Tìm kiếm Blog này

Cổ-Lũy: Nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ: thập niên thứ nhì thế kỷ 21

Thứ Năm, 8 tháng 6, 2017

TỪ NAM CALIFORNIA

Tháng Tư Đen” đã ra đi lần thứ 42; đây là dịp tiếp tục nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ một cách đúng đắn để có khái niệm phần nào về tương lai. Như thường lệ, người viết dựa vào những học hỏi, nghiên cứu, và khám phá từ người đi trước và đương thời của những chuyên gia, giáo sư đại học —những vị này cũng đều dựa vào những khám phá, học hỏi và nghiên cứu của người đi trước và đương thời, theo đúng truyền thống học thuật.
Cột báo đã đi qua liên hệ Việt-Mỹ thời ông Bill Clinton mang nhiều tính chất ngoại giao và lịch sử; thời ông George W. Bush chú trọng vào ngoại thương. Không quên những gánh nặng tiêu cực trong lịch sử ngoại giao Mỹ, Tổng Thống Barack Obama hướng liên hệ vào chiến lược lâu dài cho thế kỷ mới.
Giai đoạn thập niên thứ nhì này dựa vào tài liệu bộ Ngoại Giao Mỹ, các nghiên cứu về bang giao quốc tại George Washington University. Ông Jonathan Rauch, nhà phân tích chính trị nguyệt san The Atlantic và The Economist cũng đưa ra cái nhìn về ông Obama so với những tổng thống khác. 

NHỮNG THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC 
Tuy trong nhiệm kỳ đầu bận rộn với kinh tế và những cải tổ cấp thiết trong nước, Tổng Thống Barack Obama mang tham vọng thay đổi chính sách ngoại giao căn bản đã đeo đẳng giới lãnh đạo Mỹ sau Thế Chiến II (1945). Chính sách ngoại giao của chính quyền Obama mở đầu như  một phản ứng, với ý đi xa đường lối ngoại giao quá năng động và hung hăng của ông Bush, vốn thiếu hiểu biết về ngoại giao nên chịu những lấn lướt nặng nề từ Phó Tổng Thống Dick Cheney và Tổng Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld. Hai vị này, từng giữ vai trò quan trọng trong chính quyền Ronald Reagan bảo thủ cực đoan (xin xem TNCA tuần trước) lại nằm chặt trong vòng ảnh hưởng của giới trí thức “Tân bảo thủ/Néo-conservative” với chủ trương hùng hổ “can thiệp/interventionist” lấy thịt đè người.
Ông Obama với trí thức sâu rộng (như ông Clinton), lý tưởng và từ tâm (như Tổng Thống Jimmy Carter) muốn đi theo đường lối “soft power” dùng ngoại giao và thuyết phục, và tránh chiến tranh rộng lớn gây tai họa cho người khác và chính mình. Ông Obama đã đích thân làm 11 chuyến đi thăm thú, bàn thảo với 14 nước trong vùng Châu Á Thái Bình Dương, nhất là các nước Đông Nam Á. Đây chưa kể hàng trăm những bàn thảo, trao đổi của các tổng trưởng ngoại giao và quốc phòng Mỹ và các cấp thấp hơn cùng thời gian. Điều này chứng tỏ ý thức về tầm quan trọng của vùng và ý muốn trao đổi, nghe ngóng chứ không phải dậy dỗ, bắt buộc.
Mặt khác, những tác động trên cũng phù hợp với phản ứng của dân chúng sau tám năm Bush-Cheney: đã chán ngán chinh chiến tốn kém và đau thương, gần hai phần ba người Mỹ tin rằng Hoa Kỳ cần “lo chuyện của mình” và “để cho các nước khác lo chuyện của họ, bằng lối mà họ xem là tốt nhất,” theo thăm dò dư luận của viện nghiên cứu vô tư và thẩm quyền Pew. Đây là ý hướng “cô lập/isolationist” từng thấy sau Thế Chiến I (1918), và cũng đã lộ rõ trong và sau cuộc chiến Mỹ ở Việt Nam. Như ông Carter nhận xét, “ [Người Mỹ] rất khó mà đi vào chiến tranh, nhất là cuộc chiến như ở Việt Nam;” vì vậy, các chính quyền Mỹ muốn tham chiến lớn đều phải vin vào những lý do ghê gớm—nhiều khi đi đến chỗ thổi phồng hay bịa đặt những nguy cơ, đe dọa (như Bush-Cheney trước khi đi vào Iraq, ở bài trước).
Tuy nhiên, những ý kiến “đẹp” và lý tưởng kiểu “isolationist” lại là chuyện không tưởng, và đầy mâu thuẫn khi ta nhìn vào bối cảnh một thế giới đơn cực với Hoa Kỳ làm bá chủ (về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa). Dù không theo khuynh hướng “can thiệp,” cái bi kịch của ông Obama là chính ông cũng không thể chọn lựa vị trí “cô lập” khi Hoa Kỳ từ sau 1945 đã khởi đầu chiến lược “Be Bờ/Containment” bủa vây thế lực Nga Xô-viết đồng thời xiển dương “dân chủ tự do/liberal democracy” kiểu Mỹ khắp mọi nơi, hỗ trợ bởi sức mạnh quân sự, chính trị và kinh tế không đối thủ. Trong thế kỷ mới, đối thủ là Trung Quốc với cùng tham vọng siêu cường và phương tiện sẵn sàng.
Ngay đầu nhiệm kỳ, tháng Ba 2009, ông Obama gập “thử thách” từ hải lực Tầu làm khó khăn chiến hạm Mỹ Impeccable tuần tra trên hải phận quốc tế ở Nam Hải, mãi bên kia bờ Thái Bình Dương. Bốn tháng sau, Ngoại Trưởng Hillary Clinton, người thi hành chính sách của tổng thống, ký Hiệp Ước Thân Hữu và Hợp Tác (TAC) với Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á/ASEAN với tuyên ngôn “…[ngày nay] Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á.” Cuối năm, ông Obama làm chuyến đi 10 ngày qua các nước Nhật, Singapore, Hoa và Nam Hàn, với mục tiêu “củng cố vai trò lãnh đạo và kinh tế Mỹ trong vùng, tái thiết những liên minh cũ, [và] tạo dựng những liên hiệp mới.” Ông Obama hơi thất vọng về liên hệ với Bắc Kinh. Đúng một năm sau TAC, bà Clinton tới Hà Nội với thông điệp đưa liên hệ Việt-Mỹ tới mức cao hơn: “…[liên hệ này] là một phần trong chiến lược với mục tiêu tạo dựng những gắn bó trong vùng Á Châu Thái Bình Dương và đặc biệt là Đông Nam Á.” Cùng năm Hoa Kỳ thỏa thuận “hợp tác chiến lược” với New Zealand và Indonesia. Tuyên ngôn trên là dấu hiệu mở đầu chiến lược “chuyển trục/pivot” hay “tái quân bằng/rebalance” cô đọng ở cuối năm 2010.
Tháng Chín 2011, hai thứ trưởng quốc phòng Việt-Mỹ ký văn kiện “thúc tiến cộng tác quốc phòng song phương” với hứa hẹn cộng tác trong các lãnh vực an ninh hàng hải và đáp ứng thiên tai. Hai tháng sau bà Clinton tuyên bố thế kỷ 21 là “Thế Kỷ Thái Bình Dương Mỹ” khi Hoa Kỳ “đứng ở điểm chuyển trục” và phải “gắn bó vào những gia tăng đầu tư…trong vùng Á Châu Thái Bình Dương” trong thập niên tới. Hai tháng sau ông Obama và bà Clinton công bố “Hiệp Định Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương/Trans-Pacific Partnership” (TPP) tại Diễn Đàn Châu Á Thái Bình Dương (APEC) ở Hawaii với tuyên ngôn xếp loại TPP như “một…thỏa thuận toàn diện mở rộng thương mại và đầu tư nhằm đáp ứng những vấn đề thương mại cũ và mới, và những thử thách trong thế kỷ 21.” TPP xác định vùng Á Châu Thái Bình Dương là “ưu tiên địa dư chiến lược/geostrategic priority” của Hoa Kỳ. 
NHỮNG KHÍA CẠNH TRONG “CHUYỂN TRỤC/TÁI QUÂN BẰNG” 
Theo nghiên cứu của Elliott School of International Affairs, George Washington University, ông Obama “chuyển trục” nhắm  vào Châu Á TBD với những ưu tiên: duy trì quân số và khả năng quân sự Mỹ trong vùng dù ngân sách quốc phòng bị cắt giảm đáng kể; tỏa rộng lực lượng và căn cứ ở Đông Nam Á, Nam Á và Đông Bắc Á; phát triển chiến thuật dùng Hải-Không lực ở vùng riềm biển thuộc chủ quyền Trung Quốc và cả Iran. Việt Nam ký thỏa thuận với Hoa Kỳ về hợp tác quốc phòng mặt biển cùng những thực tập quân sự chung. Washington lần hồi huấn luyện và chuyển nhượng vũ khí, chiến cụ đến các nước trong vùng.
Về mặt kinh tế Hoa Kỳ đưa ra những sáng kiến song phương và đa phương, và hội nhập vào kinh tế đang lớn mạnh trong vùng cần thiết cho phát triển kinh tế Mỹ; gia tăng viện trợ kinh tế trong vùng lên đến bẩy phần trăm; Việt Nam thành một trong bốn nước nằm trong Sáng Kiến Xuất Cảng của ông Obama. Mặt ngoại giao cho thấy Hoa Kỳ chú trọng vào những quan hệ ở mức nguyên thủ quốc gia và cấp tổng/bộ trưởng nhằm bàn luận và thực hiện các mục tiêu về an ninh, ổn định, trao đổi kinh tế tự do và công khai, liên hệ chính trị cũng như nhân quyền và trách nhiệm nhà nước. Hoa Kỳ đóng vai trò thúc đẩy an ninh chung, tự do mậu dịch và xã hội cởi mở.
Hoa Kỳ phải khéo léo và tế nhị để không bị xem là quá bận tâm vào cạnh tranh với, hay ngăn cản bành trướng hung hăng của, Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng hiểu rằng Việt Nam và một số nước khác nằm ở vị trí địa dư và thế chính trị đặc biệt: lệ thuộc vào Trung Quốc về nhiều mặt, nên dù lo sợ và âm thầm chống đối Bắc Kinh, cũng không thể quá thân thiện hay hồ hởi ra mặt với Washington được. 
Khi ông Donald Trump đắc cử tổng thống với chủ trương ngoại giao “isolationist,” chiến lược Châu Á Thái Bình Dương của ông Obama như hoàn toàn bị đảo ngược. Đây là đề tài tiếp theo của cột báo này.

1 nhận xét

  1. Globalisation và không Global. Hai đường lối.HK không isolationist mà muốn xem lại các liên minh quốc tế. Soft power v Soviet TC khong thành công. RReagan Thatcher đã hạ dc CS nhờ sức manh. Carter Clintons Obama là nhóm phản chiến mua chữ Hòa với mọi phía. Rất lý tưởng nhưng 4 năm Carter gần 100 tr ng rơi vào vòng CS, Obama làm gì cho biển Đông ?

    Trả lờiXóa

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)