Tìm kiếm Blog này

Trần Doãn Nho: Norman Mailer, nhà văn “đa sự” của văn chương Hoa Kỳ

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

LTS. Cách đây không lâu DĐTK đã đăng một bài viết vắn tắt về Norman Mailer của nhà biên khảo Trần Doãn Nho. Nay tác giả gửi về Tòa soạn một bài đầy đủ hơn về tác giả này, mời bạn đọc theo dõi. DĐTK

Mailer sinh ở Long Branch, tiểu bang New Jersey vào ngày 31 tháng 1 năm 1923. Cha, Isaac Barnett, là một di dân Nam Phi gốc Do Thái, kinh doanh một tiệm tạp hóa và đã từng đảm nhiệm chức giáo trưởng Do Thái giáo không chính thức của thị trấn. Mẹ, Fanny Schneider, thuộc một dòng họ nổi tiếng cư ngụ ở Long Branch. Dù có thêm một đứa con gái nữa, Barbara, nhưng bà yêu Norman Mailer nhất. Bà cho con trai của mình là “toàn hảo” và vẫn giữ cái nhìn đó cho dù về sau Mailer thay đổi rất nhiều. Lên chín tuổi, Mailer theo gia đình về Brooklyn, New York. Tốt nghiệp trung học, ông ghi danh vào đại học Harvard. Ông theo học ngành kỹ sư hàng không nhưng khi lên năm thứ hai, ông bỗng nhiên đâm ra mê văn chương và nuôi mộng thành đạt trong văn giới. Ông dành hết cả mùa hè đọc truyện của những tác giả yêu thích như James Farrell, John Steinbeck, John Dos Passos và tập tễnh viết. Năm sau, ông đoạt giải truyện ngắn hay nhất của tạp chí "Story" dành cho sinh viên lớp cử nhân với “The Greatest Thing in the World.”


Tốt nghiệp đại học năm 1943, Mailer quyết tâm theo nghiệp văn chương. Ông viết một truyện dài cả ngàn trang lấy đề tài từ một bệnh viện tâm thần, nhưng không biết vì lý do gì, truyện này không hề được xuất bản. Đầu năm 1944, sau khi cưới vợ, ông nhập ngũ và được điều đi phục vụ ở Phi Luật Tân. Mailer không trực tiếp tham gia chiến đấu ngoài mặt trận, chỉ lo hậu cần và chấm dứt binh nghiệp của mình với tư cách là một tay đầu bếp. Bạn đồng ngũ Mailer nhớ lại chàng trung sĩ Mailer thường lo “chiến đấu với cấp chỉ huy của mình hơn là với kẻ thù”. Khi chiến tranh chấm dứt, được giải ngũ, ông qua Pháp vào học đại học Sorbonne. Trong thời gian này, với những kinh nghiệm đời lính sống động, ông viết "The Naked and the Dead" (Những kẻ trần truồng và những người chết) trong vòng 15 tháng. Tác phẩm xuất bản vào năm 1948 và thành công ngay, cả về phương diện thương mại cũng như văn chương.

Thế là ông nghiễm nhiên đi vào văn giới. Lúc đó, ông mới vừa 25 tuổi.Cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Norman Mailer rất “đa sự.”

Con người ông chẳng khác gì một nhân vật tiểu thuyết. Bởi thế, trước khi đề cập đến lãnh vực văn chương, tưởng cũng thú vị khi ghi lại đây một số nét về con người và vài sự kiện đầy kịch tính xảy ra trong đời của ông.
Nói cho ngay, Mailer là người có nhiều “tật xấu”. Từ lúc còn nhỏ, ông đã thích chưng diện, thích “show up”, thích được mọi người chú ý. Bạn bè cùng lớp ở Harvard nhớ về Mailer như một anh chàng ăn to nói lớn và thường trâng tráo kể chuyện tục tĩu. Ra đời, về sau, ông là một tay một tay ăn chơi phóng đãng, thay nhân tình như thay áo, nghiện rượu và nghiện thuốc phiện nặng. Là một người có thân hình to, cao, ngoại khổ và một cá tính mạnh mẽ, ông là một người hiếu động, tính tình nóng nảy, đôi khi thô lỗ, ưa gây gổ. Ông không ngại đấu đá, bằng lời, bằng chữ hay bằng sức. Một người bạn thân và thỉnh thoảng trở thành một địch thủ, nhà văn Gore Vidal, cho biết là bất cứ khi nào gặp một tay phê bình hay người điểm sách, dù là bạn thân, Mailer cũng đưa nắm tay ra sẵn sàng tấn công và thủ thế. “Mailer thường la lớn mỗi khi muốn kể cho chúng tôi một điều gì mới hay kể một câu chuyện mà chúng tôi không nghe và rồi tìm cách làm sao cho chúng tôi phải nghe cho được,” Vidal kể. Mailer nhiều lần thách đấu với những võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp. 
Tính nóng nảy đưa đến một tai nạn suýt làm tiêu tan sự nghiệp của ông. Đó là vào năm 1960, trong một buổi dạ tiệc tại nhà, ông cầm dao đâm bị thương bà vợ thứ hai, Adele Morales. Nhưng may mắn cho ông, vì yêu ông, bà Morales không kiện cáo gì, nên ông thoát khỏi lưới pháp luật, chỉ chịu hai năm tù treo và hai người vẫn sống với nhau thêm một thời gian nữa. Sau này, khi đã bình phục, Morales xuất bản một cuốn hồi ký về cuộc hôn nhân với tựa đề “The Last Party”, trong đó, bà kể lại những cảm giác của bà sau tai nạn. Vụ đâm vợ này khiến Mailer trở thành đích điểm để cho những nhà nữ quyền tấn công dữ dội. Chưa hết, năm 1968, ông lại gây thêm một vụ tai tiếng nữa, cũng xuất phát từ tính nóng nảy: đánh gãy răng diễn viên Lane Smith và cắn đứt tai diễn viên Rip Torn trong khi quay cuốn phim “Maidstone” do ông làm đạo diễn. Ngoài ra, ông cũng nhiều lần dính líu đến pháp luật vì những tai nạn lặt vặt như say rượu, hút xách, làm mất trật tự, vân vân. Một lần khác, ông bị bắt vì tham gia cuộc tuần hành chống chiến tranh vào năm 1967.
Là một người đầy tham vọng và ham hố, Mailer đi mọi nơi và thử mọi thứ. Ông ít khi từ nan làm bất cứ điều gì mà ông thích. Ngoài chuyện viết lách, ông còn tham gia nhiều hoạt động khác, kể cả chính trị. Năm 1969, ông ứng cử thị trưởng New York với chủ trương “ly khai” (secessionist), muốn New York trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ, nhưng thất cử. Có lúc, ông làm cố vấn cho tổng thống Mỹ. Ông tham dự hàng chục cuộc hội thảo, xuất hiện và tham gia tranh luận hàng trăm lần trong các diễn đàn đại học về nhiều đề tài khác nhau. Năm 1989, Mailer tích cực vận động hỗ trợ cho nhà văn Salman Rushdie khi ông này bị giáo chủ Hồi Giáo Iran kết án tử hình vì đã viết tác phẩm The Satanic Verses
Trong những hoạt động khác của ông, có một chuyện đáng gọi là “cười ra nước mắt”. Số là có một tù nhân tên là Jack Henry Abbott chịu án tù dài hạn vì tội giết người. Sau khi đọc được tác phẩm The Executioner’s Song, anh ta viết thư cho Mailer kể về cuộc sống tồi tệ của tù nhân. Chịu ấn tượng mạnh mẽ của những lá thư, Mailer giúp Jack in một cuốn sách, có tựa đề In the Belly of the Beast. Năm 1981, do sự vận động hết mình của Mailer, Jack được tạm phóng thích. Nhưng chỉ sáu tuần lễ sau, trong một cuộc cãi vả, Jack rút dao đâm chết anh chàng bồi bàn trẻ tuổi tại một quán ăn, để rồi sau đó, phải trở lại nhà tù với một bản án mới. Riêng Mailer, ông ngậm ngùi nhận thêm một vết đen không cách gì tẩy rửa nổi vào bản tiểu sử của mình. Nghĩ cho cùng, tất cả cũng chỉ vì cái tội “đành hanh” và "đa sự"!
Về đời sống gia đình, Mailer có sáu vợ và 9 đứa con, tất cả hiện còn sống. Bà vợ đầu tiên cưới năm 1944 là Beatrice Silverman, ly dị năm 1952. Bà thứ hai, Adele Morales, cưới năm 1954. Bà thứ ba, Lady Jeanne Campbell, thuộc dòng dõi quý tộc Anh, cưới năm 1962 và li dị năm sau, 1963. Vợ thứ tư, Beverly Bentley, người mẫu, cưới năm 1963. Bà thứ năm, Carol Stevens, cưới năm 1980 và li dị ngay ngày hôm sau. (Đám cưới này thực ra chỉ để hợp pháp hóa một đứa con của hai người sinh trước đó, năm 1971). Bà vợ cuối cùng, cưới năm 1980 là Norris Church, một người mẫu sau thành nhà văn. Tuy lăng nhăng và gặp nhiều rối rắm trong tình trường, Mailer là một đàn ông rất tận tụy với gia đình. Từ đầu thập niên 1960, do gánh nặng tài chánh vì nuôi con ăn học và các trợ cấp gia đình khác, ông phải viết vội viết vàng hai cuốn truyện theo đơn đặt hàng để có tiền chi trả, trong đó có An American Dream (1965), là tác phẩm sau này được tờ tạp chí Time ca ngợi là một tác phẩm hay, báo hiệu sự trở lại của tài năng Mailer.
Cũng lạ! Thế mới hay, cái hay và cái dở trong văn chương đôi khi không dễ nghĩ, bàn.
Tính nết bất thường của Mailer còn biểu hiện qua một sự kiện khác: cái nhà. Đầu năm 1960, ông mua một căn nhà ở Brooklyn Heights, New York, nơi mà ông sống hầu hết cuộc đời, kể cả trong những ngày tháng cuối cùng. Căn nhà nhìn ra khu Manhattan. Phòng khách được thiết kế theo một kiểu kỳ lạ được buộc chặt bằng dây nhợ và lưới của một chiếc tàu thủy. Lối tiếp cận duy nhất với phòng làm việc của ông là bằng sợi dây. Khi có tiệc tùng, ông khuyến khích khách khứa tham gia vào một cuộc thi, leo lên leo xuống dây như là một cách giải trí..
Dẫu đa sự và nhiều “tật” như thế, trong số những nhà văn cùng thời, Mailer vẫn được nhiều người ngưỡng mộ. Chẳng hạn như nhà văn Gore Vidal. Theo Vidal, Mailer là một nghệ sĩ thực sự. “Ông là một người mà những lỗi lầm tuy nhiều, nhưng nên thêm vào chứ không nên trừ ra khỏi tổng số những thành tựu vốn sẵn của ông.”
Giống như con người, sự nghiệp văn chương của Mailer cũng “đa sự” không kém. Theo nhận xét của những nhà nghiên cứu văn học Hoa Kỳ, thì không có một nhà văn nào mà đời sống cũng như sự nghiệp văn chương vừa rực rỡ, vừa đa dạng lại vừa gây nên tranh cãi và bị hiểu lầm đến thế. Tác phẩm cũng như đời sống của ông "được" công chúng soi bói, mổ xẻ trong một thời gian dài. Ngoại trừ Edgar Allan Poe, chưa nhà văn nào đồng thời vừa được ca ngợi và vừa bị chưởi rủa như ông. Tùy lúc, tùy cách nhìn, Mailer được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau. Lúc đầu, khi cuốn truyện đầu tay được xuất bản, Mailer được gọi là “enfant terrible” (một tài năng khác thường). Sau này, đã thành danh, khi thì ông được gọi là "eminent literary journalist" (nhà viết báo xuất sắc), khi thì là “drama king" (ông vua viết kịch bản), khi thì là “macho prince of American letters" (ông hoàng đực rựa của nền văn chương Mỹ), khi thì là “pugnacious prince of American Letters" (ông hoàng ưa gây gổ của văn chương Mỹ), khi thì là “literary lion" (khuôn mặt văn chương tiếng tăm), khi thì là “larger-than-life writer" (nhà văn lớn hơn cuộc đời), vân vân.
Khen là thế, nhưng đồng thời nhiều lần, ông bị tấn công và đôi lúc bị tấn công nặng nề đến nỗi (khoảng giữa thập niên 1970), một số nhà phê bình văn chương còn tìm cách loại ông ra khỏi hàng ngũ các nhà văn Mỹ. Nói cho đúng ra, hầu hết những cuộc tấn công đều xuất phát từ sự trả đũa các bài viết và thái độ khiêu khích cố hữu của chính ông.
Vào giữa thập niên 1950, ông ngã về xu hướng chống các định chế xã hội (anti-establishment), ủng hộ những “hipster” (hipster = kẻ nổi loạn chống các định chế xã hội, tiền thân của phong trào “hippies” vào thập niên 1970), tán thành chủ trương của nhóm "Beat Generation". Trong một bài tiểu luận nhan đề “White Negro: Reflections on the Hipster” (Người Phi châu da trắng: Suy gẫm về kẻ nổi loạn), lần đầu tiên in ở tạp chí “Dissent” (1956) sau in lại trong “Advertisements for Myself” (1959), Mailer ghi lại làn sóng những thanh niên da trắng yêu thích nhạc Jazz và Swing đến nỗi họ thừa nhận văn hóa da đen như chính văn hóa của họ. Những người này bắt chước cách ăn mặc, cách sinh hoạt của người da đen và cố tách biệt ra khỏi xã hội da trắng. Bài tiểu luận gây ra tranh cãi sôi nổi chỉ vì cái nhìn biện chứng của Mailer không thuyết phục được đại đa số quần chúng, đen cũng như trắng. Nhà văn da đen nổi tiếng, James Baldwin, thú nhận rằng dù cố gắng hết sức, ông cũng không hiểu nổi ý nghĩa của bài viết. Một điểm quan trọng khác trong bài tiểu luận này là Mailer tuyên bố việc giết một chủ tiệm người da trắng do hai người da đen thực hiện là một thí dụ cho hiện tượng ông gọi là “thách đố cái vô danh” (daring the unknown). Theo một số người, điều này gián tiếp ca ngợi bạo động, xem đó như là một hành vi hiện sinh.
Thập niên 1970, Mailer dính líu đến cuộc tranh cãi lâu dài với các nhà nữ quyền. Năm 1971, trong tác phẩm The Prisoner of Sex, ông cho rằng chính phái tính quyết định cách mà con người nhận thức và điều dụng hiện thực. Quan điểm này bị các nhà nữ quyền Hoa Kỳ chỉ trích dữ dội. Có lần, sau một cuộc tranh cãi tại Town Hall, phố Manhattan, New York, với Germaine Greer, con chim đầu đàn của phong trào nữ quyền thời bấy giờ, Mailer tuyên bố ông là “kẻ thù của thuốc ngừa thai.” Sau đó, Mailer bị Kate Millet, trong cuốn Sexual Politics, gọi là một “quintessential male chauvinist pig” (gã đực rựa cực đoan chính cống).
Mailer viết nhiều, viết khỏe qua nhiều thể loại khác nhau: truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, tiểu sử, tiểu luận đủ loại (chính trị, xã hội, văn chương, thể thao...), bút chiến, phóng sự, thơ, kịch, kịch bản phim. Ngoài ra, có lúc, ông còn làm đạo diễn phim và ngay cả đóng phim. Ông là một trong những người sáng lập ra tạp chí The Village Voice (1955). Năm 1984, ông được bầu làm chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ (American PEN Center). Thành tích lớn lao về nhiều mặt đã giúp ông đoạt nhiều nhiều giải văn chương từ nhỏ đến lớn trong đó có hai giải Pulitzer - với The Armies of the NightThe Executioner's Song - và đặc biệt, được trao tặng giải National Book Award để vinh danh toàn bộ sự nghiệp viết lách của ông. 

Nhìn chung, sự nghiệp viết lách của Mailer lên, xuống bất thường. Ông viết nhiều, nhưng không đều tay, có cuốn hay thì thật hay, mà cuốn thì lại khá dở hoặc không dở thì “có vấn đề” đến nổi có tác phẩm như The Deer Park bị đến 6 nhà xuất bản từ chối trước khi nhà xuất bản Putnam nhận in.
Truyện đầu tay, như đã đề cập ở trên, là The Naked and the Dead. Truyện viết về một trung đội gồm 13 người lính chiến đấu với quân Nhật trong một đảo san hô ở Thái Bình Dương. The Naked and the Dead có tính hiện thực hơn All quiet on the West Front (Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh) của Eric Maria Remarques và không quá tình cảm như Farewell to Arms (Giã từ vũ khí) của Ernest Hemingway. Trong truyện có nhiều đoạn hồi tưởng về quá khứ lẫn lộn với những cảnh chiến đấu ác liệt. Đó là một tác phẩm thuộc loại tập sự (apprentice work), phần lớn bắt chước lối viết của những nhà văn mà Mailer ưa thích như Dos Passos, Farrell và Tolstoy. Chẳng thế mà sau này, ông thú nhận là khi viết cuốn truyện, “Tôi chẳng biết gì về chuyện viết lách. Thực sự, tôi là một kẻ mạo danh” (impostor). Ấy thế mà chỉ trong vòng ba tháng, 200 ngàn ấn bản được bán sạch, một con số quá lớn vào giai đoạn đó. Khi xuất hiện, tác phẩm vừa được ca ngợi như là một trong những truyện hay nhất về đệ nhị thế chiến, đồng thời lại bị lên án là tục tĩu và bị than phiền là chứa đựng tình cảm ghét bỏ đời lính. Ở Anh, nhiều nhà xuất bản từ chối xuất bản cuốn sách vì thứ ngôn ngữ quá dung tục, quá “lính tráng” của nó có thể làm độc giả dị ứng. Thực ra, theo nhà phê bình David Dempsey, thứ ngôn ngữ đó không có gì quá đáng vì chúng là thứ được sử dụng khi con người đang sống trong tình trạng giữa cái sống và cái chết, giữa máu lửa và chết chóc của chiến tranh.
Sau thành công bất ngờ của The Naked and the Dead, ông viết tiếp truyện Barbary Shore (1951) đề cập đến chủ nghĩa chống Cộng cực đoan của McCathy –McCarthyism - nhưng không thành công. Cuốn thứ ba, The Deer Park (1955), cũng chẳng hơn gì, thậm chí lúc đầu, có đến sáu nhà xuất bản từ chối in vì nội dung quá nặng về tình dục. Có lẽ quá thất vọng nên sau đó, ông nghĩ viết tiểu thuyết một thời gian dài, mãi cho đến 10 năm sau mới có truyện mới. Tổng cộng, ông xuất bản tất cả 11 truyện dài và một tập truyện ngắn. Ngoài ba truyện vừa đề cập, những truyện nổi tiếng khác gồm có: An American Dream (1965), Why Are We in Viet Nam (1967), The Executioner’s Song (1979), The Gospel According to the Son (1997) và truyện cuối cùng là “The Castle in the Forest” (2007). Một số truyện dài không hoàn toàn là hư cấu mà dựa vào những nhân vật có thật, như The Executioner’s Song dựa theo cuộc đời của người tử tội Gary Gilmore, hay The Castle in the Forest dựa vào cuộc đời của nhà độc tài Đức Quốc Xã Hitler. Còn tác phẩm có nhan đề nhắc đến Việt Nam, Why Are We in Viet Nam, lại chẳng nói gì về chiến tranh Việt Nam mà chỉ kể lại những chuyện xảy ra đối với chàng thanh niên trước ngày lên đường sang Việt Nam chiến đấu.
Ngoài truyện hư cấu, ông viết nhiều tác phẩm phi-hư cấu (non-fiction) khác nhau. Nổi tiếng nhất là The White Negro (1957), Advertisements for Myself (1959), The Presidential Papers (1963), The Armies of the Night (1968), Prisoner of Sex (1971), các tác phẩm viết về tiểu sử một số nhân vật nổi tiếng như Marilyn: a Biography (1973) viết về nữ tài tử Marilyn Monroe, Portrait of Picasso as a Young Man: An Interpretative Biography (1995) viết về danh họa Picasso, Oswald’s Tale (1996) viết về người đã giết tổng thống Kennedy. Bên cạnh đó, ông còn viết truyện phim, giám đốc sản xuất, đạo diễn và cả đóng phim trong Wild 90 (1967 - dựa theo truyện The Deer Park), Beyond the Law (1968), Maidstone (1971 - dựa theo The Armies of the Night), Tough Guys Don’t DanceThe Executioner’s Song.
Mailer thuộc loại nhà văn xem viết lách là một công việc cao cả, chỉ có thể do những người tài ba mới làm được. Ông có tham vọng lớn, tự mình muốn so tài, không những những nhà văn cùng thời mà còn muốn vươn ngang tầm vóc của những đại văn hào thế giới như Tolstoy hay Dostoyevsky. Có lần, ông không ngượng ngùng tuyên bố là ông muốn viết “một tiểu thuyết mà cả Dostoyevsky lẫn Marx; Joyce lẫn Freud; Stendhal, Tolstoy, Proust lẫn Spengler; Faulkner, và ngay cả ông già Hemingway có thể đến để đọc.” Ông muốn “thay da đổi thịt” của đất nước (Mỹ) bằng tác phẩm của mình, muốn “thay đổi ý thức” thời đại. Ông muốn viết một “Đại Thư” (Big Book), một cuốn “Tiểu Thuyết Mỹ Vĩ Đại” (Great American Novel).
Mailer thuộc loại người tôn thờ triết lý ái ngã (solipsistic). Ông tìm cách huyền thoại hóa mình khi sử dụng chính cá tính bản thân để chỉ ra xem thế giới đã thay đổi như thế nào. Thay vì viết một cuốn tiểu thuyết vĩ đại về nước Mỹ nhằm nói lên tiếng nói của thời đại và của quốc gia, càng lúc ông càng dùng các tác phẩm như là sân khấu để ông trình diễn những ý tưởng - đôi khi kỳ quặc và quá đáng - của riêng ông về bạo động, về tình dục cũng như về quyền hành. Trong một số tác phẩm, cốt truyện và các sự kiện gần như không quan trọng. Các nhân vật đi, đứng, nằm ngồi và phát ngôn đều là hiện thân của lý thuyết riêng của chính ông, một thứ nhân vật mang tên là Mailer dấu mặt. Tựa đề một trong những tác phẩm của ông là “Quảng cáo cho chính tôi” (Advertisements for Myself) qua đó, ông không ngượng ngịu đánh bóng cá nhân và quan điểm của riêng ông. Trong một tác phẩm khác, The Armies of the Night, nhân vật chính chính là Norman Mailer.
Có lúc, ông thú nhận rằng sự chuyên tâm không giấu giếm vào cá nhân ông như thế là một đáp ứng cho tiếng tăm mà ông thành đạt qua tác phẩm đầu tiên The Naked and the Dead: Từ một người quan sát đến người bị quan sát, hắn ta (Mailer) học cách “sống trong cái quan tài chạm trổ chính hình ảnh của mình” (the sarcophagus of his image). Trong các tác phẩm sau viết về các nhân vật lịch sử, chúng cũng được tạo ra ít nhiều theo hình ảnh của Mailer (Maileresque heroes), đôi khi kỳ dị, chẳng thích hợp tí nào từ Picasso, Lee Harvey Oswald (người giết Kennedy) cho đến Jesus Christ và sau cùng là Hitler, theo nhận định của Michiko Kakutani (New York Times): Picasso được xem là một nghệ sĩ anh hùng (heroic artist), Oawald được xem là một người “nổi loạn nhìn xa trông rộng” (visionary malcontent). Trong The Gospel According to the Son một tác phẩm viết ở ngôi thứ nhất về Chúa Jesus, dường như ông còn muốn đi xa hơn: tự xem mình là Thượng Đế, như lời mỉa mai của một số nhà phê bình không ưa ông. Trong The Castle in the Forest, tác phẩm sau cùng, viết về Hitler, trong đó, người kể chuyện là một con quỷ, một nhân vật mà ông rất tâm đắc. “Nó gần gũi như một nhà văn tìm được một niềm vui không được đền đáp. Chúng ta là những con quỷ khi tất cả được nói ra và làm xong”.
Vào đầu thập niên 1980, qua một cuộc phỏng vấn, Mailer thừa nhận rằng hấu hết những ý tưởng của ông về bạo động, về Thượng Đế…đều xuất phát từ những gì ông có trong đầu từ những năm 1950, khi ông tự xác định quan điểm chống lại những định chế xã hội hiện đương của xứ sở. Càng ngày ông “càng ít phải thăm dò, tìm kiếm mà chỉ là chiếm đóng những vùng đất mà ta đã từng thăm dò trước kia” (…) “Cái diễn ra bây giờ là ta trở thành chính cái mũ trên đầu mình. Ta không còn thú vị thưởng thức tinh thần riêng của mình theo cách khi mình còn trẻ, nhưng ta có cái sản phẩm trong đầu để làm việc”. Ông kể, có lần ông chạy bổ tới gặp Henry Kissinger, vốn là ngoại trưởng Mỹ, để hỏi ông ta là ông có hứng thú với sự kích thích trí thức của công việc hay không, Kissinger trả lời “Tôi làm việc với những ý tưởng tôi có từ hồi còn học ở Harvard.” Mailer cho rằng nhận xét đó của Kissinger rất phù hợp với hoàn cảnh của chính ông. Những gì được viết ra và thực hiện trong đời chỉ là sự triển khai những ý tưởng có sẵn trong ông từ thời còn trẻ.
Mailer có loại hành văn chắc, khỏe, gân guốc, sắc cạnh và liên lỉ. Đặc biệt, cách viết rất riêng ông đã tạo ra một phong cách viết báo kiểu mới, về sau được mệnh danh là “literary journalism”. Đó là một cách viết tổng hợp các biến cố có thật kết hợp với tự truyện, bình luận chính trị và hư cấu tiểu thuyết hay nói cách khác, là một loại phi hư cấu nhưng mang hơi văn, ngôn ngữ và cách diễn đạt của truyện hư cấu. Theo nhiều nhà phê bình, “literary journalism” là một thể loại đặc biệt thích hợp để tường thuật về những xáo trộn và thay đổi trong thập niên 1970, một thập niên kỳ lạ, rối loạn đến nỗi, dưới nhãn quan của một số người, chúng vượt qua mọi điều mà một nhà văn có thể tưởng tượng. Lối viết này được Mailer sử dụng lần đầu trong "The Armies of the Night", nói lên kinh nghiệm riêng của ông trong cuộc diễn hành chống chiến tranh về Ngũ Giác Đài năm 1967. Một tác phẩm khác, The Executioner’s Song, cũng với kỹ thuật viết pha trộn đó và bằng một lối văn giản dị, trần trụi, ông đã nắm bắt dược giọng nói của những người trong cuộc đời của người tử tù Gary Gilmore, biến cuộc đời thật của anh ta thành một thiên sử thi bàn về tình yêu, bạo động và cái chết. Người ta xem đó là một kiệt tác và nó đã đoạt giải Pulitzer. Nhà văn nữ Joan Didion, trong một bài viết trên New York Times về tác phẩm, nhận định: “Có một sự kiện ít ai để ý về Mailer là ông là một cây bút có tầm vóc và bị ám ảnh, một nhà văn mà sự sắp xếp câu chữ tạo nên câu chuyện. Câu của ông không dài hoặc ngắn đi do tình cờ hay do ông quá vội. Tôi cho rằng chẳng có ai ngoài Mailer là dám viết một cuốn như thế này. Tiếng nói phương Tây đích thực, tiếng nói vang vọng trong The Executioner’s Song là thứ tiếng nói người ta thường chỉ nghe trong cuộc sống nhưng hiếm khi nghe trong văn chương” (dẫn theo Todd Leopold, CNN).
Trong các tác phẩm hay nhất của mình, theo Michiko Kakutani (trong bài viết “Mailer made America his subject), Mailer đã biến nước Mỹ thành chủ đề. Trong khi túm lấy mọi thứ, từ chính trị đến chuyện đấu võ đài, từ du hành không gian cho đến các tài tử điện ảnh, từ tình dục cho đến nghệ thuật, ông cố gắng diễn tả những mâu thuẫn của xứ sở trước những biến động mới mẻ và không lường trước được của lịch sử sau Đệ Nhị thế chiến. Bằng con mắt quan sát nhanh nhạy, xuyên suốt và bằng một lối văn đầy gây gổ, Mailer đã sử dụng tài năng ghi chép của mình, nắm bắt được tinh thần của người Mỹ đang chao đảo, mất phương hướng từ các phong trào đòi quyền dân sự và chống chiến tranh của thập niên 1960 cho đến vụ tai tiếng Watergate của thập niên 1970.
Hồi còn nhỏ, Mailer mơ ước trở thành một nhà văn. Khi đã thành danh rồi, ông muốn trở thành một nhà văn vĩ đại. Tuy nhiên, dù bươn chải, tung hoành ngang dọc suốt sáu thập niên trên văn đàn, rốt cuộc, giấc mơ ông không trọn vẹn. Ông trở thành một nhà văn nổi tiếng (tất nhiên thôi). Ông trở thành “nhà viết báo xuất sắc nhất Hoa Kỳ” (the best journalist in America) nhưng lại không là “nhà văn xuất sắc nhất” như ông từng mơ ước. Lý do chính có thể là vì, khi viết, đầu óc làm báo khống chế đầu óc viết văn. Chuyện thời sự đè bẹp tài năng hư cấu, sáng tạo. Theo nhận định của James Campbell (Guardian Unlimited online, 10/11/07) thì “Ông thiếu sự cô đơn cần thiết để suy tưởng và sáng tạo. Văn trong truyện của ông thiếu sự linh hoạt và vô tư. Ông không thể ngăn mình can thiệp vào nhân vật và ép chúng nói theo quan điểm riêng của ông.” Sự pha trộn hư cấu/thời sự đã giúp tạo ra được một thứ văn phong mang tính cách riêng của Norman Mailer, literary journalism, qua các tác phẩm The Armies of Night, Miami and the Siege of Chicago, Of a Fire on the Moon..., tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nó có thể đã góp phần cản trở ông trở thành một nhà văn vĩ đại, người có thể viết một “Đại Thư” như ước mơ của ông lúc sinh thời.
Trong một cuộc phỏng vấn do hãng AP thực hiện, Mailer nói: “Truyện hư cấu vốn đã là tất cả mọi điều. Tất cả chúng ta đều muốn trở thành Hemingway. Tôi không cho rằng điều đó sẽ được lập lại. Tôi không cho rằng tác phẩm của tôi gây cảm hứng cho bất cứ một nhà văn nào nữa, không giống như Hemingway đã từng gây cảm hứng cho tôi.” Nghe ra có chút ngậm ngùi! Tôi thì tôi không bi quan như ông. Cả một cuộc đời ngang dọc sống động dường ấy cùng với xấp xỉ 40 tác phẩm, làm sao ông lường hết được những ảnh hưởng vô cùng lớn lao mà ông để lại cho thế hệ đến sau.
Norman Mailer từ trần hôm 10 tháng 11/2007. Sức khỏe của ông đã bắt đầu suy yếu từ những năm 1990. Ông bị bệnh thấp khớp và đau ngực. Tai bị mổ, không nghe rõ, ông phải mang máy trợ thính. Nhưng không vì thế mà khả năng làm việc ông bị giảm bớt, nhất là sau khi ông chấp nhận bắt đầu một cuộc sống thanh bạch từ năm 1995, thề quyết bỏ uống rượu khi làm việc. Những năm cuối đời, ông lui về sống lặng lẽ ở thị trấn Provincetown, bang Massachusetts. Tháng 9/2007, khi bệnh trở nặng, gia đình đưa ông về New York để tiện việc chăm sóc. Ông mất tại bệnh viện Mount Sinai Hospital, New York, vì suy thận cấp tính, hưởng thọ 84 tuổi. Tang lễ của Norman Mailer đã được cử hành vào sáng ngày 13/11/2007 tại một nghĩa trang ở vùng biển Cape Cod, thị trấn Provincetown, với sự tham dự của chừng vài chục người trong gia đình và bạn bè thân thiết.
Phát biểu sau khi nghe tin Mailer vừa từ trần, Jason Epstein, người phụ trách biên soạn lại nhiều tác phẩm cùa Mailer ở nhà xuất bản Random House, gọi Mailer là “tiếng nói vĩ đại của nước Mỹ” (great American Voice). “Ông là người tuyệt đối không chán nản, bỏ cuộc. Vào những lúc cuối cùng, dù sức khỏe sa sút hoàn toàn nhưng ông vẫn có kế hoạch viết tiếp tác phẩm gồm bảy tập về Hitler”. Nhà văn William Kennedy nói: “Ông biết rõ ông chẳng còn sống được bao lâu nữa, nhưng ông vẫn nói chuyện về những dự án lớn nhất. Ông luôn luôn làm việc”. E.L. Doctorow, người làm việc với Mailer trong thập niên 1960 và là người biên tập cho nhà xuất bản Dial Press nhận xét: “Trong bản chất, ông sử dụng một loại văn phong quá đáng. Có nhiều lúc, quý vị có thể quá ngán ngẩm với ông, nhưng nếu nhìn lại nền văn hóa Mỹ trong vòng 50 năm vừa qua, quý vị thấy sẽ quá buồn chán nếu vắng bóng Norman Mailer”. Đặc biệt, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy – người vừa có chuyến viếng thăm chính thức nước Mỹ vào đầu tháng 11/2007 - ca ngợi ông là “một trong những tiếng nói lương tâm của nước Mỹ mà tôi kính trọng” (Le Monde 10/11/07). 
TDN
  
Phụ lục:
Phỏng vấn Norman Mailer 
Để hiểu thêm về nhà văn đặc biệt này, xin theo dõi một số trích đoạn bài phỏng vấn Norman Mailer nhân dịp ông ăn mừng thượng thọ 80 tuổi, đăng tải trên tờ Newsweek, số cuối tháng 1/2003.
Hỏi: Ông đã từng nổi tiếng là người nhất quyết ở với văn đàn Nữu Ước. Sao bây giờ ông lại sống ở đây, Provincetown (bang Massachusetts) quanh năm vậy?
Đáp: Vâng, có lẽ bởi vì tôi có nhiều việc phải hoàn tất ở đây. Tôi yêu thích thị trấn này. Có lẽ đây là thị trấn tự do nhất trên vùng bờ biển phía Đông. Vùng này từ lâu đời vốn là nơi cư ngụ của bọn hải tặc và buôn lậu. Và di dân nữa. Nhưng bây giờ ở đây thoải mái lắm. Chẳng ai quan tâm đến việc anh đang làm. Hoặc đã làm. Chẳng ai thèm biết đến vai vế của anh.
Hỏi: Ông có thể nói sơ qua về tác phẩm mà ông đang viết không?
Đáp: Tôi không nói gì về cuốn truyện đó đâu...Tôi cũng chẳng nói về đề tài của nó nữa. Nhưng nói thật tôi đã viết được chừng 200 trang rồi (Lời người dịch: tức là cuốn The Castle in the Forest) và có lẽ tôi sẽ khá bận bịu trong những ngày tháng còn lại trong đời viết lách của tôi - ít ra là như thế. Cũng đầy tham vọng như những gì tôi đã từng viết trước đây. Viết truyện cũng làm hại thể xác lắm. Vả lại, như ông biết, tôi thích dùng tài năng hơn là tiểu xảo.
Hỏi: Có tác phẩm nào trước đây mà ông nghĩ là hay hơn để chúng ta có thể bàn?
Đáp: Không đâu. Người ta chẳng mấy quan tâm. Khi nghe tôi đang viết một tác phẩm về Ai Cập (tức là Ancient Evenings= Những chiều xưa), họ nói rằng "Ồ...nghe hay...đấy...", thế thôi. Thế nhưng giả sử như nghe tôi đang viết về cuộc sống tình ái bí mật của George Bush, thì hẳn là khối câu hỏi sẽ dồn dập bay đến, phải không?
Hỏi: Chuyện tình của Bush chắc chỉ là một cuốn ngắn thôi.
Đáp: Đâu có biết được. Tôi nghĩ nếu ông ta có một cuộc đời tình ái bí mật thì cũng gây nhiều ấn tượng đấy. Một phụ nữ  rất thông minh đã có lần nói với tôi về những phiền phức mà Bill Clinton chịu đựng (khi ông ta làm tổng thống) "Ông biết không, ông ta thực sự sống chẳng khác gì một tù nhân bởi vì cứ mỗi một 15 giây thì đám Mật Vụ lại kiểm tra ông ta". Nếu ông ta là một tội phạm - và ông ta bị nhốt trong một nhà tù an ninh tối thiểu đàng hoàng nhất trên thế giới - thì ông phải hãnh diện là mình đã đánh gục được cái hệ thống (canh phòng) mình chứ. Ấy, ông ta đã làm được điều ấy đấy, vì ông ta có cái chất đàn ông riêng của ông ta. Có phải là chúng ta muốn có một tổng thống đàn ông phải không? Hãy xem chuyện gì đã xảy ra, ta đã có một tổng thống như thế, phải không nào.
Hỏi: Ông nghĩ gì về chuyện Iraq?
Đáp: Hãy bỏ ngoài tai ba cái chuyện giảng nghĩa thông thường - chẳng hạn như dầu lửa hay chuyện những người nắm quyền ở xứ sở này sẽ nắm được vị trí chỉ đạo ở vùng Cận Đông nếu họ thắng -, bỏ qua mấy chuyện đó đi, thì sự thực là, chiến tranh có thể sẽ vẫn cứ tiếp diễn. Nhưng tôi không cho rằng cái đó làm phiền nhiều các đấng lãnh tụ của chúng ta. Tôi cho rằng họ thích cái ý tưởng là nếu đất nước có chiến tranh thì họ có thể chận đứng tất cả mọi thứ "tự do" như tự do yêu đương, tự do đồng tính luyến ái, giải phóng phụ nữ, nghĩa là tất cả những gì mà họ ghét. Họ lợi dụng cơ hội mà chẳng cần thắc mắc là rồi mọi chuyện sẽ đi đến đâu. Nguy cơ càng kéo dài thì họ càng có cái cớ để tạo ra một xã hội mới. Chúng ta đang sống trong một thời đại kỳ quặc mà.
Hỏi: Nhà văn có cần viết những điều làm cho người ta bực mình không?
Đáp: Có lẽ là cần. Chúng tôi là những viên ngọc trai mà.
Hỏi: Trong tác phẩm mới, ông có tranh cãi về sự phân biệt giữa tiểu thuyết hư cấu với phi-hư cấu không?
Đáp: Vâng, tôi khẳng định rằng tất cả đều là hư cấu. (...) Tôi cho rằng hay nhất là nên loại bỏ hẳn đi cái khái niệm cho rằng hễ anh chồng chất những sự kiện trong truyện là anh tả thực.
Hỏi: Sức khỏe của ông độ này ra sao?
Đáp: Hai đầu gối đau. Nhưng tôi nghĩ thực sự vấn đề chính khi ta già là ta học làm sao để khỏi than thân trách phận. Dĩ nhiên, niềm tin tôn giáo khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhờ trời, tôi không phải là loại người cho rằng chết là hết. Ngược lại, tôi tin ở chuyện nghiệp báo (karma), tôi tin ở sự tái sinh - không phải cho bất cứ ai! Tôi nghĩ  tái sinh là phần thưởng cho một số phận. Còn tái sinh như thế nào thì là chuyện khác. Một điều kỳ diệu khác nữa là khi già, ta làm việc hiệu quả hơn và tiết kiệm hơn. Vì ta sẽ chẳng còn muốn làm tổng thống Hoa Kỳ hoặc làm nhà văn vĩ đại nhất còn sống nữa. Ta biết ngay là điều đó hoàn toàn vô nghĩa. Ta đang ở trong vòng đua của lịch sử. Ta có thể dễ dàng bị quên lãng trong vòng 20, 30, 40 năm. Nhưng có gì quan trọng đâu (...)
Hỏi: Đọc qua những cuộc phỏng vấn mà ông đã thực hiện, tôi hiểu tại sao ông không thích chúng. Hầu hết đều muốn dùng quá khứ của ông như một cái gậy để chọc con sư tử già giữa các chấn song. Họ muốn ông kể chuyện về chuyện ông đâm bà vợ thứ hai. (...).
Đáp: Nhưng vụ đâm (vợ) là không thể tha thứ được. Và vì tôi chẳng phải chịu một hình phạt thật sự nào cho vụ đó, có người cho rằng tôi đã thoát khỏi một cách dễ dàng. Thực ra, tôi phải chịu hai năm tù treo, cái đó thật nặng nề, nhưng chắc chắn không phải là hình phạt. Có lẽ họ có lý. Tôi thì tôi tin người ta phải trả giá cho những việc mình làm và phải trả rất nặng sau khi chết. Tôi chắc mẫm rằng thế nào tôi cũng phải trả giá cho việc làm đó. (...)
Hỏi: Trong tác phẩm mới của ông, ông có nói rằng những thứ mà ông thù ghét nhất trong đời bây giờ đều phát triển mạnh mẽ.
Đáp: Đồ nhựa, các siêu xa lộ và loại kiến trúc cao ốc là ba thứ mà tôi ghét cay ghét đắng. Lại còn cái đám chính khách tẻ nhạt khiến cho tình hình càng ngày càng tệ. Tôi nói rồi, chính cái đó làm cho xứ sở này càng lúc càng thô lỗ - chúng khiến cho những người Mỹ yêu nước nổi giận. Bây giờ thì toàn thế giới đều bắt chước theo lối đó bởi vì chúng ta đã và đang xuất cảng cái thứ thô lỗ này. Một trong những di sản văn hóa vĩ đại của chúng ta là: rác rưới bẩn thỉu.
Hỏi: Vậy có gì trông khá hơn không, theo ông?
Đáp: Tôi cho rằng báo chí  có vẻ khá hơn - chuyện viết lách cũng thế. Tôi dám quả quyết rằng tờ New York Times hiện nay viết khá hơn cách đây 40 năm. Tiểu thuyết thì không hẳn như thế. Tiểu thuyết đã trở nên mờ nhạt từ cuối thế kỷ thứ 19 bởi vì một sự kiện không thể tránh được là nó chẳng còn quan trọng đối với sinh hoạt văn hóa của con người như nó đã có trước đây. Phim ảnh và rồi truyền hình đã thay thế nó. Các tiểu thuyết gia đã mất hẳn cái cảm giác là họ tạo nên sự thay đổi. Trước đây, tiểu thuyết đã từng đóng vai trò như thế (...) Chẳng hạn như tôi thực sự tin rằng ở một điểm nào đó tôi đã là động cơ thực sự khiến cho John Kennedy đã được đắc cử vào năm 1960. Phải thừa nhận rằng càng ngày càng có nhiều nhà văn tài năng ngày nay. Đề tài họ hạn hẹp hơn, nhưng kỹ thuật và tài năng của họ càng lúc càng tinh tế. 
(chuyển ngữ: Trần Doãn Nho)

Tài liệu tham khảo:
- Charles Mcgrath, Norman Mailer, Outspoken Novelist, Dies at 84 (NYTimes 10/11)
- Michiko Kakutani , Mailer Made America His Subject (Nytimes 10/11)
- Books and Writers, Norman Mailer
- Richard Pyle, Associated Press, (11/10/07)
- J. M. Coetzee, điểm sách “Portrait of the Monster as a Young Artist
- Gary Indiana, The Devil You Know, The Devil You Don't
- James Campbell, Norman Mailer, Guardian Unlimited 10/11/07
- Le Monde, CNN, AP, AFP (10/11/07) và Boston Globe (13/11/07)

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)