Tìm kiếm Blog này

TS PHẠM TRỌNG CHÁNH: PHAN HUY ÍCH (1751-1822) TINH SÀ KỶ HÀNH: KÝ SỰ TRÊN THUYỀN ĐI SỨ (VỚI VUA QUANG TRUNG GIẢ) NĂM 1790

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

Tinh Sà Kỷ Hành, là tập thơ kiệt tác hàng đầu trong kho tàng thi ca chữ Hán của Việt Nam, được vua Quang Trung khen ”thơ văn ông có khí cốt” và Ngô Thì Nhậm ca ngợi thơ văn  ông “đắc vô tà chi tư “ (có được cái nghĩ không sai trái). Phan Huy Ích viết ký sự bằng thơ, bằng nguyên dẫn, chú thích  cuộc đi sứ thú vị nhất trong lịch sử bang giao  Trung Hoa và Việt Nam là cuộc đi sứ năm 1790 thời Tây Sơn sau trận chiến thắng Đống Đa. Nhà Thanh phải tiếp rước chiêu đãi trong hơn sáu tháng một sứ đoàn đông đảo 150 người tổng cộng nhà Thanh phải tốn đến 800 000 lạng bạc, khác với sứ đoàn bình thường khoảng 30 người. Lần đầu tiên có một ông vua Việt Nam sang Trung Quốc, lại là ông vua Quang Trung giả, với sự thông đồng giữa Tổng Đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh Phúc Khang An và Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm Việt Nam  qua mắt  vua Càn Long. Sứ đoàn còn có hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, một ban hát bội Bình Định và hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi , sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc... Sau cuộc chiến, việc nối lại bang giao nhằm tránh việc trả thù  dai dẵng hao tổn xương máu, tài sản cả hai bên, và bảo đảm một hoà bình lâu dài trước một đế quốc  gấp mười lần nước ta. Vai trò các sứ thần trong việc ngoại giao trở thành vai trò hàng đầu. Trong trận tuyến hòa bình ngày xưa, sứ thần được xem là những Thi tướng trong thi trận. Nhanh nhẹn làm thơứng đối để khiến đối phương khâm phục công nhận mình là một nước văn hiến. Khi vào chầu đòi hỏi phải đứng ngang hàng với các sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản.  Gặp các công quán, quan địa phương chơi xỏ “chào mừng sứ đoàn nam di”, thì nhất định không bước qua, lập luận sắc bén buộc phải tháo gỡ. Khi họ đòi hỏi những cống phẩm quái gỡ như nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai, cống người vàng... phải lập luận có chứng cứ để bãi bỏ. Trước các thắng cảnh di tích các quan địa phương, quan triều đình Trung Quốc  giả vờ xin đề thơ đề bia đá để thử tài, trăm cặp mắt nhìn vào,  các sứ thần nước ta phải hiểu rộng lịch lãm  thi ca các thi hào Trung Quốc, phóng bút đề thơ văn hay, chữ tốt khiến họ khâm phục, để không bị cười  như “một đàn thằng ngọng đứng xem chuông “, do đó thi ca khi đi sứ không phải là chuyện bầu rượu túi thơ, thi sĩ một mình một ngựa đi ngâm vịnh thắng cảnh non sông, mà là những cuộc thi thơ đối mặt thường trực vì văn hóa, sĩ diện danh dự đất nước.

Tiếc thay, một tập thơ kiệt tác của một danh nhân nước Việt, mà con cháu ngày nay, đọc bản dịch như đọc  thơ ngoại quốc. Đau xót với nỗi khổ ấy, tôi đã dịch thơ toàn bộ những bài thơ Tinh Sà Kỷ Hành trong Dụ Am Ngâm lục. nxb KHXH 1978 để ngày nay chúng ta thưởng thức được cái hay đẹp của nhà thơ hàng đầu nước ta. Năm 2009 tôi đã du hành Trung Quốc theo hành trình con đường đi sứ để dịch thơ Nguyễn Du qua Bắc Hành Tạp Lục. Con đường này tác giả Tinh Sà Kỷ Hành cũng đã đi qua. Theo Phan Huy Ích, tập thơ 85 bài, nhưng trong bản Dụ Am Ngâm lục bản in năm 1978, chỉ có 60 bài tôi chia ra thành hai phần để tiện phổ biến trên  internet.
Cuộc chiến bại trận Đống Đa gần 300 000 quân Tôn Sĩ Nghị chạy tan tác, cầu phao sụp xác quân Thanh chết đuối  tắc nghẻn cả nước sông Hồng, làm rung động cả  Trung Quốc. Nguyễn Du lúc đó đang đi giang hồ (đi chơi trên các sông Giang Nam, Giang Bắc và 5 hồ lớn Trung Quốc), đang ở thành Tín Dương đã viết bài Tín Dương tức sự: Tây Phong biến dị hương. Ngọn gió Tây làm rung động cả đất khách.
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim tr 135. : “Vua nhà Thanh nghe tin Tôn Sĩ Nghị bại binh, nổi giận đùng đùng giáng chỉ sai quan Nội Các là Phúc Khang An ra thay Tôn Sĩ Nghị làm Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đem binh mã chín tỉnh kinh lý việc An Nam.
Phúc  Khang An đến Quảng Tây, nghe tiếng quân An Nam khí thế mạnh trong bụng đã sợ, có ý muốn cầu hòa, bèn sai người đưa thư sang nói việc lợi hại và bảo phải làm biểu để tạ tội cho yên việc binh đao.
Vua Quang Trung bèn cho người đem vàng bạc sang đút lót cho Khang An, rồi sai người cháu là Nguyễn Quang Hiển và quan là Vũ Huy Tấn đem đồ cống phẩm sang Yên Kinh, vào chầu vua Thanh và dâng biểu xin phong.
Bấy giờ quan ngoài thì có Phúc Khang An đề bạt giúp đỡ, quan  trong thì có Hòa Thân chủ hoà thuận cho giảng hòa. Vua nhà Thanh bèn sai sứ sang phong vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương và lại giáng chỉ vời quốc vương vào chầu.
Vua Quang Trung bèn chọn một người hình dung giống mình tên là Phạm Công Trị. Trá làm Quốc Vương  rồi  sai Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chấn, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn đưa sang Yên Kinh vào chầu vua Càn Long. Quan Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An và quan Tuần Phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh phải đưa An Nam Quốc Vương vào kinh.
Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long tưởng là Nguyễn Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như tình cha con một nhà, và cho dự yến với các thân vương. Đến lúc về nước vua lại sai thợ vẽ làm một bức ảnh truyền thần để ban cho ân lễ thật là hậu.”
Vai trò quan trọng nhất trong sứ đoàn, Chánh sứ là Tiến sĩ Phan Huy Ích.  Một trong ” An Nam ngũ tuyệt ” năm người văn chương hay nhất nước Nam, thuộc bốn dòng họ văn chương danh tiếng nước ta: Nguyễn Du, Nguyễn Hành họ Nguyễn Tiên Điền, Phan Huy Ích họ Phan Huy,  huyện Thạch Thất, Sơn Tây,  Nguyễn Huy Tự họ Nguyễn Trường Lưu, Hà Tĩnh và Ngô Thì Vị  họ Ngô Thì , Tả Thanh Oai , Hà Tây.
Phan Huy Ích sinh năm 1751 con Phan Huy Cẩn, người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc tỉnh Nghệ An, sau dời đến làng Thụy Khuê huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Ông Cẩn đỗ Tiến Sĩ năm 1754 được phong tước Khuê Phong hầu. Phan Huy Ích là học trò Ngô Thì Sĩ, sau làm rễ Ngô Thì Sĩ, lấy em gái Ngô Thì Nhậm.
Nổi tiếng thông minh năm 22 tuổi đỗ Giải Nguyên thi Hương trường Nghệ, năm 26 tuổi đỗ Hội Nguyên, năm 1776 ông lại đỗ khoa Ứng chế và được bổ làm Hàn Lâm thừa chỉ. Năm 1777 làm Đốc Đồng Thanh Hóa rồi về triều giữ chức Thiêm sai tri hình, rồi được lên  Ải Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh. Năm 1780 vụán Trịnh Tông giành ngôi Chúa, phe cánh bị giết. Ngô Thì Nhiệm bị ngờ là người tố cáo có lên quan đến phe cánh Đặng Thị Huệ. Đến năm 1782, chúa Trịnh Sâm chết, kiêu binh làm loạn phế Trịnh Cán đưa Trịnh Tông lên ngôi. Ngô Thì Nhậm phải lẩn trốn Phan Huy Ích cũng bị hiềm nghi không được tin dùng, ông cáo bệnh từ chức nhưng không được, ông đóng thuyền ở trên sông và chỉ vào chầu. Năm 1785, ông được bổ làm Hiến Sát  Thanh Hóa.
Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc phù Lê diệt Trịnh, rồi trở về Nam bỏ rơi Nguyễn Hữu Chỉnh. Trịnh Bồng lên làm chúa, ông được Án Đô Vương Trịnh Bồng sai đánh dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh. Phan Huy Ích không phải là người có tài cung kiếm nên bị Chỉnh bắt sống vào mùa đông 1786, may nhờ Nguyễn Kim Khuê chỗ quen biết cũ hết sức cứu gỡ nên ông được tha. Cuối năm 1787, Vũ Văn Nhậm thừa lệnh đem quân ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, ông lẩn tránh về quê ở Sài Sơn.
Tháng 4 năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ hai giết Vũ Văn Nhậm lộng quyền. Phan Huy Ích cùng một số nho sĩ như Nguyễn Nể, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Ngô Thì Nhiệm, Ninh Tốn.. được tiến cử. Họ cùng Nguyễn Huệ vào Phú Xuân, sau được phái ra Bắc Thành cùng Ngô Thì Nhậm.
Tháng 11 năm 1788 Lê Chiêu Thống theo chân Tôn Sĩ Nghị với gần 30 vạn quân xâm lược và phu binh trở về Thăng Long. Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhiệm bị trả thù, đục tên trên bia văn miếu, bị tầm nã.
Mùa xuân Kỷ Dậu, bằng cuộc hành quân thần tốc, vua Quang Trung quét sạch quân Thanh. Sau chiến thắng Phan Huy Ích lại được triệu ra cùng Ngô Thì Nhậm trông nom việc ngoại giao giao thiệp với Trung Quốc.
Năm 1790 ông nhận được chiếu thư sai đi sứ phương Bắc. Đoàn sứ bộ hẹn vào đêm mùng 9 tháng tư sẽ từ Bắc Thành lên đường, hẹn ngày 15 tháng tư,  mở cửa Ải Nam Quan. Chuyến đi quan trọng gây tình hòa hiếu giữ hai nước. Phan Huy Ích được coi là trọng thần hàng văn trong đoàn.
Khi đi sứ trở về, năm 1791 trong gia đình Phan Huy Ích xảy ra một chuyện: người em thứ năm là Hữu Trấn nổi dậy chống Tây Sơn, bị thất  bại, bị giết. Ông dâng biểu trần tình tạ tội. Vua Quang Trung phê vào tờ biểu:  “Tính người thiện ác khác nhau, cha còn chả được lòng với con, huống gì anh đối với em, việc không dính líu đến, thì còn có hiềm nghi gì.” Và cho vào kinh triều kiến. Khi vào chầu vua Quang Trung lại gọi ông tới trước mặt ân cần chỉ bảo.
Năm 1792 ông được thăng chức Thị Trung Ngự Sửở toà Nội Các. Vào những năm dưới thời Quang Trung, Phan Huy Ích được nhà vua đặc biệt quý trọng tài văn chương.
Vua tôi tương đắc chưa được bao lâu thì một tai họa giáng xuống. Vua Quang Trung mất ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) nhà vua ở ngôi được 4 năm, thọ 40 tuổi.
Sau khi vua Quang Trung mất, Quang Toản nối ngôi niên hiệu Cảnh Thịnh mới 10 tuổi, mọi việc đều do cậu làThái sư Bùi Đắc Tuyên quyết đoán. Tuyên kéo bè đảng xích mích giữ các tướng lĩnh, đại thần. Tại triều thì giết hại lẫn nhau, bên ngoài Nguyễn Ánh rình rập tiến công ra Bắc.
Thời Cảnh Thịnh, Phan Huy Ích lo việc từ hàn, trông nom công việc ngoại giao. Ông thay Quang Toản làm những bài văn hòa giải như vụ Vũ Văn Dũng, Trần Quang Diệu. Ông theo vua vào chinh phạt Nguyễn Ánh tại sông Gianh.
Tháng 5 năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân. Cuối mùa hạ 1802 Phan Huy Ích bị bắt cùng Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Thế Lịch. Từ Bắc Thành bị giải về Phú Xuân rồi lại đưa giam ở trại Tiền Quân.
Tháng 2 năm Quí Hợi 1802 ông bịđánh đòn tại Văn Miếu, sau được tha về.
Cuối năm 1803 Phan Huy Ích dời vềẩn cưở Sài Sơn, đến năm 1814 ông vào Thiên Lộc Hà Tĩnh dạy học, cho tới năm 1819 ông về làng an dưỡng.
Ngày 20 thánh 2 năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mạng năm thứ ba (1822) Phan Huy Ích qua đời thọ 73 tuổi.
Phan Huy Ích để lại một khối lượng sáng tác phong phú: Nam trình tạp vịnh, Cẩm trình kỷ hứng, Thang châu lữ hứng, Vân Sơn khiển hứng, Tinh sà kỷ hành, Cúc thu bách vịnh, Nam trình tục tập, Vân du tùy bút. Tổng cộng hàngnghìn bài thơ chữ Hán, chữ Nôm.
Cuối đời Phan Huy Ích sai con cháu thu thập rồi xếp vào một tập đặt tên Dụ An ngâm lục. Đáng tiếc bộ Dụ An Ngâm lục chỉ còn khoảng 600 bài thơ bằng phân nữa số thơông sáng tác.
Thời Lê Trịnh lúc làm quan nội các ông biên soạn Lịch Triều điển cố dâng lên chúa Trịnh. Dưới triều Quang Trung ông được cùng Ngô Thì Nhậm chuyên thảo công văn giấy tờ giao thiệp với nhà Thanh. Toàn bộ Chiếu, biểu, tấu thư trát, văn tế, câu đối văn tựa,bạt của Phan Huy Ích được tập hợp trong bộ Dụ Am Văn tập gồm 8  tập sách. Ngoài ra rải rác vùng HàĐông Sơn Tây còn có những bài văn bia của ông như bài văn bia về tướng Đặng Tiến Đông.
Phan Huy Ích còn sáng tác nhiều văn thơ Nôm. Năm 1799 công chúa Ngọc Hân qua đời ông viết 5 bài thơ quốc âm ca ngợi đức tài bà thay vua Quang Toản. Trong Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục còn chép lại trên 20 bài văn, 11 bài thơ chữ Nôm.
Ông có bài thơ nói việc ông diễn ca Chinh Phụ Ngâm Khúc và con cháu lưu giữ bản Chinh Phụ Ngâm Khúc và dịch  ra chữ quốc ngữ. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã chứng minh trong Chinh Phụ Ngâm bị khảo : bản dịch phổ biến nhất ngày nay là của Phan Huy Ích. Bản dịch ông sau bản dịch Đoàn ThịĐiểm 60 năm, ông phỏng dịch lời thơ mới hơn, cùng thời với Truyện Kiều  nên chúng ta đọc dễ hiểu.Việc thống nhất đất nước của vua Gia Long, ảnh hưởng mạnh mẽ của chữ Nôm Đàng Trong làm biến mất một số chữ Nôm Đàng Ngoài.  Bản dịch Đoàn ThịĐiểm chính xác theo văn bản, chữ thời Lê Trịnh cổ xưa hơn nên khó hiểu, người cảm tưởng không hay bằng bản phỏng dịch  của  Phan Huy Ích. Bản dịch Đoàn ThịĐiểm thường dùng chữ ‘nhé’(Kìa thăm thẳm nhé Thương thiên), giọng văn nhỏ nhẹ của phụ nữ. Theo Tốn Phong người viết tựa Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương, văn chương Hồng Hà nữ sĩ thiên vềđùa bởn. Năm 1978 bà Nguyễn Kim Hưng tìm ra Hồng Hà Phu Nhân Di Văn,  có công bố trên Tạp chí Văn Học, bài Đùa tặng người béo, trong số 28 bài thơ nôm trào phúng của Đoàn ThịĐiểm chưa đọc được. Tiếc là thời điểm đó không mang được sang Pháp nhờ Gs Hoàng Xuân Hãn đọc giùm, nên văn bản cho tới nay chưa ai đọc  được hết được các chữ nôm thời Lê Trịnh.
Các bản khắc ván chữ  nôm, chữ quốc ngữ thời Thành Thái khoảng năm 1905 sau khi Đoàn ThịĐiểm mất hơn 160, Phan Huy Ích mất hơn 100 năm của nhà in Xuân Lan do ông Nguyễn Ngọc Xuân tại Hải Phòng, hay các hiệu in tại Hà Nội. Việc khắc in nhằm mục đích kiếm tiền và trình độ người chủ trương xuất bản kém cỏi, nhiều bản in không đề tên tác giả, nhiều việc quơ quàn gán ghép cho Hồ Xuân Hương, Đoàn ThịĐiểm  không đáng tin cậy bằng lời xác định của gia đình họ Phan Huy. Thư viện Quốc Gia tại Paris còn lưu giữ rất nhiều các sách chữ Nôm, chữ quốc ngữ do các lái sách in ấn đầu thế kỷ 20, thuởấy chưa có các hiệu sách, các thương nhân phụ nữ gánh sách trên các gánh hàng rong đi bán tại các lễ hội các nơi hay nơi gần các trường học. Khác với sách do  triều đình, các quan hay các nhà nho học danh tiếng, thuê người khắc bản in ấn, chăm sóc bản in, các sách do các thương lái sách ấn hành gây nhiều sự lầm lẫn trong văn học Việt Nam. Truyện thơ Quân Trung Đối của Nguyễn Nghi,  em cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du không đề tên tác giả cũng nằm trong đống sách hổn loạn này. Quyển Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo của Gs Hoàng Xuân Hãn là một công trình nghiên cứu nghiêm túc và khoa học đúng đắn.
Đoàn ThịĐiểm với Truyền Kỳ Tân Phả, truyện Hải Khẩu Linh từ dám viết về trận chiến bại của vua Trần Duệ Tôn, nhà vua tử trận, hai trăm ngàn quân Đại Việt tan tác trong trận đánh Chiêm Thành vì không nghe lời nàng Bích Châu trong khi lịch sử chỉ chép vài dòng. Bàđã là một nhà văn nữ vĩđại. Những câu thơ bản dịch Chinh Phụ  Ngâm tưởng rằng dỡ như câu: Nửa đêm cửa tướng hịch bay ầm ầm, so với câu Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh bản Phan Huy Ích, nhưng khi xem phim Trung Quốc, Hương Cảng ngày nay tả cảnh hịch vừa truyền ra, hàng chục phu trạm cướp thẻ bài, phi ngựa đi truyền lệnh, phóng ngựa ầm ầm, ta mới phục tài tả không khí chiến tranh của Đoàn ThịĐiểm và thấy rằng Phan Huy Ích có tài văn chương và không có tài quân sự. Nếu phải định ngày xuất chinh thì cần gì nửa đêm khẩn trương truyền hịch, để sáng mai truyền cũng được có mất mát gì !.  Khuynh hướng tiếc rẻ, vì sao bản phổ biến nhất không là bản của Đoàn ThịĐiểm làm người ta mù quáng không thấy được cái hay, cái tuyệt vời của bản dịch Đoàn ThịĐiểm. Thậm chí có bài viết cho rằng Gs Hoàng Xuân Hãn là giáo sư Toán nên đoán mò, gán ghép sai lạc thiên vị.  Là một trong những người đầu tiên tốt nghiệp Ecole Polytechnique Paris, Kỹ sư Cầu Đường, Thạc sĩ Toán. Tại Pháp được trúng tuyển vào Ecole Polytechnique là trường đào tạo những nhân tài xuất chúng trong guồng máy lãnh đạo nước Pháp, làm vẻ vang cho người Việt Nam thời thuộc địa,  những người này đi vào những chuyên môn khác nhau, nơi nào họ cũng trở thành những lãnh tụ hàng đầu. Gs Hoàng Xuân Hãn sinh trong một gia đình Nho Học tại Hà Tĩnh được hấp thụ truyền thống cha ông, nên rất giỏi chữ Hán, chữ Nôm. Từ lúc còn sinh viên ông đã soạn quyển Danh từ Khoa Học làm nền tảng cho việc dịch thuật Khoa Học ra tiếng Việt. Trở về nước làm việc, được chính quyền thuộc địa cho biết không có chỗ làm cho văn bằng uy tín nhất nước Pháp, ông phải thi thêm Thạc sĩ Toán (Kỳ thi dành cho người đi dạy học tuyển rất khó), ông dạy họctại Hà Nội và cộng tác với các trí thức uy tín như Trần Trọng Kim xuất bản báo Khoa Học nhằm nâng cao dân trí.  Được mời làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật năm 1945 ông là người khai sinh ra chương trình giảng dạy bậc Trung, Tiểu Học bằng tiếng Việt được áp dụng về sau cả hai miền Nam Bắc. Các tác phẩm Lý Thường Kiệt, La Sơn Phu Tử, Chinh Phụ Ngâm bị khảo là những công trình nghiên cứu khoa học mẫu mực. Trong chiến tranh khi Gs Dương Quảng Hàm lao vào thư viện để cứu di sản sách vở cha ông bị  cháy và chết theo kho sách. Gs Hoàng Xuân Hãn vẫn đi mua từng gánh sách các gia đình đại gia đi bán làm giấy bổi, rồi đem đi một nơi xa an toàn gìn giữ gia tài di sản tổ tiên, một đời nghiên cứu gìn giữ di sản không màng danh lợi. Công lao ấy được đất nước  và các bậc trí thức kính trọng.
Phan Huy Ích  đã viết Tinh Sà Kỷ Hành, một tập thơ kể lại hành trình chuyến đi qua những thắng cảnh, những bài thơ tặng đáp với  quan lại Trung Quốc và với các bạn trong sứđoàn Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn và các bài thơ gửi Ngô Thì Nhiệm túc trực tại Lạng Sơn trong suốt thời gian đi sứ để chuyển tin về cho vua Quang Trung thật..
Còn vua Quang Trung thật, theo bài thơ Phan Huy Ích viết về Nguyễn Nể, nhà vua ngày ngày gióng ngựa quý, (giả dạng thay Phạm Công Trị) đến dinh Kim Âu  bàn bạc việc nước cùng Nguyễn Nể (anh Nguyễn Du).
Ngô Thì Nhậm đã đề tựa tập thơ Tinh Sà Kỷ Hành như sau:
“Văn chương xưa nay, được xem là “ tác gia “đã khó, được xem là  “ đại tác gia “ lại càng khó. “ Đại tác gia “ là nói những người khuôn mẫu văn chương có thể giúp đời. Có khuôn mẫu văn chương gấm vóc, có khuôn mẫu văn chương vải lụa. Nhưng trong dòng văn chương gấm vóc, cũng có người quá bay bướm, trong dòng văn chương vải lụa, cũng có người quá quê mùa. Những người đó có thể gọi là “tác gia” , không thể gọi là “đại tác gia“.
Những nhà văn có văn chương giúp đời, sáng tác không phải chỉ có một loại. Thơ, phú, ca, hành, biện luận, ký, tựa, bạt, giải thích, biền ngẫu, tản văn; chất chứa trong lòng, phát ra lời đẹp, như gấm vóc làm đẹp mắt, như vải lụa làm thích thân, đó gọi chung là nhà văn. Trong các thể loại đó, có cái làm phấn chấn lòng người, cảm phát tình người, thì không gì lớn hơn thơ. Cho nên trong thơ được riêng gọi là  “nhà thơ “.
Nước Việt ta lấy văn hiến dựng nước. Thơ phôi thai từ thời Lý, thịnh ở thời Trần, phát triển mạnh trong thời Hồng Đức nhà Lê. Một bộ Toàn Việt Thi, về cổ thể không nhường thơ các đời Hán, Tấn; về cận thể không nhường thơ các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh; tiếng vàng tiếng ngọc, thực có thể gọi là “ nước thơ “’. Tựu trung, tìm trong khuôn mẫu văn chương to lớn, đáng gọi là thi gia thì chỉ có các ông Thái Lã Đường, Bạch Vân Am. Ngoài ra thật xa vời vắng lặng !
Từ Lê Trung Hưng về sau, những nhà thơ danh tiếng xuất hiện nhiều qua các tập thơđi sứ. Hoặc thăm chốn thanh u, viếng nơi cổ tích, gặp cảnh sinh tình, xa nước nhớ quê, nhân việc tỏý, dư hương của nó có thể thắm đượm người sau. Đến như gấm vóc bay bướm, vải lụa mà không quê mùa, thì chỉ có tập Tinh sà kỷ hành. Vì nó có cái vẻđẹp của nụ cười tươi, nét mày đẹp đấy chăng ?
Tập thơ này là do ông  Thị trung ngự sử họ Phan làm trong dịp đi sứ triều hạ.. Ông đỗ Hội  nguyên, đứng đầu làng văn, nhà nổi tiếng  mấy đời tiến sĩ, khuôn mẫu văn chương được cha truyền cho. Làm văn quýở chỗđiển nhã mà hồn hậu, lấy thực tiễn làm cốt tử, chỉ hơi thêu dệt là lượt để trang sức. Làm thơ cũng thế. Băng lên hàng Trình Hạo, Chu Hy, vượt qua cửa ngõ Khuất Nguyên, Tống Ngọc, vào nhà Y Doãn, Chu Công, rời khỏi con đường Lý Bạch, Đỗ Phủ.. như gấm vóc vải lụa, chỗ nào dùng cũng hợp. Có lẽ từ Trung cổ đến nay những bậc đại gia văn chương nước ta, ít thấy người như thế.
Tôi với ông vừa có tình nghĩa đỗ đồng khoa lại là quyến thuộc, lúc nhỏ cùng chơi, lớn cùng làm quan. Tôi vốn phục văn chương ông, trong chổđiển nhã hồn hậu lại có văn vẻđẹp.. Có lúc tôi chẳng cân nhắc, tự cho thơ mình hơn, nhưng ngẫm lại thì quả không bằng. Kịp đến khi xem tập thơ này, mừng vui và khâm phục mãi không thôi. Vô luận dùng chữ đặt câu hay dùng vần, dùng cách đều vượt cõi tục vào cõi thanh. Hãy xem xưa nay, ông vua tránh đời ai bằng Triệu Úy Đà ? Ông qua đô cũ nhà Triệu có câu thơ: “Cố tri Hoàng đế hiền thiên tử, thùy cấm man di trưởng lão phu.” Vẫn biết vua hiền bậc thiên tử. Ai cấm man di trưởng lão phu. Thì có ai đã nói được như thế ? Lại xem xưa nay kẻđại trượng phu mà hay khóc, có ai bằng Bạch Cư Dị ? Khi ông qua đình Tỳ Bà có câu : “ Cửu Giang yên thủy đa thiên khách; Thiên cổ phong lưu độc đoãn đình.” Mây nước Cửu Giang nhiều khách trích; nghìn thuở phong lưu một đoản đình,  thì có ai viết được như thế ?
Lại xem trong khoảng trời đất, vật không nói cũng không im, gì bằng núi, sông ? Khi ông qua Hà Nam có câu : Hà ngũ bách niên không tỷ tiếu, sơn tam vạn tuế hốt năng ngôn.” Năm trăm năm sóng không cười được. Ba vạn niên non núi nói đâu ? (Sông Hoàng Hà  năm trăm năm một lần trong suốt  ví với nụ cười Bao Công, xửán nghiêm minh nhưng ít cười. Núi Tung Sơn, khi Hán Vũ Đế đến  thì nghe ba lần tiếng hô vạn tuế.) thì ai đã nói được như thế ? Còn đến các bài ca: “Thương gái goá như Hoa Châu khóc chồng là Kỳ Lương đến đổ thành”.  “Kẻ thạc nhân múa ở Bội.” “ Trang Chu gõ chậu làm nhịp” thì như câu : “Đồng minh nhượng nhất nhân” (Cùng bạn nhường một người) “Thanh tiêu độc hoài tàm,”(Đêm thanh riêng hổ thẹn), cái ýôn hậu khẳng khái tràn ra ngoài lời, người khác không ai nói được. Ôi, thế mới gọi là thơ, mới có thể gọi là nhà thơ, mới có thể gọi là thơđại gia. Tôi từng phụng mệnh sang sứ Yên Kinh, có tập Hoa Trình thi phú sao, nay thấy thơông, thì tập thơ của tôi không dám ra đời nữa.
Đầu mùa xuân năm Canh Thân (1800) vào triều kiến, ông đem tác phẩm bảo tôi xem và bình luận. Thật khó mà có chỗ hạ bút : vì văn chương của ông, các bạn tôn làm khuôn phép, gần đây được nhà vua biết đến, thanh giá thêm tăng. Hoàng thượng ta (vua Quang Trung)  học thực cao minh, lời văn rực rỡ. Tôi từng được gọi vào Đại Nội. Hoàng thượng bàn đến văn chương, khen thơ văn ông có khí cốt. Tôi đôi lúc thù phụng. Hoàng thượng hỏi: “Câu ấy chữấy, ý người cho là thế nào “, bởi vì Hoàng thượng khen những câu chữấy trình độđã sâu. Nội các đánh giá, cửu trùng khen ngợi đãđịnh, kẻ bình luận tầm thường như tôi, đâu dám rườm lời!
Nhưng đã ngâm đọc tập này, không thể không nói. Nhân tiếm để tự đầu sách. Trộm nghĩ: “Ba trăm thiên Kinh Thi, một lời bao trùm hết, là câu  “tư vô tà “(nghĩ không sai trái), thơông 85 bài, một lời có thể bao trùm hết,  là “đắc vô tà chi tư “ (cóđược cái nghĩkhông sai trái).
Tôi, bạn đồng khoa và quyến thuộc chức Thị trung Đại học sĩ tước Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm tự là Hy Doãn bái tựa.”
Bắt đầu từ rằm tháng tư (1790) sứ bộ ra khỏi  ải  Nam Quan, theo sông Minh Giang  đi qua Quế Lâm rồi theo sông Tương đến Động Đình Hồ, đến Hán Khẩu từđóđi đường bộ Hà Nam đến Yên Kinh giao phẩm vật cống sứ cho Bộ Lễ Trung Quốc, rồi lên Nhiệt Hà ngày 11 tháng 7  vì vua Càn Long đang nghỉ mát nơi đây.
Năm 2009 tôi cóđi Trung Quốc theo hành trình một sốđịa danh từ Quế Lâm các nơi các sứđoàn đi sứđãđi qua trên đường đi sứ đến Bắc Kinh và  tôi có đến thăm cung điện mùa hè vua Càn Long tại Nhiệt Hàăn lễ mừng thọ vua được 80 tuổi.. Khác vơi cung điện Bắc Kinh to lớn, chói lọi màu sắc vàng, đỏ, cung điện mùa hè trang nhã tỉnh mịch hơn, năm  bên các gốc thông, phiến đá cạnh vườn thượng uyển. Thật thú vị khi đến thăm phòng  vua Càn Long tưởng tượng nơi đây năm 1790 từng diễn ra cảnh làm lễôm gối nhận tình cha con giữa vua Càn Long và vua Quang Trung giả.
Ngày 22 tháng 8 âm lịch sứđoàn ra về.
Ngày 29 tháng 10 sứ bộ quay về đến Ải Nam Quan. Tính ra thời gian trên đất Trung Quốc là 6 tháng 14 ngày.
Nhận được chiếu đi sứ Phan Huy Ích viết: vừa sửa sang xong phần mộ cha, lễ hiếu vẹn toàn. Nhận chiếu thư từ trên ban xuống sai đi sứ.Chí tang bồng, chí bốn phương kẻ làm trai, ngại gì rong ruổi phương xa. Giữ tiết ngọc, cầm cờ tiết vua ban cho sứ thần việc ngoại giao nên biết ứng đối (văn chương)là khó. Bầy tôi phải vất vả để giúp ích xã tắc. Du khách khi cao hứng lại vịnh núi sông.. Bao nhiêu việc nhà cửa sau khi ra đi. Đều nhờ người vợ nghèo ra tay xếp đặt. Chữ ‘kinh thoa’ trong thơ tích từ vợ Lương Hồng cao sĩ nhà Hán là Mạnh Quang có đức hạnh, nàng dùng gỗ tử kinh làm cành thoa, dùng vải thô làm quần, cho nên nói kinh thoa bố quần để chỉ người phụ nữ nghèo, cần cù làm việc để giúp đỡ chồng. Đời sau người ta mượn từ kinh thoa để chỉ người vợ của mình.
GIỮA MÙA XUÂN PHỤNG CHIẾU SAI ĐI SỨ PHƯƠNG BẮC, KHI NHẬN ĐƯỢC MệNH LÀM THƠ
Phần mộ cha xong, hiếu vẹn toàn,
Hoàng hoa nhận chiếu lại lên đường.
Chí tang bồng ngại gì rong ruỗi,
Giữ tiết ngọc trong ứng đối văn.
Vất vả bầy tôi lo xã tắc,
Khách du cao hứng vịnh non sông.
Chia tay bao việc trong nhà cửa,
Dặn lại bần thê sắp đặt giùm.
XUÂN TRUNG PHỤNG CHIẾU SAI BẮC SỨ, ĐẮC MệNH NGẫU PHÚ.
Huyền trạch sơ doanh, hiếu lễ hoàn,
Hoàng hoa dao phụng chiếu thư ban.
Tang hồ hề tuất trì khu viễn,
Ngọc tiết tu trì ứng đối gian.
Thần phận phục lao tỳ miếu xã,
Khách du thừa hứng phẩm giang san.
Biệt lai đa thiểu gia môn kế,
Toàn chúc kinh thoa bố trí gian.
RA CỬA ẢI NAM QUAN
Nguyên Dẫn: Giờ Tỵ ngày 15 tháng 4 mở cửa ải, phụng mệnh đến làm lễ ở đài Chiêu Đức. Quan Đốc Phủ và các đề trấn dẫn đầu các viên chức các đạo, đài, phủ , huyện tiếp đưa đường, ngựa xe cờ xí sáng rực núi khe.
 Sứđoàn đi từ Thăng Long  đến Lạng Sơn chờ đợi và thông báo cùng Trung Quốc hẹn ngày lành tháng tốt tiếp đón sứđoàn. Tổng Đốc Lưỡng Quảng Phúc An Khang phụ trách điều khiển cuộc hành trình  đi từẢi Nam Quan đến Bắc Kinh, Nhiệt Hà rồi trở về lại ải Nam Quan.Đúng giờ cổng mở bằng một chìa khóa lớn dài khoảng một thước tây, cửa mở, đốt pháo, lính gác cầm giáo giàn chào.  Chỉ cóđoàn sứđi qua, các quân lính, người khuân vác đều  dừng lại trước cửa. TừẢi Nam Quan,  Trung Quốc hoàn toàn phụ trách việc tiếp rước, quân lính hộ vệ và phu khuân vác cùng xe ngựa hay thuyền.  Theo thông lệ, tại đài Chiêu Đức,  các rương hòm phẩm vật đều được mở ra, bày cúng tế, quan chức nhà Thanh kiểm kê chứng nhận phẩm vật, sau đó lại bỏ vào rương hòm, chèn kín bằng ống giấy dâm bào, đóng khèn có con dấu  in chứng nhận, khóa kín cho đến Bắc Kinh mới mở ra.. Sứđoàn được đưa về tiếp tân ở Thụ Hàng, ra mắt viên Tổng Đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An. Phan Huy Ích viết:
Ải Bắc trời cao, cổ xe tứ mã chạy đều. Đầy núi cờ lộng hộ vệ người đi xa, Chuyến này là hội áo xiêm hòa mục, là một cuộc hội họp hòa bình. (đối lập với hội binh xa, hội họp về chiến tranh). Nghĩ mình là một văn nhân bình thường. Khúc ly câu ngâm xong gợi tình đất nước. Ly câu là tên khúc hát tiễn biệt thời xưa. Tiếng chim kêu hoài rừng núi quang tạnh. Cánh bằng bay chín vạn dặm trong chớp mắt.  Sách Trang Tử chép: chim bằng bay biển Nam, nước trào lên ba nghìn dặm, cưỡigió cuốn mà bay lên chín vạn dặm. Trong văn thơ dùng cánh bằng để nói đến chí lớn. Lần đầu đi sứ tầm mắt mới lạ.
RA CỬA ẢI
Ải Bắc trời cao bốn ngựa phi,
Đầy non cờ lộng bóng người đi.
Chuyến đi xiêm áo thời bình trị,
Nghĩ phận văn nhân nào có gì!
Ngâm khúc ly câu thương đất nước,
Chim kêu khoắc khoải tạnh rừng mây.
Chín vạn dậm bằng bay chớp mắt,
Tầm mắt sứ nhìn mới lạ thay.
XUẤT QUAN
Tái Bắc thiên cao lục bí quân,
Mãn sơn kỳ cải hộ chinh trần.
Thị hành ung mục y thường hội,
Tự ngã tầm thường hàn mặc nhân.
Hương quốc ly tình câu xướng bãi,
Lâm loan tễ sắc điểu thanh tần.
Phù dao cửu vạn tài đương thuấn,
Tư đạc sơ trình nhãn giới tân.
Sứđoàn lên thuyền theo sông Tây Giang vào đến sông Minh Ninh để theo kinh đào phía Bắc Quế Lâm vào sông Tương Giang từđóđi vào Động Đình Hồ đến Hán Khẩu.
Qua cửa sông Minh Ninh có thắng cảnh Di Tích Hoàng Sào binh mã núi Hoa Sơn. Là một vách núi trên vách có những vệt đáđen đỏ trông giống như một bầy ngựa chiến với người, gươm dáo, cờ xí.. Tương truyền đây là  nơi Hoàng Sào thời  nhà Đường đóng quân khi đánh vùng  Quảng Đông, Quảng Tây. Nguyễn Du có viết bài thơ nơi này.
Nguyên dẫn:Núi này ở cửa sông Minh Ninh vách đá nhìn xuống dòng sông, màu đỏ như trát sơn, thấp thoáng dường như có hình người, ngựa cờ, gươm. Tương truyền chiến địa của Hoàng Sào trước kia hiện hình nơi đây.
BINH MÃ HOA SƠN
Vách đá chon von sóng nước xanh,
Ngựa người thấp thoáng đỏ son hình.
Rêu vương giáp vẽ, mưa còn đọng,
Yên ngọc hoa lay gió động mình.
Đục núi hóa công khôn vẽ tạc,
Đường xa đất khách nỗi chồn chân.
Hão huyền trận tích ai bàn chuyện,
Bóng ngã non xa thuyền bập bềnh.
HOA SƠN BINH MÃ
Thôi ngôi tiểu bích hám tình lan,
Nhân mã y y nhất sắc đan.
Vũ tích đài phu xâm họa giáp,
Phong tương hoa ảnh động điêu an.
Hóa công nguyên thiết nhan dung xảo,
Viễn giới ninh tri khách lộ nan.
Trận tích huyễn đàm thùy chất phỏng,
Vân sơn thấn nhập đoản bồng khan.
Cùng đi sứ  có Thượng Thư Bộ Công Vũ Huy Tấn, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An từng giữ chức Thị Lang Bộ Công, tước Hạo Trạch Hầu. Vũ Huy Tấn từng đi sứ với  phó sứNguyễn Nể, vàNguyễn Quang Hiển cháu vua Quang Trung, trong  bang giao đầu tiên giữa Tây Sơn và nhà Thanh năm 1789 sau chiến trận Thăng Long. Trở về lại đi tiếp trong sứđoàn Phan Huy Ích.
Thắng ngựa từ nước Việt xa xôi đi đến non Yên .Chén rượu câu thơ đình mai chung một màu xuân. Đời người gặp gỡ nhiều điều trái ý. Quân tử giao du lâu ngày tất thân nhau. Chuyến đi này khó dễ đều qua đất khách. Lòng trung tín sẵn có làm tinh thần mình mạnh mẽ. Thăm hỏi khắp nơi mừng có bạn đường. Tâm tình này cùng chia sẻ nỗi vất vả.
HỌA ĐÁP VŨ CÔNG BỘ
Thắng ngựa non Yên nước Việt xa,
Đình mai chén rượu thơ xuân hòa.
Nhân sinh khi gặp điều sai ý,
Quân tử thân nhau lâu với ta.
Khó dễ chuyến này qua đất khách,
Sẵn lòng trung tín chẳng phai nhòa.
Thăm hỏi khắp nơi mừng có bạn,
Tâm tình chia xẻ nỗi xông pha.
HỌA ĐÁP VŨ CÔNG BỘ
Việt thủy Yên Sơn viễn giá nhân,
Mai đình tràn vịnh nhất ban xuân.
Nhân sinh tế ngộ đa phi ý,
Quân tử giao du cửu tất thân.
Thử khứ hiểm di kinh khách lộ,
Bản lai trung tín tráng ngô thân.
Chu tu thả hỷ liên chinh duệ,
My cổ tình hoài bán tiệt phân.
Bài Thương Ngô Giang Thứ. Nguyên dẫn : Ở phía thành Ngô Châu có ba dòng sông hợp lại. Nơi đây thuyền bè tấp nập, hàng hóa chất đầy. Bãi nổi giữa sông là nơi giáp giới của Lưỡng Quảng. Trong thành có các dinh thự của Tổng Trấn, phủ huyện, và có cả hành dinh của Tổng đốc. Phong cảnh ở đây phồn hoa tráng lệ. Sứ bộ của ta vào hội yến xong bèn nhổ neo thuận dòng xuôi xuống phía Đông.. Nghe nói ở Thương Ngô có tám cảnh đẹp mà chưa có dịp nào tới thăm.
 Trên ba dòng sông Kiều Giang, Uất Giang và Quế Giang (thuộc tỉnh Quảng Tây ngày nay) thuyền bè đỗ san sát ở góc thành. Đây là châu phồn hoa nhất miền nam núi Ngũ Lĩnh. Đồng hoang này tục truyền là nơi ngày xưa vua Thuấn tuần thú. Vua Thuấn băng hà ở cánh đồng Thương Ngô, nay còn phần mộ ở núi Cửu Nghi. Một thuyết khác lại cho rằng mộ vua Thuấn ở núi Thương Ngô biên giới Vĩnh Châu. Mây chiều gợi nhớ chuyện Lã Tiên đi chơi. Tương truyền Lã Đồng Tân hiệu Thuần Dương, người đời Đường gặp loạn Hoàng Sào đem gia quyến đến núi Chung Nam và tu tiên đắc đạo. Cảnh sóng trên sông đâu cũng có điều mới lạ. Câu này nhắc đến câu thơ Thôi Hiệu bài Hoàng Hạc Lâu : Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ? Coi trọng việc ứng thù mỗi khi dự tiệc. Dấu vết nổi tiếng mà chưa có dịp viếng thăm tám cảnh đẹp : Tiêu Tương bát cảnh gồm : Bình sa lạc nhạn(bãi cát núi Hồi Nhạn,) Sơn thị tình lam (Chợ núi trong sương), Viễn phố quy hàm (Thuyền về phố xa), Động Đình thu nguyệt (Trăng thu hồ Động Đình), Giang biên mộ tuyết (Tuyết rơi trên bờ sông), Tiêu Tương dạ vũ ( Đêm mưa trên sông Tiêu Tương), Ngư thôn tịch chiếu (Xóm chài trong nắng chiều tàn) Sơn tự hàn chung (Tiếng chuông trên núi lạnh vọng về).Dòng sông cuồn cuộn chảy về phía Đông như đuổi theo thuyền nhẹ.
BÊN SÔNG THƯƠNG NGÔ
Ba sông thuyền đỗ sát bên thành,
Đây phố phồn hoa nhất Lĩnh Nam,
Đồng nội tương truyền Nghiêu Đế đến,
Mây chiều gợi  cảnh Lã Tiên rong.
Khói mây đâu cũng khơi niềm nhớ.
Chén rượu đáp đền trọng tiệc văn.
Danh tích tiếng đồn vang Bát Cảnh,
Dòng sông cuồn cuộn thuyền về Đông.
THƯƠNG NGÔ GIANG THỨ
Tam giang phàm tiếp ỷ thành ngu,
Lĩnh ngoại phồn hoa đệ nhất châu.
Thương dã truyền văn Nghiêu Đế thú,
Mộ vân tưởng tượng Lã Tiên du.
Yên ba đào xứ tần thu thưởng,
Quan bội lâm diên trọng ứng thù.
Danh tích vị do tầm bát cảnh,
Thao thao đông thủy trục kinh châu.
Tại công quán thành Quảng Châu,  nhân ngày giỗ thân mẫu và kỳ tế lễ tang thân phụ, ông viết: Xe dừng lại ở lầu viện nơi phồn hoa, Lòng nhớ quê của kẻ đi xa xiếc bao nỗi xúc động. Ba chục năm  mẹ mất, nay chiêm bao thấy mẹ. Ngoài chín ngàn dậm làm người mang áo tang. Chưa đền đáp được mảy may công ơn người trước. Luống thẹn tấm thân áo mũ ngày nay. Ngắm mây sớm phương Nam giờ lâu. Trong tiệc, bấc giác khách nhíu lông mày xúc động.
Ở CÔNG QUÁN THÀNH QUẢNG CHÂU
gặp ngày giổ thân mẫu, lại gặp kỳ tế lễ mùa hạ thân phụ, dậy sớm cảm tác.
Xe dừng lầu viện đất phồn hoa,
Xúc động xiếc bao nỗi nhớ nhà.
Ba chục năm nằm mơ thấy mẹ,
Chín nghìn dặm lẽ giỗ tang cha.
Chưa đền đáp được công tiên tổ,
Luống thẹn áo xiêm tủi phận ta.
Ngắm mây sớm tự phương Nam lại,
Trong tiệc đôi mi khách nhíu sa.
QUẢNG THÀNH CÔNG QUÁN
cung trị tiên tỷ húy thần, hựu phụng tiên khảo hạ tế lễ tào khởi cảm tác.
Phồn hoa lầu viện trú chinh luân,
Du tử hương tâm bội cảm thần.
Tam thập niên lai huyên thất mộng,
Cửu thiên lý ngoại luyện thôi nhân.
Vị năng trần chích thù tiên trạch.
Hư quý hiên thường hữu thử thân.
Nam cực hiểu vân ngưng miện cửu,
Quỳnh diên bất cấm khách mi tần.
Động Quan Âm ở huyện Anh Đức, xứ Việt Đông. Nhà sư chất đá làm nền sàn trông xuống dòng sông. Trước cửa có treo biển đề: ‘Thủy nguyệt thiền cung.’ (Cung thiền trăng nước).  Sứđoàn ghé lại thăm.
Núi trống ở cửa sông, lối xanh thăm thẳm. Điện thờ Quan Âm đường cao chênh vênh. Đèn toà sen dọi qua khe cửa hở tới hang mây. Chữ triện trên bia đầy rêu dựa vào bóng núi. Trời đất trong hang động không dấu vết trần tục. Trăng nước trong rèm in tấm lòng thiền. Ngẫu nhiên đến cõi Phương Hồ thanh u. Theo sách Thập di ký ngoài biển có ba quả núi tiên ở là : Bồng Doanh, Phương Trượng, Bích Hải. Phương Hồ là Phương Trượng. Có câu thơ Lã Đồng Tân:Bồng Lai, Phương Trượng cao cao, Sáng chơi Bích Hải, chiều vào Thương Ngô. Muốn treo cái roi ngựa đi xa để ngâm nga thoải mái. Muốn không  còn nghĩ đến  việc đi sứ để ngâm vịnh cho thoải mái.
  CHƠI ĐỘNG QUAN ÂM
Núi trống cửa sông lối thẳm xanh,
Quan Âm điện các đường chênh vênh.
Đèn tòa sen chiếu hang mây dọi.
Bia triện chữ rêu bóng núi nghiêng.
Trời đất động không lưu dấu tục,
Nước trăng rèm rũ tấm lòng thiền.
Ngẫu nhiên được ngắm Phương Hồ cảnh,
Muốn vất roi song để hát ngâm.
DU QUAN ÂM NHAM
Giang khẩu không nham mục kính thâm,
Tha nga sạn các phụng Quan Âm.
Khâm đăng khích chiếu xuyên vân đậu,
Bi triện đài man ỷ thạch âm.
Động lý khiến khôn vô tục tích.
Liêm tiền thủy nguyệt ấn thiền tâm.
Thanh u ngẫu đáo Phương Hồ cảnh,
Dục quải chinh tiên nhất sướng ngâm.
Chùa Phi Lai ở hẽm núi Ngung thuộc huyện Thanh Viễn tỉnh Quảng Đông. Có thác nước từ vách đá dựng đứng đổ xuống, gác cao soi bóng xuống dòng nước. Tương truyền đời nhà Lương, một đêm gió bão sấm chớp nổi lên dữ dội, rồi ngôi chùa xuất hiện nhân đó đặt tên cho chùa là Phi Lai. Có câu chuyện nói về hai vua Ngung và con vượn trắng. Ngay ở giữa gian giữa chùa có bàn thờ vua, có biển đề ‘vạn tuế ‘. Một số sĩ phu nhà Thanh tiễn đưa, dẫn sứ bộ ta đến thăm chùa. Tới trước bàn hành lễ vái lạy. Họ cứ yêu cầu các sứ thần làm thơ. Tôi viết xong bài thơ đưa cho viên Tổng Đốc Quảng Đông. Liền được họ sai thợ đá khắc bài thơ này trên vách núi chùa Phi Lai.
Hồi chuông chậm rãi từ lầu chuông trên núirơi xuống eo sông. Ánh sáng tốt lành bao quanh đài Phạm Vương. Đài Phạm Vương là nơi thờ Phật. Nước thác đổ ngỡ sông Ngân Hà chảy xuống. Chùa bay tương truyền sấm nửa đêm đem đến. Dấu tích nêu cao ở ngoài cõi Âu Việt.  Phái Thiền tính ngược đến Bồ ĐềĐạt Ma: Tổ thứ 28 truyền từđại Đệ tử của Đức Phật là Ca Diếp, người Tây Trúc, thế kỷ thứ VI, đời Lương Vũ Đế sang Trung Hoa thuyết pháp. tại chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn, được tôn là Thiền Tông đệ nhất tổ. Leo lên cao càng mừng được gần đóa mây hồng. Muốn đem chén rượu dâng lên trước tấm biển đề  ‘vạn tuế ‘
ĐỀ CHÙA PHI LAI
Gác núi chuông vang lạnh nước sông,
Phạm Vương đài sáng bóng từ quang.
Núi trào thác đổ dòng  Ngân chảy,
Đêm Ngọc chùa bay tiếng sóng ầm.
Âu Việt nêu cao danh dấu tích,
Đạt Ma truyền xuống lối Thiền tông.
Gần đám mây hồng mừng thưởng cảnh,
Chén quỳnh vạn tuế muốn đem dâng.
ĐỀ PHI LAI TỰ
Sơn các sơ chung lạc thủy ôi,
Tường quang liệu nhiễu Phạm Vương đài.
Bộc tuyền nghi xuất tinh hà thủy,
Phi tự truyền văn bán dạ lôi.
Địa tích cao tiêu Âu Việt ngoại,
Thiền gia thượng tố Đạt Ma lai.
Tê phan cách hỷ hồng vân cận,
Vạn tuế bài tiền dự phụng bôi.
Cờ sứ còn đang dùng dằng, thì cảnh khói sông lại tăng thêm nỗi buồn cho kẻ đi xa. Thuyền tiên lênh đênh. Cây mùa xuân với mây buổi chiều những an ủi niềm tưởng nhớ cố nhân. Dựa lan can  cảm khái viết mấy lời. 
Kết bạn với Đoàn Nguyễn Tuấn từ hai mươi năm, chẳng hề sai trái. Đường đời từng trải bao sóng gió. Dãi mũ bụi có lẽ ta thua kém ông.(Ý nói trong cõi trần tục thì ta còn kém ông một bước) Vườn hoa chẳng phải ông đã phụ với tổ cũ. HọĐoàn hồi ở quê hương Quỳnh Hải có làm cái chòi trong vườn hoa nhà mình gọi làphong nguyệt sào (tổ gíó trăng) ngâm vịnh trong đó, tự hiệu là Sào Ông. Làm khách vẫn thẹn không nặng bằng ba kẻ sĩ. Vua nước Triệu đi triều cống nước Tần, chọn bọn Quí Lương đi theo và nói : Ta có ba kẻ sĩđủ làm cho nước Triệu có sức nặng. Bạn bè hãy nhường giá cao cho một người bạn. Ta có ba người bạn, chỉ có Nguyễn Chi Phong là người phóng khoángnhất. Sống vềẢi  ngọc (Nam Quan) sớm tìm nhàn hạ. Trong cảnh điền viên chưa chắc giải thích về lời chế nhạo. Tích Dương Hùng nhà Hán viết Kinh Thái Huyền, người thời bấy giờ cười ông, ông viết bài Giải trào (giải thích lời chế diễu). Ý câu thơ nói trở về sống với cảnh điền viên cũng chẳng cần giải thích gì nữa mặc dù có tiếng cười của người đời.
GHI CẢM HOÀI GỬI QUAN HÀN LÂM HỌĐOÀN
Hai mươi năm bạn chẳng đơn sai.
Sóng gió từng qua với cuộc đời.
Dãi mũ bụi vì ta kém bạn,
Vườn hoa chẳng phụ với ngôi chòi.
Thẹn không bằng khách ba hiền sĩ,
Nhường giá cao cùng một bạn thôi.
Nhàn hạ mai về qua ải ngọc,
Điền viên chưa chắc đã nên lời.
THƯ HOÀI GIẢN ĐOÀN HÀN LÂM
Nhị thập niên tiền mạc nghịch giao,
Thế đồ canh lịch kỷ phong đào.
Trần anh tự ngã thâu tiên trườc,
Hoa ổ phi quân phụ cố sào.
Tác khách hoàn tu tam sĩ trọng,
Đồng minh thả nhượng nhất nhân cao.
Ngọc quan sinh nhập qui nhàn tảo,
Vị tất viên lâm khẳng giải trào.
Bảy ngày trong quán khách được Án sát họ Trương tỉnh Quảng Đông đãi ngộ chu đáo, trên đường sông nghìn dặm được ông làm bạn đồng hành. Cuộc gặp gỡ đẹp như sao như phượng, cảm xúc về sự hợp tan như móng chim hồngtrên tuyết, tạm mượn vài lời để tỏ chút tình thân mến.
Mang ngọc báu đến nơi, hai ba lần phiên dịch. Ở Phong Xuyên  (Quảng Đông), nghe ca tụng bóng cây cam đường (vị quan chân chính). Đã lâu ngóng ơn trạch thiên vương đối xửân cần. Mới biết lòng người chủđịa phương tiếp đãi tử tế. Sông Triệu lặng sóng, mái chèo lan lướt gần. Núi Thiều lộng gió bóng áo gấm đi tới. Lúc chia tay ngước nhìn chòm sao thai rực sáng. Mong sớm có chim hồng báo tin mừng. Móng chim hồng, chữ  ‘nê hồng’  từ  câu  thơ TôĐông Pha : Phù sinh đáo xứ tri hà tự ? Cáp tự phi hồng đạp tuyết nê. (Kiếp phù sinh giống như gì nhỉ ?  Giống hệt dấu hồng dẫm tuyết rơi.)
ĐẬU THUYỀN Ở SÔNG PHỦ THIỀU CHÂU
Làm thơ tiễn quan Án sát họ Trương tỉnh Quảng Đông về trị sở.
Phải dịch ba lần ngọc báu dâng,
Phong Xuyên đông tới tiếng Cam đường,
Đã lâu trông ngóng ơn vua tốt,
Mới biết lòng ngay lộc chủ ban.
Sông Triệu sóng êm chèo lướt đến,
Núi Thiều lộng gió áo thong dong.
Chia tay trong bóng sao Thai sáng,
Mong sớm được tin bóng nhạn hồng.
THIỀU CHÂU GIANG THỨ PHỤNG TIỂN QUẢNG ĐÔNG TRƯƠNG NIẾT ĐÀI HỒI TRỊ
Thị dịch trùng tam khác phụng sâm,
Phong xuyên đông hạ tụng đường âm.
Nhu hoài cửu ngưỡng thiên vương trạch,
Khoản ngộ tương tri địa chủ tâm.
Triệu thủy ba trừng lan trạo nhĩ,
Thiều sơn phong động tú y lâm.
Phân kỳ kiểu phán thai triền lãng,
Tảo hữu hồng thiên báo hảo âm.
Đi qua huyện Cát Thủy nơi sinh Văn Thiên Tường hiệu Vân Sơn, đỗ Trạng Nguyên, làm tể tướng triều Tống là nhà yêu nước vĩđại, viết bài Chính Khí Ca trong ngục tù Nguyên Mông.Huyện Cát Thủy nổi tiếng nơi sinh bậc hiền tài. Trời đem chínhkhí hun đúc cho Vân Sơn. Làm Trạng nguyên, Tể tướng nặng gánh cương thường. Lại gặp Hoàng Phạm, Toa Đô sự thế khó khăn. Hoàng Phạm họ Trương người Hán theo quân Mông Cổ được ban tên là Bạt Đô và phong làm Nguyên soái. Toa Đô là trướng bị quân nhà Trần bắt sống ở cửa Hàm Tử.. Văn Thiên Tường gặp phải kẻ thù lợi hại nên tình thế khó khăn. Không ngại để gương nghĩa liệt trong sử xanh. Đâu đành an nhàn tạm bợ đội mũ vàng qui ẩn. Lòng cô trung sáng mãi trong trời đất. Khiến kẻ xu thời theo sóng phải thẹn mặt.
QUA HUYệN CÁT THỦY
VIẾNG VĂN THỪA TƯỚNG
Đất phát danh hiền đây Cát Thủy,
Trời đem chính khí đúc Văn Sơn.
Trạng Nguyên Tể Tướng cương thường gánh,
Hoằng Phạm, Toa Đô thế khó khăn.
Nghĩa liệt tấm gương soi sử sách,
An nhàn đâu dám mặc non sông.
Lòng trung sáng mãi trongtrời đất,
Khiến kẻ xu thời hổ tấm thân.
KINH CÁT THỦY VÃN VĂN THỪA TƯỚNG
Địa xuất danh hiền xưng Cát Thủy,
Thiên tương chính khí dục Văn Sơn.
Trạng nguyên, Tể tướng cương thường trọng,
Hoằng Phạm, Toa Đô sự thế nan.
Thanh hãn bất phương lưu nghĩa liệt,
Hoàng quan phi cẩu  nguyện an nhàn.
Cô trung chiếu yết càn khôn cửu,
Ba lãng trung nhân nhất hãn nhan.
Núi Đại Dĩu ở giáp giới tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, trên núi có cây mai xanh tốt, cành lá um tùm như rừng nên gọi là núi Mai Lĩnh (núi Mai). Trên núi có đường đá vắt ngang, suối chảy xung quanh, vượn khỉ kêu trong bụi cây. Tương truyền bầy nhạn bay đến đó thì quay trở lại, trên vách đá có khắc chữ “nhạn hồi nhân viễn “ (nhạn quay trở lại, người đi xa) “hải thiên nhất tuyến“ (biển trời một tuyến), “nam thiên tỏa thược “ (then khóa trời nam ). Vị trí tỉnh Quảng Đông ở ngoài Ngũ Lĩnh. Đời Đường có Trương Cửu Linh người Việt Đông làm đến Tể Tướng mới mở con đường này. Từ đó thành đường thông xe ngựa, dân địa phương đi lại thuận tiện. Trên núi có miếu thờ Trương Cửu Linh. Thuyền đi tới phủ Nam Hùng, sứ bộ ta phải trèo núi, từ thành phủ Nam An lại đi đường sông.
Nghe địa dư chí có nói cây mai ở núi Đại Dĩu. Nay cầm cờ sứ từ đường xa đến. Gốc cây gầy gò mà xanh tốt lan ra khắp rừng. Thơ Lục Du gọi cây mai là cố tiên, vị tiên gầy. Bậc đá lạnh cao chót vót, xẻ núi mở ra. Suối đá bốc hơi mát, vượn kêu buổi chiều. Biển trời trông man mác, chim nhạn bay trở lại. Phong độ của Khúc Giang nêu cao nghìn thuở. Huyện Khúc Giang là quê hương Trương Cửu Linh, Tể tướng thời nhà Đường là người có tài năng khí phách, nên người đương thời gọi là Khúc Giang Công mà không gọi tên thật.. Miếu thờ Trương ở núi Dĩu Lĩnh có bài minh ca tụng công đức của ông. Bia  viết bài minh rêu phủ, vạch rêu xem lời.
QUA NÚI MAI LĨNH
Rừng mai Đại Lĩnh địa dư truyền,
Đường xa cờ sứ ghé qua thăm.
Gầy gốc cây xanh, lan khắp núi,
Lạnh lùng cầu đá mở non sông.
Vượn kêu chiều xuống vương khe lạnh,
Nhạn liệng bay về trời mác man.
Phong độ Khúc  Giang cao vạn thuở,
Vạch rêu lam đọc tấm bia xanh.
DU MAI LĨNH
Dư chí truyền văn Đại Dĩu mai,
Vu đồ kim ủng sứ tinh lai.
Cố căn thông uất mạn lâm trưởng,
Hàn đẳng thiều nghiêu tiệt lĩnh khai.
Tuyền thạch sinh lương, viên khiếu vãn,
Hải thiên diếu vọng nhạn phi hồi.
Khúc Giang phong độ cao thiên cổ,
Tự dịch bi minh toả lục đài.
GácĐằng Vương ở ngoại thành Giang Tây, bài tựa của Tử An (Vương Bột) khắc trên vách phấn. Trong thành có cái đầm sâu nước lạnh, phong cảnh hoa lệ, có tên “Nam châu hoa đảo “ (Đảo hoa Nam Châu). Các dinh thự quan tỉnh và nha môn phủ huyện, phố phường đều vây quanh bốn mặt đầm. Từ dưới gác ngang sông đến bờ phía đông là con đường chính.
Mái hiên chót vót nhìn xuống dòng nước xanh. Bài tự Đằng Vương Các tự của Vương Bột rực rỡ nhưánh sao Đẩu. Núi sông thu vào văn bút thần đồng, nhân tiết  trùng cửu (mồng 9 tháng 9) đô đốc họ Diêm thết tiệc và thi thơở gác Đằng Vương để khoe tài thơ con rể. Vương Bột mới 16 tuổi trên đường thăm cha tại Giao Châu, tình cờ dừng thuyền liền vào dự thi, trong bữa tiệc ông làm bài Đằng Vương Các tự nổi tiếng chiếm giải nhất.
 Xưa nay còn truyền lầu Đế tử. Lầu do  Lý Nguyên Anh, con vua Đường thụ phong là Đằng Vương, dựng gác trên cửa sông Tây Giang. Thuyền  xe muôn dặm xuyên qua bãi rau liễu. Loại rau có mùi cay thơm như rau răm mọc ở mé nước, qua lại dưới gác Đằng Vương đặt tại mé sông. Hoa cỏ quanh năm rợp một vùng, nơi này có tên là Nam Châu hoa đảo. Tình cờ nối gót nghe dấu ngọc loan rung. Thơ Vương Bột có câu: rung nhạc loan mang ngọc bội,  đi ngựa và mặc trang phục lộng lẫy.
ĐỀ ĐẰNG VƯƠNG CÁC
Chót vót lầu cao soi nước xanh,
Thơ như sao Đẩu sáng long lanh.
Núi sông thu lại thần đồng bút,
Kim cổ xây lầu, đế tử truyền.
Vạn dậm xe thuyền qua bến liễu,
Bốn mùa hoa cỏ khói mây xuyên.
Thuyền sứ được nhờ cơn gió thuận,
Ngẫu nhiên nối gót, nhạc chim rung.
ĐỀ ĐẰNG VƯƠNG CÁC
Nguy nghiệp tằng thiềm hám bích lưu,
Tự văn thôi sản đẩu quang phù.
Giang sơn tận thuộc thần đồng bút,
Kim cổ do truyền đế tử lâu.
Vạn lý chu xa xuyên liễu phố,
Tứ thời yên thụ trữ hoa châu.
Tinh sà bất giả huân phong tiện,
Ngẫu tục minh loan bội ngọc du.
Đới Cù Hanh, người huyện Đại Dĩu tỉnh Giang Tây, đỗ Trạng nguyên năm Mậu Tuất (1778), làm quan Hàn Lâm tu soạn, xin nghỉ về làng, hiện đang ở thành Giang Tây. Ông cùng các vị quan ở địa phương đến nhà công quán hội họp, lời nói, nét mặt ôn nhã. Có hai bài thơ đề chùa Tâm Lan đưa cho sứ thần xem, tôi nhân đó làm bài thơ này tặng lại.
Cưỡi ngựa kỳ ngựa lạc từ nước ngoài vào Trung Nguyên. Ngựa kỳ là ngựa màu xanh đen, ngựa lạc là ngựa bạch. Thơ Hoàng Hoa trong Kinh Thi có câu Kỳ lạc tuân tư nói việc nhà vua sai sứ thần đi thăm hỏi nước láng giềng. Ởđây chỉ việc đi sứ. Gặp Trạng nguyên như ngôi sao, như chim phượng hoàng trên đời. Chùa Tâm Lan câu thơ hay sao họa được . Chốn Ngọc đường (dinh thự Viện Hàn Lâm) không thẹn viết chiếu vua. Nhìn tận mặt nụ cười ánh mắt, kính bậc hiển đạt. Biết sớm đem phong độ mưu mô giúp đấng chí tôn. May mắn được biết họ Hàn lòng thêm ngưỡng mộ. Điển Lý Bạch viết thư cho Hàn Kinh Châu ( Hàn Triêu Tông): Tôi nghe sĩ phu  thiên hạ nói với nhau rằng : Bất nguyện nhân gian vạn hộ hầu, Đán nguyện nhất thức Hàn Kinh Châu (Không mong được vạn hộ hầu trên thế gian, chỉ mong được gặp ông Hàn Kinh Châu một lần) do đó người ta dùng chữ thức Hàn để chỉ việc gặp người giỏi. Trong ánh sang văn chương được chiêm ngưỡng sao Khuê. Sao chủ việc văn chương, ý tán dương văn chương họ Đới.
TẶNG TRẠNG NGUYÊN HỌ ĐỚI
Xứ ngoài cỡi ngựa vào Trung Nguyên,
Như phượng, như sao gặp Trạng nguyên.
Thơ tuyệt chùa Tâm sao họa được,
Chiếu vua điện Ngọc thảo lời truyền.
Mắt nhìn tận mặt người vinh hiển,
Mưu chước sớm đem giúp chí tôn.
May gặp họ Hàn thêm ngưỡng mộ.
Sao Khuê được thấy ánh văn chương.
TẶNG ĐỚI TRẠNG NGUYÊN
Hải bang kỳ lạc nhập Trung Nguyên,
Nhân thế tinh hoàng kiến Trạng nguyên.
Lan tự hà năng canh tảo cú,
Ngọc đường vổ thiểm diễn luân ngôn.
Cân môn tiếu mện khâm hiền đạt,
Tảo bá phong du bậc chí tôn.
Yêu hạnh thức hàn tăng duyệt mộ,
Vãn quang trừ thị ngưỡng Khuê văn.
Ngày 8 tháng 6, từ Giang Tây, liên tiếp được chiếu chỉ : Đến ngày 10 tháng 7 tới bệ kiến(vua Càn Long) tại khu nhà nghỉ mát ở sơn trang (Nhiệt Hà – Chende). Bèn đi gấp không kể ngày đêm, những đường phố đoàn đi qua, dân chúng kéo ra vây quanh xe kiệu để xem, người đến mỗi lúc một đông. Trên đường những nhà hiếu nghĩa, tiết hạnh, khoa hoạn đã được khen phong đều dựng bia ghi khắc ở trên miếu trên mộ. Những nơi cổ tích cũng đều có bia để lại có thể khảo cứu được.
Trải qua đường sông, lại đường bộ. Bên khóm cây dương xanh nghe tiếng chim đa đa. Đến bệ kiến nơi sơn trang trong mùa thu, mệnh vua rạng rỡ. Người phu trạm đưa đường ngày đêm không nghỉ. Những dãy bia ngất ngưỡng để lại lời xưa. Các phố xá huyên náo rực rỡ bóng cờ. Trải qua bao gió bụi, hai mái tóc rối bời. Luôn luôn gửi tâm tình vào nơi núi khe.
ĐI SỚM TỪ GIANG TÂY
Đi hết đường sông lại đất bằng,
Khóm dương nghe tiếng đa đa vang.
Sơn trang bệ kiến, thu rạng rỡ,
Phu trạm đưa đường, chẳng nghỉ chân.
Ngất ngưỡng miếu bia lời để lại.
Ồn ào phố chợ bóng cờ tung.
Trải bao gió bụi đôi bờ tóc,
Còn gửi sơn khê một nỗi lòng.
GIANG TÂY KHỞI TẢO
Lịch thiệp giang trình, hưu lục trình,
Lục dương tùng bạn giá cô thanh.
Thu trang kiến giá ty luân bí,
Dịch sứ truyền bưu trú dạ tinh.
Ngột nghiệp bi phường trưng cổ chí,
Huyên điền cù mạch diệu hành tinh.
Phong ai lạc lạc phong bồng mấn,
Thời dữ nham khê nhất trí tình.
Sứđoàn dừng chân tại thành Cửu Giang, tỉnh Giang Tây  được chủ lữ quán là Lã Triệu Tường tiếp đãi ân cần. Phan Huy Ích viết lời thơ tặng ông.
Thấy đầy hoa chỉ hoa lan biết là nhà bạn tốt. Sách Gia Ngữ ghi lời Khổng Tử : Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất.(Ở với người thiện như vào nhà có cỏ chi cỏ lan) trong thi ca ý nói mình làm bạn được với người tốt. Mùi thơm mát nuôi dưỡng tấm lòng hư không. Gặp thú trăng gió có danh thiếp mời treo nơi khung cửa. Tìm lời thánh hiền có  thêm sách dựng trên giá. Đỗ Cống sinh, chút đã đền bù công học kinh điển nhà nho. Tiếp tân khách riêng mến mộ sau những buổi bút đàm. Đêm mưa ở Tầm Dương được gặp sau cuộc thơ. Thật khiến cho lòng người thêm sảng khoái. Tầm Dương tên quận thuộc huyện Cửu Giang tỉnh Giang Tây, nơi Bạch Cư Dị tiễn khách tỏ lòng lưu luyến .
HỌA THƠ TẶNG CỐNG SINH LÃ TRIệU TƯỜNG
CHỦ QUÁN THÀNH CỬU GIANG
Lan chỉ đầy nhà biết bạn hiền,
Mùi thơm nuôi dưỡng tấm lòng trong.
Gió trăng gặp thú, thư treo cửa,
Hiền thánh tìm lời, sách dọc hiên.
Đỗ đạt cống sinh đền học vấn,
Tiếp tân khách mới, bút hàn huyên.
Tầm Dương mưa xuống đêm thơ bút,
Thật khiến cho lòng sảng khoái thêm.
HỌA TẶNG CỬU GIANG THÀNH QUÁN CHỦ CỐNG SINH LÃ TRIệU TƯỜNG
Mãn thất chi lan kiến thiện cư,
Thanh phân dưỡng đắc, thử tâm hư.
Hội phong nguyệt thú, huyền my thiếp,
Cầu thánh hiền ngôn, sáp giá thư.
Bạt cống sảo thù kinh học tố,
Tiếp tân thiên luyến, bút đàm dư.
Tầm Dương vũ dạ phùng thi trận,
Chân hảo linh nhân tứ sáng như.
Đình Tỳ Bàở bên sông, phía tây huyện Cửu Giang tỉnh Giang Tây. Khi nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường bị biếm đi làm chức Tư Mãở Giang Châu, ban đêm tiễn khách trên sông Tầm Dương, nghe thuyền bên có người con gái gảy đàn tỳ bà mà hát, nhà thơ cảm xúc viết bài Tỳ Bà Hành. Đời sau người ta xây đình Tỳ Bà bên sông Tầm Dương để kỷ niệm nhà thơ với áng  thơ tuyệt tác. Phan Huy Vịnhcó dịch bài Tỳ Bà Hành thật tuyệt. Đoạn kết bài Tỳ Bà Hành có câu:Tọa trung khấp hạ thủy tối đa, Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp. Lệ ai chan chứa hơn người. Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.
Giọt châu cô gái đẹp nhỏ xuống trên phím đàn tranh bạc. Nhờ gửi chàng áo xanh, dựa mái chèo lắng nghe. Lưu lạc chân  trời chung niềm cảm khái. Bồi hồi đêm trăng một khúc ca hành. Khói nước Cửu Giang bao người bị biếm truất tới. Cửu Giang là một khúc sông Trường Giang, cũng gọi là sông Tầm Dương tên một huyện thuộc tỉnh Giang Tây. Phong lưu nghìn thuở riêng chiếc đình nhỏ này. Đầu bến cỏ thơm lòng khách đi xa man mác. Người lái đò gãy cây đàn hai dây tiếng nghe thanh thót.
QUA SÔNG TẦM DƯƠNG TRÔNG ĐÌNH TỲ BÀ
Giai nhân nhỏ lệ phím đàn tranh,
Dựa mái chèo nghe, chàng áo xanh.
Luân lạc chân trời nghe cảm khái,
Bồi hồi trăng sáng khúc ca hành.
Cửu Giang khói sóng say lòng khách,
Muôn thuở phong lưu một mái đình.
Đầu bến cỏ thơm man mác tứ.
Thuyền ai thánh thót hai dây tình.
ĐỘ TẦM DƯƠNG VỌNG TỲ BÀĐÌNH
Danh oa châu trích tống ngân tranh,
Bằng ký thanh sam ỷ trạo thanh.
Luân lạc thiên nhai đồng cảm khái,
Bồi hồi nguyệt dạ hữu ca hành.
Cửu giang yên thủy đa thiên khách,
Thiên cổ phong lưu độc đoản đình.
Phương thảo độ đầu chinh tứ diểu,
Chu nhân khiêu bát nhị huyền thanh.
Bâng khuâng trên cỗ xe đi xa, trăm mối cảm hoài. Gió ngọn thông sát bờ sông hòa cùng tiếng sóng. Quên cơ tâm làm sao giống được chim âu nằm trên bãi cát. Sách Liệt Tử viết: Người miền biển có kẻ thích chim âu, mỗi sớm ra biển chơi với chúng, chúng kéo đến hàng trăm con. Bố người ấy bảo rằng: Ta nghe nói chim âu bay đến chơi với người, hãy bắt nó vềđây cho ta xem. Sáng hôm sau người con ra biển, chim âu bay múa trên không mà chẳng có con nào đáp xuống. Theo Liệt Tử chimâu là loài không có cơ tâm, tức trong lòng không có mưu đồ.Nhiễm thói đời, khác nào như chim thước cho mượn tổ. Kinh Thi, thơ Thước sào có câu: Chim thước có tổ, chim cưu đến ở. (Duy  thước hữu sào, duy cưu cư chi) Trạng thái sự vật chẳng cùng như mây biến ảo. Lòng nhớ quê hương những sánh vầng trăng côđơn. Khói sương đất khách làm cho người giàđi. Trông gương râu trắng như hoa, bóng cũng đùa cợt.
 GHI CẢM HOÀI ĐÁP VŨ CÔNG BỘ
Trăm mối cảm hoài xe sứ ra,
Bờ sông tiếng sóng gió thông hòa.
Lòng an chẳng được, âu trên cát,
Đời thói khác chi, thước mượn nhà.
Vạn vật chẳng cùng mây biến ảo,
Quê hương nhung nhớ ánh trăng qua.
Khói sương đất khách, thân già cỗi,
Bóng cũng đùa gương, râu trắng hoa.
THƯ HOÀI ĐÁP VŨ CÔNG BỘ (VŨ HUY TẤN)
Tỷ ỷ chinh dư bách cảm giao,
Tùng phong giáp ngạn hưởng bôn đào.
Vong cơ na tự âu miên chử,
Mỗi tục ninh phi thước tả sào.
Vật thái mạc cùng vân biến ảo,
Hương tâm không đối nguyệt cô cao.
Khách trình yên vụ thôi nhân lão,
Kinh lý hoa nhiêm ảnh diệc trào.
Đình Pha Tiên ở trên núi Xích Tỵ phía ngoài thành huyện Hoàng Cương, ngôi đình xây dựa vào núi, rường cột hoa lệ, bức bình phong bằng gỗ khắc hai bài: ‘Tiền Hậu Xích Bích’. Vách đá khắc hình Tô Đông Pha, hai bên khắc cây mai cây trúc và bài đề Vịnh mai trúc của ông.
Tô Đông Pha (Tô Thức) là người hào hoa phóng khoáng, người đời gọi là Pha Tiên.  Sứ đoàn dừng chân  đi chơi đình Pha Tiên, nơi Tô Đông Pha viết hai bài thơ Tiền Hậu Xích Bích.
Gác núi dựa bên thành, nhìn xuống bãi nổi quanh co. Mọi người nói ngôi đình Xích Tỵ là của Pha Tiên. Bức tượng trang nghiêm tao nhã còn lưu ở vách núi cao. Bài phú cổ rực sáng vẫn rọi trên bức bình phong vuông. Không vì cầm bút cười hoa cúc vàng. Thì sao có thuyền chỡ rượu linh lục. Linh lục là một thứ rượu ngon, hai câu 5, 6 này nhắc lại chuyện thơ giữa Vương An Thạch và TôĐông Pha. Khi Vương đi Hàn Châu trở về có làm hai câu thơ:Tây phong tạc dạ quá viên lâm,Suy lạc hoàng hoa mãn địa câm. Gió Tây đêm trước thổi rừng cây,Làm rụng cúc vàng mặt đất đầy. TôĐông Pha đến chơi, đọc xong liền viết hai câu thơ hàm ý chỉ trích quan Tể Tướng: Hoàng hoa bất cộng mai hoa lạc,Thuyết dữ thi nhân tử tế ngâm.Cúc vàng không giống hoa mai rụng. Khuyên nhủ nhà thơ nghĩ lại xem. Tể tướng Vương An Thạch thấy vậy, cho TôĐông Pha kiến thức còn hẹp nên đày Tô đến trấn nhậm đất Hoàng Châu. Trên đường tới nơi  bị biếm truất nhà thơ họ Tô còn chở theo thuyền rượu lục linh ngon và đồ nhắm tốt.
BUỔI CHIỀU CHƠI ĐÌNH PHA TIÊN
Góc núi bên thành nhìn bãi quanh,
Ngôi đình Xích Tỵ của Pha Tiên.
Tượng nghiêm tao nhã lưu bên vách,
Phú cổ sáng soi, vuông bức bình.
Cầm bút chẳng cười, vàng cúc rụng,
Rượu bình sao chỡ một thuyền con.
Nhớ nơi ngâm thưởng đêm thu ấy,
Vẫn tưởng người say trăng gió sông.
VÃN DU PHA TIÊN ĐÌNH
Bạng thành sơn các hám hồi đinh,
Tuân đạo Pha Tiên Xích Tỵ đình.
Nghiêm nhã di dung lưu tiểu bích,
Côn hoa cổ phú điệu hương bình.
Bất duyên phấn bút trào kim cúc,
An đắc phù chu tải lục linh.
Miến tưởng thu tiêu ngâm thưởng địa,
Giang phong sơn nguyệt túy hoàn tinh.
Dưới đình Pha Tiên. Phan Huy Ích nhớ lại chuyện xưa: Năm Tân Sửu (1781) niên hiệu Cảnh Hưng, tôi cùng các bạn đồng liêu trong phủ thích hào hoa, nên nuôi nàng hầu, đặt ca viện để cung thưởng ngoạn. Bèn mô phỏng bài thơ nôm đề tranh Xích Bích do cố nhạc nhụ tôi (Ngô Thời Sĩ) biên soạn để phổ vào bản nhạc cho ca nữ biểu diễn. Từ năm Nhân Dần (1782) trở về sau, nhân việc nước xãy ra biến cố (vụ án Trịnh Tông), nên âm nhạc cũng bị thôi từ lâu. Nay đến di tích Xích Bích của Tô Đông Pha, hồi tưởng việc qua mà cảm khái làm bài thơ này.
Từng hâm mộ hào phóng của ông già Xích Bích. Thú chơi thanh nhã được phổ vào những lời gấm vóc. Gõ thuyền giọng hát sãng khoái vần thanh tao. Rửa chén tay khéo léo múa điệu cao hứng. Cuộc đời biến đổi, mười năm làm tiêu tán việc luyện tập phổ thơ, biểu diễn âm nhạc. Đi sứ qua muôn dặm hỏi thăm dấu tiên. Bỗng nhớ kiếp phù sinh tựa như móng chim hồng trên tuyết .
DƯỚI ĐÌNH NGẪU NHIÊN CẢM XÚC
Từng mộ hào hoa Xích Bích ông,
Thanh tao gấm vóc những lời vàng.
Gõ thuyền sảng khoái vần thanh hát,
Rửa chén khéo tay điệu hứng vang.
Biến đổi mười năm tàn nhạc giáo,
Đi sứ muôn trùng hỏi dấu tiên.
Đỉnh núi ngắm mây chiều thu ấy,
Bổng nhớ phù sinh, tuyết dấu hồng.
ĐÌNH HẠ NGẪU CẢM
Hào phóng tằng hy Xích Bích ông,
Thanh du phổ nhập ỷ la tùng.
Khấu huyền dật vận ca hầu sảng,
Tẩy trản cao hoài vũ tụ công.
Thế biến thập niên huy nhạc giáo,
Sứ hoa vạn lý phỏng tiên tung.
Sơn đình diếu đảo thu vân mộ,
Hốt ký phù sinh tuyết thượng hồng.
Do dòng sông đổi cửa, nên Xích Bích thật sự nằm ở cách cửa sông 50 Km. Do đó mà  tỉnh Hồ Bắc có đến ba địa danh gọi là Xích Bích trong vùng : Xích Bích ở trên sông về phía đông bắc huyện Gia Ngư, chiến địa Tôn Quyền và Tào Tháo. Xích Bích ở ngoại thành huyện Hoàng Cương tên là núi Xích Tỵ. Tô Thức chơi thuyền ở đấy màông cho là núi Xích Bích nơi Chu Lang phá Tào. Một trái núi phía đông quận Võ Xương cũng tên Xích Bích. Phan Huy Ích vào thăm miếu thờ TôĐông Pha ở núi Xích Tỵ huyện Hoàng Cương, sau đó qua cửa sông Xích Bích, nơi TôĐông Pha viết  Tiền Hậu Xích Bích.
Đêm qua cửa sông Xích Bích: Cồn cát dằng dặc, lau lách thưa thớt. Điệu hò mái đẩy dưới trăng, thi tứ man mác. Chiến địa Tôn Tào trong đám khói lạnh. Ải sông miền Kinh Sở đầu mùa lũ dâng. Nước Sở thuộc địa phận châu Kinh (Kinh Châu) nên gọi ghép thành Kinh Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc. Kinh Sở lấy sông Trường Giang làm ải hiểm trở nên còn gọi là giang quan. Sông trắng cuộn ngang trời, cánh buồm gió căng phồng. Đèn đỏ bên kia sông soi bóng nhà thủy đình trống trải. Ai sẽ tiếp nối sau chuyến đi chơi của Pha Tiên. Cạnh bãi phía trước ghềnh, trơ chiếc thuyền chài ban đêm.
ĐÊM VƯỢT QUA CỬA SÔNG XÍCH BÍCH
Mênh mông cồn cát sậy lao thưa,
Dưới nguyệt điệu hò rộn tứ thơ.
Chiến địa Tôn Tào trong khói lạnh,
Ải sông Kinh Sở lũ dâng trào.
Ngang trời sông trắng buồm căng gió,
Trống trải đình khuya đèn đỏ ao.
Theo bước Pha Tiên chơi mấy kẻ,
Lửa chài le lói trước ghềnh cao.
DẠ ĐỘ XÍCH BÍCH GIANG KHẨU
Sa chử miên diên địch vĩ sơ,
Trạo ca thừa nguyệt tứ mang như.
Tào Tôn chiến địa hàn yên lý,
Kinh Sở giang quan thịnh lạo sơ.
Bạch lãng phù không phong phạm kính,
Hồng đăng cách ngạn thủy đình hư.
Pha Tiên du hậu tương thùy tục,
Cô đỉnh tiền than hiện dạ ngư.
 Đến nhà trạm  Võ Xương gần lầu Hoàng Hạc. Phan Huy Ích gửi quốc thư về nước cho Triều đình. Ngô Thì Nhậm túc trực tại Lạng Sơn đón quốc thư để chuyển về Thăng Long.  Kèm theo quốc thư là bài thơ gửi Ngô Thì Nhậm:  Muôn dặm ruổi rong mới được nửa đường. Tóc nhuốm sầu mà sinh bạc phơ. Bóng buồm côi ngoài gác Tình Xuyên. Tiếng đoản địch trước lầu Hoàng Hạc. Nhớ lại hương thơm hoa chỉ, chung niềm chí khí. Khiến ngòi bút hoa thay nhau vịnh việc ở, đi. Một vầng trăng tròn trên thành bên sông. Tưởng cũng sáng thâu đêm ở cầu Đông. Cầu bắc ngang sông Tô Lịch phía Đông Thành Thăng Long, thường gọi là Cầu Đông bến Đá. Trong Thăng Long  tam thập vịnh cócành Đông Kiều lộng địch (Thổi sáo ở Cầu Đông). Truyện Bích Câu Kỳ Ngộ cũng có nhắc đến Cầu Đông.
 TRẠM VÕ XƯƠNG KÈM QUỐC THƯ
GỬI BINH BỘ NGÔ (THÌ NHẬM)
Muôn dậm ruổi rong mới nửa đường,
Tóc đà nhuốm bạc, mối sầu vương.
Bóng buồm ngoài cõi Tình Xuyên gác,
Tiếng địch trước lầu Hoàng Hạc vang.
Lan chỉ nhớ hương, thương chính khí,
Thay nhau ngòi bút ở đi đồng.
Một vầng trăng sáng bên cầu vắng,
Tưởng sáng thâu đêm cầu bến Đông.
VÕ XƯƠNG DỊCH THỨ PHỤ QUỐC THƯ KÝ NGÔ BINH BỘ
Vạn lý trì khu thủy bán trình,
Phân phân hoa phát đới sầu sinh.
Tình Xuyên các ngoại cô phàm ảnh,
Hoàng Hạc lầu tiên đoản địch thanh.
Hồi ức chi hương đồng chí khí,
Phân giao tảo bút diệt cư hành.
Giang thành nhất phiến đoàn viên nguyệt,
Tưởng diệc Đông kiều triệt dạ minh.
Sau rằm tháng sáu, đến Vũ Xương thì gặp Ngô Vi Quý từ Yên Kinhđi về, Ngô Vi Quý mang quà tặng tiếp xúc với Tể tướng Hoà Thân để chuẩn bị cuộc tiếp rước sứ bộ chính thức có vua Quang Trung (giả). Trong Hải Ông thi tập Đoàn Nguyễn Tuấn có bài thơ:  Lục nguyệt vọng hậu đáo Vũ Xương ngộ Ngô Kế Dụng hòa thị tự Yên Kinh hồi, thi dữ tặng chi. Sau rằm tháng sáu tới Vũ Xương, gặp người bạn là Ngô Dụng Hòa từ Yên Kinh trở về, liền làm thơ tặng.  Dụng Hòa là một bút danh của Ngô Vi Quý.
Bè tiên đi trong ánh sáng sao Ngưu, sao Đẩu xa tít .  Kinh sở tuế thời ký chép: Trương Khiên nhà Hán vâng mệnh cưỡi bèđi tìm nguồn sông Hoàng Hà lên đến địa vực sao Ngưu, sao Đẩu. Về sau người ta hay dùng điển này để chỉ việc đi sứ. Văn sĩ gặp lại nhau trong vận hội hưng thịnh. Đai mũ tám phen hầu trướng ngự. Mây ráng muôn dặm chứa bầu thơ. Xong việc công đáng khen xe sứ ra về yên ổn. Lười như ta, còn thẹn bận rộn nơi đất khách. Trên lầu ca nhạc là chốn gặp gỡ vui vẻ trân trọng. Núi sông lần lượt đón tiếp ngôi sao sứ thần.
HỌA TIỄN QUAN HÀN LÂM HỌ NGÔ
HIệU THANH PHONG ĐI SỨ VỀ.
Ngô Vi Quý người làng Tả Thanh Oai, Hà Tây.
Bè tiên Ngưu Đẩu ánh sao sa.
Văn sĩ gặp nhau hội thịnh hoà.
Đai mũ tám phen hầu trướng ngự,
Bầu thơ muôn dậm ráng chiều pha.
Việc xong xe sứ về yên ổn,
Đất khách rộn ràng lười phận ta.
Trân trọng vui nơi lầu ca nhạc,
Tiếp ngôi sao sứ, một sơn hà.
HỌA TIỄN THANH PHONG NGÔ HÀN LÂM SỨ HỒI
Tiên sà dao phiếm Đẩu Ngưu quang,
Văn sĩ trùng phùng vận hội xương.
Quan bội bát phiên bồi ngự ác,
Vân hà vạn lý trữ ngâm trang.
Hoàn công đa tiễn qui thiều ổn,
Lãn ngã do tàm khách lộ mang.
Trân trọng kê lâu hoan ngộ xứ,
Giang sơn diệt tiếp sứ tinh lang.
Hà Nam là đất châu Dự đời xưa, vẫn gọi là Trung Châu, có bãi phẳng mông mênh. Hoa màu chỉ có kê, lúa mì, lúa mạch, không thích nghi trồng lúa tẻ. Bên đường liễu mọc thành hàng, dân ở đó ăn lúa mì, ở nhà đất, vật sản ít ỏi. Sứ bộ đi tới châu Tín Dương thì đổi kiệu đi xe, toàn bộ hành lý để trên xe chở đi. Mỗi cổ xe dùng bốn ngựa hoặc lừa kéo đằng trước, tiếng xe kêu như sấm, bụi bay đầy đường, cảnh đi cũng khá vất vả.
Đất ngoại thành bằng phẳng, mây ráng buổi sớm treo trên từng không. Xe ầm ầm, ngựa mạnh mẽ, rộn tiếng hành ca. Ruộng mạch mùa hè chín, bông rủ vàng óng, Đường liễu cơn gió lộng, cát bay trắng xóa. Tập tục của dân phần lớn ưa chuộng mộc mạc. Vị trí của đất rõ ràng ở chổôn hòa.Giáo hóa, uy tín nhà vua xưa nay ban bố khắp miền Trung Châu. Cần gì phải là nơi đất đai phì nhiêu, cảnh vật đẹp đẽ.
Phong cảnh châu Dự đứng đầu Trung Nguyên. Dựa xe tỏ niềm cảm hứng hỏi thăm dấu xưa. Sông năm trăm năm luống ví nụ cười. Núi ba vạn tuổi bỗng nhiên biết nói. Sông Hoàng Hà tục truyền răng cứ  năm trăm năm có một lần trong. Người ta víđó với nụ cười  Bao Công, vì Bao Công xửán rất nghiêm minh mà không mấy khi thấy ông cười. Núi Tung Sơn ở huyện Lạc Dương là Trung nhạc, ngọn núi ở chính giữa danh tiếng trong hàng ngũ nhạc ở Trung Quốc, theo Hán Thư: Hán VũĐế lên thăm núi Tung Sơn bỗng nghe có tiếng hô, người đương thời cho là thần núi hiển linh. Mãnh đất cao thấp là dấu vết đôấp các triều đại. NhàÂn đóng đôở Bặc, Cảnh, Tướng, Triều Ca. Nhà Chu ở Lạc. Đông Hán đóng đôở Cảo Nam. Tào Tháo đóng đôở Hứa. Nhà Đường đóng đôở Lạc. Nhà Tống đóng đôở Biện. Tất cả đều địa phận tỉnh Hồ Nam. Làng xóm xa gần là di chỉ ngoại thành liệt quốc. Phân giới cũ các nước Trịnh, Vệ, Hứa, Trần đều là những nơi sứ bộđi qua. Lại càng đắn đo khi thuyền về Giang Nam yên ổn. Chuyến này đi ngắm xem thắng cảnh khắp trời đất. Khi ấy sứ bộ ta định khi nào vào yết kiến sẽ xin tâu xin đi đường thủy về nước để được xem phong cảnh khắp Nam Kinh.
TRÊN ĐƯỜNG HÀ NAM
I
Lơ lững mây hồng đường phẳng bằng,
Ầm ầm xe ngựa rộn ca thanh.
Rực vàng lúa mạch đồng mùa hạ,
Gió trắng cát tung đường liễu xanh.
Tập tục dân quê thường mộc mạc.
Rõ ràng địa lý đất an lành.
Xưa nay thanh giáo miền Trung Thổ,
Chẳng phải phì nhiêu cảnh vật thanh.
I I
Phong vật Trung Nguyên đất Dự Châu,
Dựa xe cảm hứng hỏi vài câu.
Năm trăm năm sống không cười được,
Ba vạn niên non núi nói đâu ?
Mãnh đất biết bao triều đại trước,
Xóm làng gần liệt quốc, chư hầu.
An lành thuyền đến Giang Nam đó,
Ngao du thắng cảnh đất trời sâu.
HÀ NAM ĐẠO TRUNG
I
Thần đãng giao nguyên quải thự hà,
Xa lân tứ phụ náo hành ca.
Mạch điền hạ thục hoàng thùy lũng,
Liễu lộ phong cao bạch tán sa.
Dân tập đại đô sùng giàn phát,
Địa dư đoan đích nhạ xung hòa.
Cổ kim thanh giáo phu trung thổ,
Khởi tất phồn dư điệu vật hoa.
I I
Dự châu phong vật giáp Trung nguyên,
Phỏng cổ hứng hoài nhất ỷ viên.
Hà ngũ bách niên không tỷ tiếu,
Sơn tam vạn tuế hốt năng ngôn.
Lịch triều đô ấp cao đê lũng,
Liệt quốc giao thư viễn cận thôn.
Cánh nghĩ Giang Nam qui trạo ổn,
Tư du thắng lãm biến kiền khôn.
Đến miếu Nhạc Phi ở Yển Thành Phan Huy Ích viết :  Chí hùng tráng khẳng khái mong uống rượu ở Hoàng Long. Hoàng Long là kinh đô nhà Kim. Đất Kim là phần đất từ Khai Nguyên trở lên phía bắc tỉnh Phụng Thiên và toàn bộ tỉnh Cát Lâm. Nhạc Phi đánh nhau với quân Kim thề trước ba quân rằng: Tiến thẳng đến Hoàng Long rồi uống bữa rượu thật say ở đó ngày chiến thắng. Áo giáp sắt và mũ đâu mâu hò hét chỉ thành hư không. Nhạc Phi đang thắng to, quân Kim đang thua thì Tể tướng Tần Cối chủ trương ký hòa ước với quân Kim. Để thực hiện âm mưu độc ác, một ngày  mười kim bài lệnh vua đòi Nhạc Phi phải rút quân về triều. Nhạc Phi đành rút quân về, bị Tần Cối hạ ngục rồi giết chết. Cuộc kháng chiến quân Nam Tống tan rã. Đội hương quân đón phụ lão hân hoan. Kim bài phụng chiếu, thương khóc anh hùng. Trời xui Nam Tống ngu bởi chữ  “hòa “ người vì Trung Nguyên tiếc công chiến đấu. Bừng bừng căm phẫn còn sót lại trên đất kiếm cung. Một sân tùng bách  gió gào chiều hôm.
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)