Tìm kiếm Blog này

Trần Doãn Nho: Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết”

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017


Alain Robbe-Grillet, nhà văn tiền phong Pháp, người được xem là “cha đẻ” trào lưu tân tiểu thuyết thời hậu chiến. Ông sinh ngày 18 tháng 8 năm 1922 tại Saint-Pierre-Quilbion, gần Brest ở Brittany, Pháp quốc trong một gia đình có truyền thống khoa học kỹ thuật. Năm 1940, ông lên Paris đi học. Năm 1946, ông tốt nghiệp Viện Canh Nông Quốc Gia và làm việc tại Viện Thống Kê Quốc Gia. Ông bắt đầu viết vào những năm cuối thập niên 1940. Tác phẩm đầu tay là một truyện dài có tựa đề “Le Régicide” (Kẻ giết vua) viết vào năm 1949 nhưng chỉ được xuất bản vào năm 1978. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là “Les gommes” (Những cục tẩy) vào năm 1953. Truyện kể về một tay thám tử đi điều tra kẻ sát nhân trong một vụ án chưa hề xảy ra, để cuối cùng khám phá ra rằng chính định mệnh đã khiến cho anh ta trở thành một kẻ sát nhân. Với một cách viết hoàn toàn mới, cả về cách hành văn lẫn bố cục và nhân vật, “Les gommes” đánh dấu cho một cuộc cách mạng toàn diện trong tiểu thuyết mà về sau  mệnh danh là “Tân tiểu thuyết”, được Roland Barthes ca ngợi là một tiểu thuyết của tương lai.


Hai năm sau, 1955, ông xuất bản cuốn thứ hai, “Le voyeur” (Kẻ nhìn trộm). Truyện xoay quanh các chi tiết đáng ngờ của một vụ sát nhân. Truyện có rất ít đối thoại, không hề diễn tả trạng thái nội tâm cũng như tư tưởng của nhân vật và thời gian thì hoàn toàn mơ hồ. Tác phẩm này lôi cuốn đuợc thêm sự tán thưởng của một số các nhà trí thức tiền phong khác. Tuy thế, cách xây dựng nhân vật lạnh lùng, vô cảm khiến cho người ta giật mình, hoảng sợ. Chính vì thế mà mặc dầu đoạt giải “Critiques”, có một sự kiện không mấy vui: một trong các giám khảo của giải từ chức để phản đối. Mặt khác, những nhà phê bình và điểm sách bảo thủ nhất loạt đứng lên tấn công tác giả. Điều nghịch lý là, thay vì dìm Robbe-Grillet xuống, cuộc tấn công đó đã vô tình đưa tác phẩm của ông vào giòng chính của cuộc tranh cãi văn chương.
Sau cuốn này, ông chính thức bỏ nghề nghiên cứu khoa học, và dành hết thời giờ cho việc viết lách. Ông phụ trách biên tập về văn chương cho nhà xuất bản Minuit mà giám đốc, Jerome Lindon, một người có con mắt “thấu thị”, dám đứng ra xuất bản tác phẩm cách tân đầu tiên, “Les gommes”,  của một nhà văn vô danh là ông, vì nhìn thấy trước được vai trò của nó trong thế giới văn chương tương lai. Đầu thập niên 1970, ông cộng tác với tạp chí văn chương “Tel Quel”, nơi tập trung những cây bút lừng lẫy một thời như Julia Kristeva, Jacques Derrida, Roland Barthes… Sau “Les gommes” và “Le voyeur”, trong vòng 20 năm, ông xuất bản thêm chừng một tá tác phẩm, trong đó có những cuốn nổi bật như “La jalousie” (1957), “Souvenirs du Triangle d’Or” (1978), “La reprise” (2001)… Trong số đó, “La jalousie” được đánh giá rất cao. Truyện dựng trong khung cảnh một căn nhà thuộc địa trên một đồn điền chuối, liên hệ đến cuộc điều tra có tính khoa học về khả năng quan sát của con người. Được viết ở ngôi thứ nhất và phi-tuyến tính (non-linear), nó kể lại câu chuyện của một người chồng nghi ngờ vợ mình có quan hệ bất chính với một kẻ láng giềng, nhìn qua khe hở của bức mành mành để quan sát người tình của vợ. Mặc dù là người kể chuyện nhưng nhân vật (người chồng) không bao giờ sử dụng đại từ ngôi thứ nhất (tức là “tôi”). Hắn ta kể lại những biến cố trong đó hắn hiện diện mà y như thể hắn không hiện diện ở đó; sự hiện diện chỉ đuợc suy đoán qua chỗ ngồi trong bàn ăn hay vị trí của các chiếc ghế đặt trong mái hiên. Hắn ta cũng diễn tả những hình ảnh mà người đọc tùy nghi, có thể xem chúng là thực cũng được hay là sản phẩm của tưởng tượng cũng được, đặc biệt là về những gì dính dáng đến vụ ngoại tình. Ngay cái tựa đề cũng có tính cách “chơi chữ”. Trong tiếng Pháp, jalousie vừa có nghĩa là “ghen” mà cũng vừa có nghĩa là “bức mành mành”.
Tác phẩm mới nhất là “Un roman sentimental”, xuất bản chỉ vài tháng trước khi ông qua đời, tháng 10/2007. Cuốn này gây nên chấn động trong giới chức Pháp vì chứa đựng nhiều đoạn diễn tả táo bạo các quan hệ tình dục loạn luân.
Nhìn chung, thế giới tiểu thuyết của Robbe-Grillet là một thế giới đầy lo âu và bạc nhược. Diễn biến truyện thường xuất phát từ một âm mưu đen tối, một chuyện bí ẩn, một cuộc săn đuổi đầy ám ảnh hay một cuộc điều tra nghẹt thở, nhưng lại đưa đến những kết cục mơ hồ, những sự kiện không giải thích khiến cho độc giả phải tự xếp đặt lại vô số những mảnh vụn chi tiết mới tạm có một ý niệm nào đó về câu chuyện. Truyện chuyên chở ý nghĩa của sự khủng hoảng, chán nản nhưng lại không hề được làm sáng tỏ, chúng cứ nằm chờn vờn đâu đó bên lề của ý thức. Các nhân vật của Robbe-Grillet hiện hữu mà như bị chuyển dịch ra khỏi chính họ. Điều này phản ảnh sự tan vỡ ảo tưởng của tác giả đối với tất cả những hình thức ổn định về chính trị và niềm tin của con người. Cũng như nhiều người Pháp khác cùng thế hệ, cái nhìn bạc nhược về thế giới chịu ảnh hưởng tâm lý nặng nề gây ra bởi sự sụp đổ của nước Pháp trước sức tấn công của Đức Quốc Xã thời Thế Chiến II. Các tác phẩm của ông, do đó, tuy được các nhà trí thức tiền phong ca ngợi nhưng bị xa lánh bởi các thành phần bảo thủ vốn chiếm đa số trong văn giới Pháp thời đó.
Thực ra, chẳng phải Robbe-Grillet là người duy nhất  “sáng chế” ra lối viết cách tân gọi là “tân tiểu thuyết”. Xu hướng “tân tiểu thuyết” xuất hiện từ những năm đầu thập niên 1950, lúc đầu lẻ tẻ, rời rạc, về sau dần dần kết hợp lại với nhau và tạo thành một phong trào, trong đó, ngoài Robbe-Grillet, còn có một số nhà văn khác như Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon. Điểm chung tìm thấy trong các tác phẩm thử nghiệm của họ là sự chối bỏ tất cả những quy ước viết truyện truyền thống như cốt truyện, nhân vật, tính biên niên và hình thức chương, hồi. Mãi đến năm 1963, “tân tiểu thuyết” mới được hệ thống hóa qua tập tiểu luận “Pour un nouveau roman” (Phấn đấu cho một nền tiểu thuyết mới) do Alain Robbe-Grillet viết, chính thức đặt nền tảng lý thuyết cho trào lưu tân tiểu thuyết. Cuốn sách cung cấp cách nhìn, cách giải thích cho những ai  muốn tìm hiểu phương pháp sáng tác cũng như ý nghĩa của những tác phẩm mới. Tác phẩm lý luận này được nhà phê bình văn học Anh Frank Kermode đánh giá là “một trong những góp phần thực sự quan trọng cho lý thuyết viết tiểu thuyết”.
Về cụm từ “nouveau roman” (tân tiểu thuyết), Robbe-Grillet  cho biết nó “không nhằm chỉ ra một trường phái nào” cả. Nó chỉ là “một cách gọi thuận tiện những người đang tìm kiếm những hình thức tiểu thuyết mới có thể diễn tả (hay sáng tạo) những tương quan mới giữa con người và thế giới.”[i] Sở dĩ thế là vì “sự lập lại một cách có hệ thống những hình thức của quá khứ không những phi lý và vô ích, mà còn độc hại nữa.” Những hình thức quá khứ đó, theo Robbe-Grillet,  là hình thức tiểu thuyết khởi nguồn từ Balzac, nhà văn Pháp thế kỷ thứ 19,  qua đó, tiểu thuyết được xem như là nhân vật và cốt truyện. Với tính cách là một cốt truyện, nhà văn chỉ còn là người viết thuê. “Hành vi viết sẽ chỉ là một phương tiện, một tính cách.  Nền tảng của tiểu thuyết, lý do hiện hữu của nó, cái nằm bên trong của nó, giản dị chỉ là câu chuyện mà nó kể.

Khác với cách nhìn cổ điển như thế, thế giới chung quanh chúng ta, theo ông, chẳng có ý nghĩa mà cũng chẳng phi lý.  Nó chỉ hiện hữu, thế thôi. Những sự vật là ở đó (les choses sont là). Chúng ở đây và bây giờ (ici et maintenant). Hiện hữu của nó chỉ trong sự hiện diện cụ thể, chắc chắn, vật chất. Ngoài điều chúng ta trông thấy ra, chẳng còn có gì hết trơn. Nó hiện hữu trước khi nó hiện hữu cho chúng ta, nghĩa là trước khi trở thành “một cái gì đó”(quelque chose). Do đó nó không là tài sản của riêng ai, nó cũng không phải là đối tượng để chinh phục. Và ý nghĩa của thế giới chỉ là rời rạc, tạm bợ, vô thường, mâu thuẫn. Vậy thì, một tác phẩm băn khoăn về điều đó để làm gì. Thực tại có ý nghĩa gì không? Nhà văn hiện đại không cần trả lời câu hỏi này. Nó không cần biết đến. Tiểu thuyết hiện đại chỉ là một sự thăm dò, thăm dò dần dần tự tạo ra ý nghĩa riêng của chúng. Bởi thế, khi diễn đạt sự vật, nhà văn không băn khoăn về nội dung của chúng, mà là sự diễn tiến của nó. Ta sẽ không có quá khứ, không dự phóng, không có đạo đức cá nhân, không siêu hình gì hết. Mọi kinh nghiệm nội tâm đều vô ích. Quan điểm này, theo Martin Seymour-Smith, cho thấy Robbe-Grillet đi gần đến thuyết tâm cử học (behaviorism), theo đó, mọi ý nghĩa tiềm ẩn của tâm lý con người có thể quan sát qua hành vi, cử chỉ. Nhân vật hôm qua không chứa đựng thực tại hôm nay. Tiểu thuyết, vì thế, không phải là kể chuyện đã qua theo thứ tự thời gian, mà làm cho độc giả sống với nhân vật, sống những hành động dấu ẩn đàng sau các cử chỉ khi chúng đang diễn tiến. Theo Robbe-Grillet “tất cả cái lợi của những trang sách diễn tả  - nghĩa là vị trí cuả con người trong những trang này - không phải nằm trong những sự vật được diễn tả, mà nằm ngay trong chuyển động của sự diễn tả.”  Tại sao?  Tại vì “hiện tại tự sáng tạo không ngừng, tự lập lại, tự gấp đôi lên, tự bổ túc, tự xóa bỏ, không bao giờ chất đống để làm thành “một quá khứ.” Robbe-Grillet khẳng định “Văn bản không phải là sự phô bày một chân lý, mà là cuộc phiêu lưu của một tự do.”
Từ những nhận định trên, các “tân tiểu thuyết” xây dựng nhân vật với những chi tiết lý lịch sơ sài, thậm chí không có lý lịch, không có cá tính, không tên tuổi. Thời gian và không gian thì cực kỳ mơ hồ. Thay vào đó là sự tường thuật một cách dửng dưng, khách quan những cảm nghĩ, những cử chỉ, hành động của nhân vật và những sự vật bề bộn chung quanh. Nhân vật tiểu thuyết là một con người, thế thôi, không cần phải tra vấn gì thêm.  Để trả lời cho những cáo buộc cho rằng tân tiểu thuyết là phi-nhân bản, Robbe-Grillet bảo rằng, trong tiểu thuyết của ông “chính một con người nhìn thấy, phục vụ, tưởng tượng, một con người ở trong không gian và thời gian, được điều kiện hóa bởi những đam mê của nó; một con người như  anh và tôi. Và tác phẩm không nói một điều gì khác hơn là kinh nghiệm của nó, một kinh nghiệm có giới hạn, bất trắc.” Robbe-Grillet cho rằng sau một thế kỷ ngự trị,  nhân vật chỉ còn là một huyền thoại. Nó  đánh dấu một thời đại trong đó, chủ nghĩa cá nhân của giai cấp trưởng giả đang hồi cực thịnh. Nó là một xác ướp không hơn không kém.
Dẫu vậy, theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, Robbe-Grillet không loại bỏ hoàn toàn sự hiện hữu nhân vật ra khỏi các sáng tác của mình. Trong các tác phẩm ít nhiều mang tính chất hồi ức về sau như “Le miroir qui revient” (1985), “Angélique ou l’enchantement” (1988), “Les derniers jours de Corinthe” (1994), ông quay trở lại với hình thức viết truyền thống. Patrick Grainville, thành viên trong ban giám khảo giải văn chương Médicis (Pháp) khẳng định  là “Trong các cuốn tiểu thuyết đó, cách hành văn của ông rất cổ điển, rất kiềm chế, gần gũi với cách hành văn của Chateaubriand”.
Ngoài tiểu thuyết, Robbe-Grillet còn viết kịch bản phim và đạo diễn phim. Với tên tuổi lên cao trong văn giới, vào năm 1961, ông được mời viết kịch bản phim cho phim “L’année dernière à Marienbad” của Alain Resnais. Ông mang không khí của tân tiểu thuyết với loại văn phong phi-cá tính vào phim ảnh qua sự tương tác như trong mơ của ba nhân vật không tên trong một tòa lâu đài. Nhà phê bình Jean de Baroncelli so sánh phim này với bức tranh “Les demoiselles d’Avignon” trong quá trình tiến đến hội họa lập thể của Picasso. Lúc đầu, phim không được chiếu cho công chúng xem vì quá khó hiểu đối với trình độ thưởng ngoạn đương thời. Nhưng sau đó, nó đoạt được giải thưởng “Golden Lion” tại Liên Hoan Phim Venise. Nhờ đó, khi mang ra chiếu, nó phá kỷ lục về số khán giả tham dự. Sau đó, ông chính thức nhảy hẳn vào ngành điện ảnh, không những để viết kịch bản phim mà còn làm đạo diễn. Trong số cả chục phim do ông đạo diễn, có những phim rất nổi tiếng và được đánh giá cao vào giữa thập niên 1970 như “Glissements progressifs du plaisir" (Những cơn trượt dài của khoái lạc), “L’homme qui ment” (Người nói láo/1968), “La belle captive” (Người nữ tù xinh đẹp/1983),  "Jeu avec le feu" (Đùa với lửa).
Tuy viết nhiều, và là người tiên phong của một trào lưu tiểu thuyết, nhưng ngoài nước Pháp ra, Robbe-Grillet không được biết rộng rãi ở các nước khác ở châu Âu. Trái lại, ông lại khá nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Một số tác phẩm của ông được dịch sang Anh văn và phổ biến tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong hơn hai thập niên, từ 1971 cho đến 1995, ông đuợc mời giảng dạy tại các đại học New York và St Louise. 
                                                                        *
Robbe-Grillet qua đời hôm 18 tháng 2 năm 2008 tại bệnh viện đại học Caen, miền tây nước Pháp vì trụy tim. Ông thọ 85 tuổi.
Ngay sau khi được tin Robbe-Grillet mất, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, trong một bản thông cáo phát đi từ phủ Tổng Thống, gián tiếp ca ngợi ông khi cho rằng “một phần của lịch sử trí thức và văn chương Pháp đã biến mất cùng với sự ra đi của Robbe-Grillet.” Cũng theo bản thông cáo, Hàn Lâm Viện Pháp “chẳc chắn đã mất đi thành viên nổi loạn nhất của nó.” Nhận xét này ám chỉ  một sự kiện khá lý thú xảy ra vào năm 2004, xuất phát từ tính cách nghịch thường của nhà văn. Năm đó, ông được bầu chọn vào Hàn Lâm Viện Pháp, một vinh dự cao quý nhất dành cho những nhà làm văn hóa. Tuy thế, ông không chịu chấp nhận những điều quy định, theo đó, ông phải mua một bộ lễ phục đặc biệt và đọc một bài diễn văn ca ngợi người được bầu chọn trước. Ông cho rằng “Họ phải biết rằng chính tôi mang đến vinh dự cho họ, chứ không phải họ ban vinh dự cho tôi.” Bởi thế, tuy được chọn nhưng tên ông không được chính thức nằm chung danh sách với mấy chục người đồng viện.
Quả thực, ngoài sự “nổi loạn” trong văn chương, đời sống cá nhân của Robbe-Grillet đầy những sự kiện “nghịch thường” như thế. Nghịch thường đôi khi đến độ kỳ cục. Chả thế mà ông được đặt cái biệt danh là “enfant terrible” (đứa con gai ngạnh) của nền văn chương Pháp. Là người vốn thích được nổi tiếng, ông rất khoái xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế dù nói không sõi tiếng Anh. Lại ưa khoe khoang. Ông không ngượng ngùng khi tự xác định vai vế của mình trong lịch sử văn chương. “Tôi có hơi giống Chúa Giê Su”, ý ám chỉ ông là người đã sáng tạo ra một hình thức văn chương mới. “Tôi đã được quốc hữu hóa. Căn phòng tôi, căn nhà tôi ở Normandy, bộ sưu tập cây xương rồng của tôi là thuộc về họ… nghĩa là tất cả rồi sẽ trở thành một phần của tài sản quốc gia”.
Với một cá tính như thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cuộc đời ông trải qua nhiều vụ tai tiếng. Một trong những vụ tai tiếng gần đây nhất, xảy ra vào năm 2004, xuất phát từ những tiết lộ khá động trời từ chính bà vợ của ông, Catherine Rstakian. Trong cuốn hồi ức về 5 năm chung sống đầu tiên với Robbe-Grillet có tựa đề “Jeune mariée” (Cô vợ trẻ), Catherine diễn tả về chứng bất lực cũng như sự hoang tưởng về tình dục của chồng mình. “Anh ấy thích đánh đập, thích cắn, thích gây đau đớn một cách cuồng nhiệt”, bà viết. Bà cho biết hồi đó, hai người thường hay đi đến các câu lạc bộ tình dục hoặc quan hệ qua đêm với những người lạ tình cờ gặp nhau trên tàu điện. Ngoài ra, Catherine còn tiết lộ quan hệ thân xác giữa bà và Jerome Lindon, giám đốc nhà xuất bản Minuit và là bạn thân của ông. Theo bà, Robbe-Grillet chỉ bằng lòng cho hai người ngủ chung khi nào ông có thể đánh đập bà.
Dẫu đời sống gia đình bất thường như thế, hai người vẫn sống chung cho đến khi Robbe-Grillet từ trần. Hai người lấy nhau vào năm 1957. Và không có con. 
                                                                        *
Đánh giá toàn bộ sự nghiệp của Alain Robbe-Grillet, nhà phê bình John Fletcher phát biểu: “Robbe-Grillet là nhà văn quan trọng nhất – dù không hẳn là vĩ đại nhất - của Pháp, một người đã làm thay đổi bộ mặt của văn chương thế giới, cho dù là làm cho nó tốt hơn hay tệ hơn”.
                                                                                                                                                            TDN                            



[i] Những đoạn trích dẫn này lấy từ “Pour un nouveau roman”, Collection “Critique”, Les Editions de Minuit, Paris 1963.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)