanh lầu Hạc luôn luôn ngoái trông. Eo sông huyện Ngư bỗng say ngà ngà. Thuyền nhổ neo từ Hán Khẩu, đêm đậu lại bến huyện thành Gia Ngư, hóng mát và rót rượu uống tạm. Mênh mông khói sóng sức gió mạnh mẽ. Lô nhôđình tạánhtrăng bao la. Thuyền sứ đi qua các phủ thành, quan sở dựng thủy đình bên sông, bố trí cả nhạc cụ và yến tiệc. Mỗi đêm khi đi qua các bến sông, thì ở đó thắp đèn đuốc sáng rực, ánh sáng rọi lên tận trăng sao. Tính đường lại thấy gần đến cửa hồ, Nước mùa thu cùng bầu trời mênh mông hòa lẫn màu lam.

ĐI THUYỀN SÔNG HÁN
Đường ba nghìn dậm khách rời cương,
Giương cánh buồm xa sông Hán Dương.
Lầu Hạc hoài trông mây trắng mộng,
Huyện Ngư sông lượn rượu say hương.
Mênh mông khói sóng thuyền căng gió,
Đình tạ lô nhô trăng mênh mông.
Gần đến  cửa hồ đường  đã  thấy,
Trời thu mây nước ngát xanh trong.

HÁN THỦY CHU TRÌNH
Nhật dịch tam thiên xạ giải tham,
Hán Dương qui khách quải chinh phàm.
Hạc lâu vân tể vân hồi phản,
Ngư huyện giang loan ngẫu bán hàm.
Hạo điểu yên ba phong lực kính,
Sâm si đình tạ nguyệt quang hàm.
Án trình hựu giác hồ môn cận,
Thu thủy trường thiên hỗn uất lam.

Lầu thành Nhạc Dương trông xuống Hồ Động Đình. Trên gác thờ Lã Tiên (Lã Đồng Tân người đời Đường). Ở tấm bình phong có khắc bài ký của Phạm Văn Chính tức Phạm Trọng Yêm, danh nhân đời Tống. Từ xa trông thấy trời nước một màu. Hai ngọn núi Quân, Biển thấp thoáng trong sóng.

Gác cao đầu thành trải trong nắng sớm. Phóng mắt nhìn ánh hồ nước liền mây. Tục truyền Lã Tiên đã ba lần say rượu. Mừng được xem Phạm lão viết một bài ký. Sóng ôm ngọn núi trơ trọi nổi lên như con ốc xanh. Gióđưa cánh buồm phất phới, chập chờn nhưđàn bướm gấm. Gửi trong khoảng trời đất bao la mênh mông. Bầy chim âu đùa giỡn trên bãi lan, bờ chỉ.

LÊN LẦU NHẠC DƯƠNG NGẮM CẢNH BUỔI SỚM
Lầu gác đầu thành trong nắng mai,
Ánh hồ phóng mắt nước liền mây.
Tục truyền Tiên Lã say ba bận,
Mừng thấy Phạm Ông phú một bài.
Ngọn núi xanh trơ như ốc nổi,
Gió buồm gấm phất bướm vờn say.
Gửi trong trời đất bao la ấy.
Cỏ chỉ bờ lan âu giỡn bay.

NHẠC DƯƠNG LÂU HIỂU VỌNG.
Thành đầu cao các quải triêu huân,
Cực mục hồ quang tiếp thủy vân.
Truyền đạo Lã Tiên tam độ túy,
Hỉ  khan Phạm Lão nhất thiên văn.
Ba hàm cô dữ thanh loa hiện.
Phong tống phi phàm cẩm điệp vân.
Ký dữ càn khôn không khát tế,
Đình lan ngạn chỉ hiệp âu quần.

Giờ Thìn(7-9g) thuyền nhổ neo từ Nhạc Dương, gió bấc chuyển mạnh, sóng hồ nổi lên cuồn cuộn, thuyên chỡ hành lý và thuyền  của quan Tư Mã (Ngô Văn Sở) đều bị đắm, riêng thuyền của ta bình an đi trước, đến giờ Mùi (1-3g)vượt qua hồ tới bến Tương Âm bèn mua rượu uống cho vui.

“Cao giọng ngâm bay qua hồ Động Đình.” Câu thơ Lã Đồng Tân. Mây nước mênh mông chợt không chợt có. Sóng cả ngút trời gió rất mạnh. Buồm nhẹ đến bờ bóng vừa xế. Am núi thấp thoáng tiếng chuông xa xa. Vùng hồ lai láng, bóng nhạn lẽ loi tung bay. Chớp mắt đãđi qua ba trăm dặm khói sóng, Bên ngoài thành Tương Âm mua rượu mới cất uống mừng. Sách thơ văn Ngô Thì Nhậm cũng có chép bài này do lầm lẫn. Ngô Văn Sở không có trong sứđoàn Ngô Thì Nhậm báo tang vua Quang Trung và thụ phong vua Cảnh Thịnh năm 1792.

CÁNH BUỒM QUA HỒĐỘNG ĐÌNH
Cao giọng ngâm bay qua Động Đình,
Mây nước mênh mông chợt có không.
Sóng cả ngút trời cơn gió mạnh,
Nhẹ buồm bờ đến nắng phai hồng.
Núi am thấp thoáng chuông xa vọng.
Lai láng mặt hồ, nhạn lẽ  tung.
Chớp mắt đi ba trăm dặm sóng.
Tương Âm thành ngoại rượu say mừng.

PHONG PHÀM QUÁ HỒĐỘNG ĐÌNH
“Lãng ngâm phi quá Động Đình Hồ “.
Vân thủy thươngmang xạ hữu vô.
Cự lãng mạn thiên phong tối kiện,
Kinh phàm đề ngạn nhật tài bô.
Sơn am ẩn ước chung thanh viễn,
Trạch quốc uông hàm nhạn ảnh cô.
Chuyển thuấn yên ba tam bách lý,
Tương âm thành ngoại nhưỡngtân cô.

Trường Sa là tỉnh thành Hồ Nam, nhìn xuống sông Tương, phía tây thành là Cẩm phường (phường Gấm), có di chỉ nhà Giả Phó. Lầu Cùng Cực cao vài tầng ở bãi nổi giữa sông. Núi Nhạc Lộc ở bên trái sông, trên núi có di tích thư viện thời Nam Tống.

Giả Phó tức Giả Nghị, là người hiền tài thời Hán. Nghị được Văn Đế trọng dụng, sau bị bọn Chu Bột, Quán Anh ghen ghét dèm pha và bị biếm đi làm chức Thái Phó ở Trường Sa, người đời gọi là Giả Phó. Hồ Nam ở  phía Nam nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc nên gọi là Nam Sở Trường Sa là nơi Giả Nghị làm việc có phong cảnh đẹp Nam Sở. Giả Nghị là bậc sư phó của nhà vua mà phải đưa đến quận Trường Sa, một nơi nhàn tản, là việc khổ tâm cho Giả Nghị.

Đầy thành hoa lệ nhìn xuống cửa sông. Cạnh lầu Cùng Cực là núi Nhạc Lộc. Khu vực nổi tiếng của Nam Sơ, đáng phóng măt nhìn. Thái Phó có tài phò vua, khổ tâm nơi nhàn tản. Khó nói phận  vua tôi với Giáng Hầu là Chu Bột và Quán Anh, hai người còn lại được hưởng công sau khi Hán Cao Tổ diệt các công thần hàng đầu như Hàn Tín. Nhìn suông khoảng trăng nước Hồ Động Đình và sông Tương. Cõi phiên trấn để mãi mối hận người anh tuấn. Di chỉ nơi  Tây Phường, nhà Giả Nghị rêuphong phủ tràn lan..

QUA TRƯỜNG SA NHỚ GIẢ THÁI PHÓ
Phố thành hoa lệ cửa bên sông,
Cùng cực lầu bên Nhạc Lộc Sơn.
Nam Sở tiếng danh nơi thắng cảnh,
Phò vua Thái Phó khổ tâm nhìn.
Vua tôi Gián, Quán làm sao nói.
Nhìn xuống Hồ Tương trăng nước trong.
Để hận cõi ngoài người tuấn tú,
Phường Tây nơi cũ phủ rêu phong.

THỨ TRƯỜNG SA GiẢ THÁI PHÓ
Mãn thành hoa diệm hám giang quan,
Cùng cực lâu biên Nhạc Lộc San.
Nam Sở danh khu nghi túng lãm,
Hậu nguyên tài phó khổ đầu nhàn.
Nam ngôn Giáng, Quán quân thần phận,
Hư đối Hồ Tương thủy nguyệt gian,
Phiên để trường lưu anh tuấn hận,
Tây phường di chỉ tích đài ban.

Miếu Khuất Nguyên, Tam LưĐại Phu bên bờ sông Mịch La. Phóng mắt nhìn rừng trúc thanh u bên bờ nước biếc. Đọc Ly Tao chẳng ai không cảm tiếc thương tài. Phẩm chất trong sạch, Khuất Nguyên thường lấy hoa lan trang sức. Phẩn uất triền miên đành ôm đá tự trầm mình. Sông Tương sóng dữ nghìn xưa hờn giận. Cửa Sính lối hoang, chín chương ai oán. Sính là kinh đô nước Sở, các vị tiên vương đều đóng đôởđó, đến đời Sở Hoài Vương phải dời đô đến nơi khác. Khuất Nguyên có viết chương Ai Sính (thương Sính đô) lời thơ cực kỳđau thương. Hãy nhớ chổ vừa đi vừa ngâm ‘khương tá ‘giọng ngâm thơ  bằng tiếng nước Sở của Khuất Nguyên. Mênh mông cồn cát cuốn lên bụi chiều.

VỌNG MIẾU TAM LƯ ĐẠI PHU
Bến nước ngùi trông rừng trúc xanh,
Ly Tao ai đọc cũng thương tình.
Phẩm trong sạch lấy lan trang sức,
Phẩn uất đành ôm đá tự trầm.
Sóng dữ sông Tương nghìn thuở hận,
Lối hoang cửa Sính chín dương hồn.
Ngâm Khương Tá nhớ nơi đây nhỉ,
Cồn cát mênh mông cuốn bụi hồng.

VỌNG TAM LƯ ĐẠI PHU MIẾU
Cực mục u hoàng phủ bích nhai,
Độc tao trù bất giải lân tài.
Tu năng kiểu khiết lan vi bội.
Cô phẩn vu miên thạch khả hoài.
Tương thủy thệ ba thiên cổ hận.
Sinh môn tàng kính cửu chương ai.
Thỉ tư khương tá hành ngâm xứ,
Diếu diếu sa đình ủng vãn mai.

Sông Tương phát nguyên từ núi Hải Dương thuộc huyện Hưng Yên, chảy qua Vĩnh Châu hợp với sông Tiêu. Từ Tương Nguyên đến Hành Châu là Thượng Tương, Tương Đàm là Trung Tương, Tương Âm là Hạ Tương, gọi là Tam Tương. Thượng Tương sông nông, nước trong, phong cảnh hai bên bờ hoa lệ. Tục truyền rừng trúc ở gần đỏ máu lốm đốm vì hai bà  Tương phi khóc chồng là vua Thuấn. Bên phải sông gần núi Hồi Nhạn. Nguyên Kết người nhà Đường làm thứ sử  Đạo Châu, yêu thích cảnh sơn thủy Kỳ Dương, làm nhà ở ngay bên bờ sông và đạt tên, Ngô đình, Ngô đài, Ngô khê khoét đá làm vò đựng rượu., nay cái vò đó hãy còn, vùng đất đó có tên gọi Tam Ngô. Trên núi Nhật Sơn có tảng đá màu đen bóng có thể soi gương được nên gọi là gương đá. Nguyên Kết soạn bài “Đại Đường trung hưng tụng “ Nhan Châu Khanh viết lại rồi đem khắc vào gương đá người đời gọi là  “Nhị tuyệt “. Văn Nguyên Kết tuyệt hay, chữ Chân Khanh tuyệt đẹp.

Nước sông trong như pha lê một màu  hợp với dòng Tiêu Tương. Cảnh sông gợn sóng bên nước chạy dài. Kế bờ sông trúc lóm đóm giọt lệ cũ. Ngang dòng thác nhạn giăng hàng mang hạt sương lạnh. Tên Tam Ngô cũng lưu truyền mãi với cái vò bằng đá chứa rượu. Văn nhị tuyệt nổi trong ánh gương đen. Dòng sông man mác  là tứ thơ xưa nay. Tiếng thác trên dưới gầm rít ở quảng đê cong.

THƯỢNG TƯƠNG NGẪU CHÍ
Pha lê một sắc hợp Tiêu Tương,
Cảnh bến theo dòng sóng nước sông.
Trúc đóm bên bờ ngâm lệ cũ,
Ngang bờ thác lạnh nhạn giăng hàng.
Tam Ngô truyền mãi cùng vò rượu,
Nhị tuyệt văn chương đen ánh gương.
Man mác tứ thơ  kim cổ nhớ,
Thét gầm tiếng thác quảng đê cong.

THƯỢNG TƯƠNG NGẪU CHÍ
Pha lê nhất sắc hợp Tiêu Tương,
Giang cảnh thanh y liệt tấn trường.
Giáp ngạn trúc ban hàm túc lệ,
Hoành than nhạn trận đới hàn sương.
Tam ngô danh dữ oa tôn thọ,
Nhị tuyệt văn phù hắc kính quang.
Lưu thủy du du kim cổ tứ,
Thoan thanh thượng hạ hống hồi đường.

Đêm đã khuya, qua ghềnh gặp trở ngại không đi được, tạm đậu thuyền trước cổng sông, bâng khuâng chẳng sao ngủ được, sáng sớm dậy đi đến thành Toàn Châu.

Ngoài thành Toàn Châu vài dậm có chùa Tương Sơn, thờ Phật Vô Lượng (Phật A Di Đà), vốn là đệ nhất trong rừng thiền (ngôi chùa lớn nhất Trung Quốc) sứ thần nước ta thường đến thăm cảnh, và đề vịnh thơ. Khi tôi quay về phải vội đi, nên không kịp lên thăm chùa.

Khói mù trên sông vắng buộc con thuyền côi. Núi non xa gần hơi lạnh xông lên. Tiếng sóng vỗ trên ghềnh bờ sông, khua vào nửa gối.. Giọt móc xuyên vào cửa sổ thấm lạnh áo cừu. Mõ chòi canhlàm kinh rợn giấc mộng canh ba. Trạm lữ quán khách càng thêm mối sầu tháng hai. Nghe nói núi Tương Sơn thờ Phật Vô Lượng. Roi ngựa đường xa, ước sao được lên thăm cảnh thiền.

ĐÊM ĐẬU THUYỀN GỀNH SÔNG TƯƠNG
Đậu thuyền sông vắng khói lên mù,
Non núi gần xa lạnh khí phù.
Sóng vỗ ghềnh sông khua nửa gối,
Nước xuyên cửa thấm áo lông cừu.
Canh ba tiếng mỏ kinh cơn mộng,
Tháng hai trạm lữ khách thêm sầu.
Nghe nói Tương Sơn Vô Lượng Phật,
Ước sao dừng ngựa cảnh thiền du.

TƯƠNG THAN DẠ BẠC
Không gian yên vụ hệ cô chu,
Viễn cận phong loan lãnh khí phù.
Phách ngạn than thanh xao bán chẩm,
Xuyên song lộ trích thấu trùng cừu.
Thú điêu kinh đoạn tam canh mộng,
Lữ dịch thiêm đa nhị nguyệt sầu.
Văn thuyết Tương Sơn Vô Lượng Phật,
Chinh tiên na đắc phỏng thiền du.

Trên đường thủy ở Quế Lâm (thủ phủ tỉnh Quảng Tây) viết gửi Quan Binh Bộ họ Ngô, đựa theo vần đềở Lầu Hoàng Hạc trước kia..

Lĩnh Nam trời sáng lại lên đường trở về. Gió rung làn sóng thông, nổi lên hai bên đường. Mây lững lơ nơi quan ải, nhiều lần đi vào chiêm bao. Nước chảy xiết chỗ suối ghềnh, vang thành tiếng. Nỗi lòng xa cách tưởng như là ba thu. Kinh Thi: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề. Một ngày chằng thấy mặt nhau, tưởng làđã  cách xa nào ba thu. Cốt cách  dại ngây thế mà vẫn đi được chặn đường muôn dặm. Ngày xuân gặp gỡ mùa xuân mai vàng nơi cố quốc. Hoa với đáở Nhị Thanh. Lạng Sơn hiện ra rõ rệt.

ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG QUẾ LÂM
Lĩnh Nam trời sáng lại lên đường,
Gió lộng hai bờ rung sóng thông.
Quan ải mây trôi vào mộng nhớ,
Suối ghềnh chảy xiếc tiếng reo lồng.
Nỗi lòng xa cách ba thu tưởng,
Cốt cách dại ngây vạn dặm trường,
Gặp gỡ mai xuân nơi cố quốc,
Nhị Thanh hoa đá hiện ra dần.

QUẾ LÂM GIANG TRÌNH
Lĩnh Nam thiên  hiếu sưởng qui trình,
Phong hám tùng đào giáp đạo sinh.
Quan tải nhàn vân tần nhập mộng,
Kê khan cấp thủy hựu thành thanh.
Khuê hoài cầu hưởng tam thu tưởng.
Si cốt hoàn kham vạn lý hành.
Cố quốc mai xuân hoan ngộ nhật.
Nhị Thanh hoa thạch tối phân minh.

Nước sông từ Quế Sơn  đổ về, khe thác quanh co. Núi từ Lĩnh Nam chạy dài xuống phía lòng sông, vây quanh lấy bờ sông. thổ dân đặt nhiều cối giã bên khe. Nước chảy, cối tự động giã không cần ngfười. Nơi đây vườn ruộng xơ xác, đồng nội nhiều bụi rậm. Từ Quế Lâm về Nam, phụ nữ mặc quần áo giống phụ nữ vùng Lạng Sơn, nước ta không bó chân. Họ thường ra chợ mua bán hàng., ngồi câu bên bờ sông. Đi lại bên khóm rau tần, rau liễu cảm thấy hứng thú.

Suối khe mấy khúc xanh biếc quanh co. Dòng sông xa xa từ núi Quế đến. Cối gạo ngoài đồng vắng luôn luôn vận động. Ruộng núi hoa lợi thấp phân nửa bỏ hoang. Áo trắng khăn vải ra chợ lúc sáng sớm trong  sương lạnh. Áo tơi nón lá thành xóm ở bên dòng sông cong. Cờ trước gió rung rinh con ngựa gỗđi như bay. Đâu đâu cũng dựng đài bên sông đểđón khách. Ngựa gỗ gắn trên bàn quay khi gió thổi mạnh, các con ngựa quay tít như bay. Đường đi sứđi theo sông  Tây Giang vào Quế Lâm và theo sông Thương đi đến Động Đình Hồ đến Vũ Xương. Đường sông tiện lợi khỏi chuyển vận hàng hóa, cống phẩm vì  khi qua đò, mỗi lần qua sông là mất cả ngày.

GHI CẢNH TRÔNG THẤY Ở  SÔNG LÝ
Suối khe mấy khúc biếc quanh quanh,
Dòng nước xa xa từ Quế Sơn.
Cối gạo ngoài đồng luôn tiếng giã,
Ruộng non ít lợi nửa phần hoang.
Áo khăn ra chợ trong sương lạnh,
Tơi nón thành thôn bến nước  cong.
Trước gió cờ rung bay ngựa gỗ,
Nơi nơi đón khách đài bên sông.

LY GIANG KÝ KIẾN
Khê loan kỷ chuyển bích vu hồi,
Lưu thủy dao tòng Quế lĩnh lai.
Dã chữ cơ nhàn tần vận động,
Sơn điền lợi sắc bán hoang lai.
Cảo ky xuất thị hàn sơn hiểu,
Soa lạp thành thôn khúc ngạn ôi.
Dao duệ phong tinh phi mộc mã,
Nghinh tân xứ xứ thốc giang đài.
Trước đây đến Ngũ Hiểm dòng nước lớn cuồn cuộn. Vững thả một mái chèo xuống chổ nước xiết. Nay về Ngũ Hiểm nước muàđông cạn. Chìa ngang nửa sông là những bờđá lạnh. Tiếng sóng vỗ bờào ạt gấp vội. Tay sào vượt sóng ngược dòng khó khăn. Vượt qua ghềnh Long, Hổ quanh co thuận lợi. Người trải muôn trùng nguy hiểm nay đến ghềnh này !

NGƯỢC GHỀNH NGŨ HIỂM
Khi đi Ngũ Hiểm nước cuồn trôi,
Vững mái chèo lan nước xiết bồi,
Ngũ Hiểm nay về đông cạn nước,
Chìa ngang đá lạnh nửa sông dài.
Vỗ bờ tiếng sóng ào ào gấp,
Vượt sóng tay sào ngược nước bơi.
Long Hổ ghềnh qua quanh thuận lợi,
Đến bờ nguy hiểm trải muôn nơi.

TỔ NGŨ HIỂM THAN
Tích lai Ngũ Hiểm hồng lưu dũng,
Ổn phiếm khinh nhiêu há tấn than.
Ngũ Hiểm kinh hồi đông thủy hạc,
Bán gian hành xuất thạch căn hàn.
Lãng thanh phách ngan bôn xung cách,
Cao thủ lăng ba dẫn tố nan.
Long Hổ oanh hồi bằng lợi thiệp,
Nhân khinh vạn hiểm đảo tư than.

 Trên đường Lệ Giang, nhớ quê hương Phan Huy Ích viết:  Mây bồng bay buổi sớm dựa vào sườn núi xanh; Lối đi trên núi khói dày đặc phủ rêu biếc. Tưởng tượng núi non quê hương ngày càng đến gần. Thấp thoáng đêm thanh chiêm bao đã ra về trước. Đoạn đường cuối trong cảnh gió bụi, áo bào xanh đã rách. Tình xa cách cây tùng khóm trúc, giục giã tóc chóng bạc. Tùng cúc chỉ vườn cũ nơi quê nhà do câu Tùng cúc do tôn (cây tùng cây cúc vẫn còn) bài Quí khứ lai từ của Đào Tiềm. Trân trọng báo tin xe sứ thần về phương Nam tốt đẹp. Tính đến nay ở nhàđang mong trở về.

TRÊN ĐƯỜNG Lệ GIANG NHỚ QUÊ HƯƠNG
Sáng sớm mây bồng dựa núi xanh,
Đường đi đá núi phủ rêu phong.
Quê hương tưởng tượng như đà đến,
Giấc mộng đêm đêm quê đến gần.
Gió bụi cuối đường xanh áo rách,
Tình xa tùng cúc bạc đầu sương.
Báo tin xe sứ về Nam tốt,
Cả nhà mong đợi buổi hồi hương.

Lệ GIANG ĐẠO TRUNG ỨC GIA HƯƠNG
Bồng phi vân hiểu ỷ thiên nhai,
Thạch kính yên thâm tỏa lục đài.
Tưởng tượng cô sơn hành tiệm cận,
Y hi thanh dạ mộng tiên hồi.
Phong trần mạt lộ thanh bào tệ,
Tùng cúc ly tình bạch phát thôi.
Trân trọng nam biền tiêu tức hảo,
Kim kê môn vũ vọng qui lai.

Đến Nam Ninh có một người lái đò đưa bức tranh ra xin đề.  Quan Đế tức Quan Vân Trường, em kết nghĩa, và bề tôi của Lưu Bị thời Tam Quốc. Nhà Hán suy yếu quyền hành bị các gian thần hết Đổng Trác đến Tào Thào năm giữ, vua hèn yếu chỉ còn hư vị, khắp nơi các thổ hào nổi lên, Lưu Bị là dòng dõi nhà Hán cũng nổi dậy định khôi phục cơ nghiệp nhà Hán ở đất Ba Thục (Tứ Xuyên) nên được gọi là nhà Thục Hán. Trung Quốc chia ba : Tào Tháo nước Ngụy ở phía Bắc, Tôn Quyền nước Ngô ở Giang Đông.

Dòng dõi đế vương hưng thịnh , bậc thiên thần, giáng sinh, cơ đồ vùng vẫy một thanh long đao. Rỡ ràng danh vang, nghĩa lớn, chỉ muốn gầy dựng Thục Hán diệt Tôn, Tào. Nghìn năm tô vẽ với màu xanh đỏ, chỉ được phần mày râu là giống; còn tinh thần anh linh lừng lẫy thì muôn đời vô tận; khắp trời biển đều cung kính, uy nghi tưởng vẫn lẫm liệt sáng tỏ trong đám khói hương.

ĐỀ BỨC TƯỢNG QUAN ĐẾ.
Dòng vua hưng thịnh,
Thiên thần giáng sinh.
Cơ đồ vùng vẫy một thanh đao,
Rạng rỡ danh vang nghĩa khí,
Muốn dựng Thục Hán diệt Tôn, Tào.
Nghìn năm tô vẽ màu xanh đỏ,
Chỉ được mày râu là giống hao.
Tinh thần vùng vẫy muôn đời vô tận,
Khắp biển trời đều đồng kính,
Lẫm liệt uy ngh trong khói hương.

ĐỀ QUAN ĐẾ TƯỢNG
Đế trụ đương hưng, thiên thần đản giáng, đỉnh đồ huy xích nhất đao.
Hách hách anh thanh nghĩa khái, trực dục xương Thục Hán nghi điễn Tôn Tào.
Thiên tải hạ đan thanh miêu hội, nãi kỳ tu mi chính tự;
Nhược phù linh tinh dương trạc, chung cổ vô cực;
phả hoàn danh nghi đồng kính, nghiễm nhiên chiêu cách vu huân cao.

Đường trên sông Sùng Thiện.  Núi như chiếc bình phong chắn ngang, sông  chảy êm như trải lụa. Cánh buồm đi xa uyển chuyển lướt qua cửa động. Tổ chim xinh xinh kêu trên đá xanh. Thuyền chài lênh đênh ngư phủ câu trên  sóng nước biếc. Vùng phía Nam núi Ngũ Lĩnh tuyết tan, khí lạnh đã bớt. Đất Nhật Nam gần gủi có nhiều thổ âm. Lòng muốn về lại gặp thời tiết cuối năm. Buồn dựa vào con thuyền đơn chiếc, nghe tiếng hát đò đưa.

ĐƯỜNG SÔNG SÙNG THIệN
Núi chắn bình phong sông lụa là,
Cánh buồn uyển chuyển động trung qua,
Tổ chim ríu rít xanh trên đá,
Ngư phủ thuyền trôi vang tiếng ca.
Lĩnh ngoại tuyết tan hàn khí dứt,
Nhật Nam gần gủi thổ âm đa,
Lòng muốn trở về năm sắp hết,
Buồm thuyền đơn chiếc tiếng đò đưa.

SÙNG THIệN GIANG TRÌNH
Sơn tháp bình vi thủy triển la,
Chinh phàm uyển chuyển động trung qua.
Cầm sào hiền hoán đề thanh bạch,
Ngư đỉnh phiêu dương điếu bích ba.
Lĩnh ngoại tuyết tiêu hàn khí thiểu,
Nhật Nam địa cận thổ âm đa.
Qui tâm cánh trị niên quang mộ,
Muộn ý cô bồng thỉnh trạo ca.

Ngày 29 tháng 11 đến chổđóng quân, cởi y phục sứ thần, mặc y phục nước nhà, từ biệt các quan hộ tống. Sáng hôm sau, tới Ải Nam Quan gặp người bà con là Quan Binh Bộ (Ngô Thì Nhậm) hỏi thăm và biết được tin nhà bình yên, vui mừng liền làm bài thơ này.

Trước đây cầm cờđi xa, ra khỏi ải ngọc, Tin hoa maiở núi cũ, mừng vui nay khỏe mạnh trở về. Việc bang giao trọn vẹn tráp đầy giấy tờ. Phúc nhà tin truyền đến, mặt nở tươi cười. Chiêm bao thấy nhạc quân thiều, nhạc  mừng thái bình trong cung đình, chiêm ngưỡng đã gần. Hương thơm nhẹ nhàng từ  thân mìnhđã cởi áo mũ cân đai, bước đi thảnh thơi. Nhìn mây khói phương Nam thêm thôi thúc niềm mong muốn trở về. Trước đài Chiêu Đức là nơi thăm hỏi tin tức.
TRÊN ĐƯỜNG VỀ MỞ CỬA ẢI
Ngày trước cầm cờ qua ải ngọc,
Nay mừng khỏe mạnh được tin mai.
Bang giao trọn vẹn thơ đầy tráp,
Gia phúc hoài mong nở mặt cười.
Mộng nhạc quân thiều chiêm ngưỡng đến,
Hương thơm tỏa vọng bước chân vui.
Mây khói phương Nam thôi thúc nhớ,
Trước đài Chiêu Đức hỏi thăm lời.

HỒI TRÌNH KHẢI QUAN
Tạc ủng chinh y xuất ngọc quan,
Cô sơn mai tín hỉ chinh hoàn.
Bang giao hoàn cán danh tiên kiếp,
Gia khánh truyền âm triển tiếu nhan.
Mộng nhập quân thiều chiêm ngưỡng cận,
Hương sinh thân bội bộ xu nhan.
Vân yên nam vọng thôi qui hứng,
Chiêu Đức đài tiên vấn tấn gian.

Vườn xưa tùng cúc vẫn xanh rườm rà, Người mang áo bào pha sương từ sa mạc phương Bắc mới về. Tiếng hài hòa trong phòng the cùng gảy cung đàn sắt. Kinh Thi : Thế tư hảo hợp như cố sắt cầm (Vợ con hòa hợp như gảy đàn sắt đàn cầm).  Lũ trẻ thơ bên thềm vui mừng níu áo cha. Kiếp phù sinh sao được như hươu nai thường tụ họp. Kẻ làm quan vụng về hệt như chim mỏi mệt bay. Vấp ngã bởi có tính lười cũng chẳng hại gì. Rượu say mời ánh trăng soi xuống bên cửa liếp.

ĐI SỨ TRỞ VỀ ĐỀ THƠ Ở QUÊ NHÀ
Vườn xưa tùng cúc vẫn xanh tươi,
Áo sương Bắc sứ khách về rồi.
Phòng khuê cùng gãy cung đàn sắt,
Con trẻ đầu thềm núi áo vui.
Kiếp sống chẳng như nai tụ họp,
Làm quan mỏi mệt chim lưng trời,
Vấp ngã bởi lười thường chẳng hại,
Rượu say cửa liếp mời trăng soi.

SỨ HỒI ĐỀ SƠN GIA
Cố viên tùng cúc thúy  y y
Sóc mạc sương bào khách thủy quy.
Khê khổn hòa thanh tề cổ sắt,
Đình giai trĩ khí lạc khiên y .
Phù sinh na đắc mi thường tụ,
Chuyết hoạn hồn như điểu quyện phi.
Điên việt bất phương thành dưỡng lãn,
Túy yêu sơn nguyệt ánh sài phi.

Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích  là tác phẩm thơ chữ Hán, hàng đầu trong kho tàng văn học nước ta. Hơn ngàn năm nước ta xây dựng nền văn học, giáo dục trên nền tảng chữ viết này. Kho tàng văn học chữ Hán của Việt Nam đồ sộ, nó không thuộc người Trung Quốc mà của người Việt Nam. Việc chuyển ngữ ra ngôn ngữ Việt  ngày nay là một việc làm cần thiết. Các nước Tây Phương văn hóa chữ Hy Lạp, chữ La Tinh, hay tiếng Pháp cổ họ vẫn phải chuyển ngữ ra ngôn ngữ hiện đại. Chữ Hán cổ người Trung Quốc đời nay đọc cũng phải mò mẫm, phỏng đoán, họ phải chuyển ra cách viết quan thoại đơn giản hiện đại mới  đọc được. Phủ nhận văn học chữ Hán Việt Nam là xóa bỏ cả một gia tài văn hóa to lớn của dân tộc. Việc chuyển ngữ ra ngôn ngữ hiện đại làm cho dân tộc trở nên giàu có. Là nối liền hiện đại với quá khứ văn hóa lịch sử, xác định  văn hóa nước Việt không phải chỉ hình thành từ khi có chữ quốc ngữ. Người Việt Nam ngày nay “mù chữ” trước gia tài bia đá, chuông đồng, câu đối, đình chùa, miếu, sách vở tổ tiên, di tích, di sản văn hóa Việt Nam.  Nước Nhật, Đại Hàn chương trình học họ học chữ Hán, không phải vì thế mà họ lệ thuộc Trung Quốc, không phải vì thế mà họ chậm tiến bộ. Trái lại họ khai thông giữa quá khứ và hiện tại và tương lai làm vững chắc thêm tinh thần văn hóa, sức mạnh dân tộc. Nước Việt ta từ khi cắt đứt với nền văn hóa lịch sử có tiến bộ và phát triển giàu mạnh hơn Nhật và Đại Hàn chăng ?

Cuộc đi sứ năm 1790 vua Thanh, Càn Long ăn mừng lễ thọ tám mươi. Quang Trung . Phan Huy Ích cùng Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn ba văn thần danh tiếng hộ vệ người trá hình vua Quang Trung vào mừng. Kết quả cuộc hành trình này, không những làm vững thế hòa bình giữa hai nước mà còn làm người Thanh phải phục học thuật, tài ứng đối của người Việt. Tinh Sà Kỷ Hành là một tư liệu quý báu, bằng những dẫn chứng gọn gàng, những lời thơ ngắn gọn cô động súc tích tác giả đã cho ta biết được hành trình, và những sự việc xảy ra trên đường đi sứ.

Paris ngày  4-6-2017

PHẠM TRỌNG CHÁNH. Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne
TÀI LIệU THAM KHẢO:
THƠ VĂN PHAN HUY ÍCH. Dụ Am Ngâm lục. tập I, II, III. Nxb Khoa Học Xã Hội. Hà Nội 1978.
Tinh Tuyển Văn học Việt Nam. tập 5 quyển I. Văn học thế kỷ XVIII. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Hà Nội 2004

Hoàng Xuân Hãn. Chinh Phụ Ngâm bị khảo. Minh Tân Paris 1952.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)