Tìm kiếm Blog này

Trần Công Nhung: Hoàng Cầm với Lá Diêu Bông

Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2017


Nhà thơ Hoàng Cầm đang ký tặng sách cho tác giả Trần Công Nhung

Nghe tên Hoàng Cầm là nhớ “Lá Diêu Bông”. “Lá Diêu Bông” như thế nào, chắc không ai biết mà ngay tác giả tìm suốt  đời cũng không thấy “Lá Diêu Bông”, cho dù đôi lần có tìm ra thì “người tình” cũng bảo không phải. “Lá Diêu Bông” mãi mãi là một huyền thoại. Huyền thoại không có trong đời thường mà sao ai cũng thương cũng nhớ, cũng muốn hiểu muốn tìm:

                        Lá Diêu Bông (1)
                                            Váy Đình Bảng buông chùng cửa Võng
                                          Chị thẩn thơ đi tìm
                                          Đồng chiều
                                            Cuống rạ
                      Chị bảo
                      Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
                      từ nay ta gọi là chồng
                      Hai ngày Em tìm thấy lá
                      Chị chau mày
                      đâu phải Lá Diêu Bông
                      Mùa đông sau Em tìm thấy lá
                      Chị lắc đầu
                                            trông nắng vãn bên sông
                     Ngày cưới chị
                                            Em tìm thấy lá
                     Chị cười
                                            xe chỉ ấm trôn kim
                     Chị ba con
                                            Em tìm thấy lá
                    Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn
                                            Từ thuở ấy
                                            Em cầm chiếc lá
                                            đi đầu non cuối bể
                    Gió quê vi vút gọi
                                            Diêu Bông hời...
                                           … ới Diêu Bông...!.

Hơn mười năm trước trong chuyến về chơi Bắc Giang, tôi được nghe một đoạn nhà thơ Hoàng Cầm trả lời đài BBC, đài này hỏi về ẩn ý trong bài “Lá Diêu Bông”, vì có nhiều người lý giải và gán cho bài thơ, nội dung mang màu sắc chính trị, trong số có nhạc sĩ Phạm Duy. Nhà Thơ Hoàng Cầm đã trả lời chẳng có ẩn dụ gì cả, nó là mối tình của Nhà Thơ lúc còn bé(2). Mười ba năm sau, tình cờ tôi có dịp thăm tác giả “Lá Diêu Bông”, vào một ngày sau Tết con Gà (2005).

 Tôi đi với một người quen đến hẻm 43 Lý Quốc Sư, từ khách sạn tôi ở, đi bộ mất 20 phút. Vừa đến đầu hẻm, thấy có chiếc xe lăn, một người đàn ông theo sau đẩy. Anh bạn nói ngay:
  -   Cụ vừa đi đâu về.
  -   Cụ Hoàng Cầm?
  -   Vâng, tôi quên nói ông, Cụ bị té gãy chân, phải ngồi xe lăn. Chúng tôi vào tới thì chiếc xe lăn vừa khuất và cửa đã khóa lại. Người bạn lên tiếng gọi, sau khi nhận ra giọng quen, một chiếc chìa khóa buộc giây dài từ cửa sổ trên cao vứt xuống. Chúng tôi lên gác, căn phòng bề ngang vừa kê một giường đơn, một bàn tròn nhỏ. Đây là nơi ăn ngủ làm việc của nhà thơ, cũng là nơi đặt bàn ăn của cả nhà. Sau cánh cửa ngăn là phòng vợ chồng con trai Cụ. Giang sơn Cụ xếp gọn trên chiếc giường rộng mét hai. Người bạn giới thiệu sơ về tôi, Cụ chào qua, không nói gì vì cả nhà đang dùng cơm trưa, và cụ vừa ở Đại Hội  Nhà Văn về, người con trai hỏi:
  -   Hôm nay Cụ có gặp các ông lớn không?

Người phụ tá trả lời:
  -   Cụ được Nông Đức Mạnh ôm hôn hai lần. Cả Đại Hội, Tổng Bí Thư chả hỏi ai, chỉ hỏi thăm Cụ.

Người con dâu không hiểu đùa hay thật thêm vào:
  -   Thế là Cụ sướng nha, lại còn được tặng cái túi xách.

Mỗi đại biểu dự hội được tặng một túi du lịch nho nhỏ bằng Simili, có lẽ hàng Trung Quốc, màu xám, một giây kéo bình thường, không có gì đáng gọi là quà văn nghệ, nhất là đối với một nhà thơ lão thành cỡ Hoàng Cầm.

Trong Xã Hội Chủ Nghĩa, những việc “ban phát” tỉ mẩn như thế thường được lưu ý, người “thụ hưởng” ít nhiều cũng cảm thấy hả hê "phấn khởi". Có lẽ từ đó sinh ra tâm lý kèn cựa, tranh chấp, dòm ngó nhau… Sống trong hoàn cảnh khó khăn, người yếu “nội lực”  khó mà đứng vững trước những bức bách về vật chất cũng như tinh thần.

Cụ Hoàng Cầm năm nay đã 84 tuổi, cụ vẫn viết, vẫn sáng tác đều đặn. Ăn uống đạm bạc, Cụ ăn mỗi bữa một bát cháo lớn, nhưng món không thể thiếu là thuốc đen. Mỗi ngày Cụ tiêm hai cữ. Nhà Thơ phải thuê riêng một người để tiêm thuốc và theo giúp đỡ Cụ lên xe xuống xe mỗi khi cần đi đâu.

Người phụ tá đang chuẩn bị bàn đèn. Xưa giờ nghe nói giới viết lách thường giao du với nàng Tiên Nâu, nhưng, chưa hề một lần thấy tận mắt. Hôm nay là lần đầu tôi được nhìn rõ bộ khay đèn và theo dõi cung cách làm thuốc, tiêm thuốc.

Chuyện không ngờ.

Nhà Thơ nằm dài trên giường nghỉ ngơi, người đàn ông đứng tuổi soạn khay đèn, mới nhìn qua đã thấy ngay “bàn đèn không chuyên”, nghĩa là bộ khay đèn kết hợp bởi nhiều thứ đồ dùng ngày nay. Khay không phải khay gỗ chạm trỗ ngày xưa mà cái chậu nhựa vuông, nông, dùng để bê bia Carlsberg trong nhà hàng. Đèn cũng loại chế tạo từ lon, chai, dọc tẩu lớn bằng ngón chân cái, dài chừng 50cm, có gắn nồi thuốc như chiếc bình độc ẩm da chu. Một cái ly cao cắm nhiều que đồng để vê và tiêm thuốc. Người tiêm dùng que đồng xắn nhỏ một viên thuốc nguyên, cỡ hạt tiêu, hơ nóng rồi lăn qua lại nhiều lần trên cái đĩa con. Khi thuốc đã “chín” nở nhuyễn, anh ấn viên thuốc vào miệng nồi, anh nằm xuống sàn nhà, quay đầu giọc tẩu cho nhà thơ ngậm, rồi châm lửa. Nhà Thơ hít một hơi dài, từ từ nhả khói trong trạng thái tâm hồn lơ mơ. Có lẽ đây là lúc “đi mây về gió” mà giới văn nhân thi sĩ mô tả xưa nay. Nhìn cảnh cụ Hoàng Cầm nằm hút, tôi mới hiểu rõ lời giải thích câu “Tửu tứ trà tam a phiến nhị” của nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển (3). A phiến phải hai người và chỉ hai người thôi. Người tiêm người hút hoặc hai người tiêm cho nhau.

  Có một người quen, trước 75 anh là phi công, thường  đưa các ông Tỉnh Trưởng đi công tác, và đã có dịp giao du với nàng Tiên Nâu, anh bảo : “Khi hít hết một hơi là người cứ như đang lái máy bay, mà lái một cách bay bướm nghĩa là lượn một cách đẹp mắt. Đúng như các cụ nói, đi mây về gió. Các cụ có lái may bay bao giờ đâu mà nói không sai”.

  Người tiêm thuốc lại nạo hết “xái “ trong nồi, trộn thành một viên lớn, tiếp tục cắt thuốc vê lên miệng nồi đã hơ nóng, khi thấy được lại tiêm cho Cụ. Tôi thấy một cữ Cụ hút cũng đến 10 điếu, nhưng chỉ có một điếu nguyên, còn thì “xái”. Anh bạn cho biết, vì hút “xái” mới sinh nghiện, còn hút thuốc nguyên thì bình thường. Các dân tộc Tây Bắc trồng thuốc, họ hút như ăn cơm, không ai nghiện cả. Xong cữ thuốc đen, đến thuốc Lào, Cụ ngồi tựa lưng vào thành giường, tự nhồi thuốc, tự châm hút. Từ lúc mới vào, tôi đã xin, Cụ cho phép chụp ảnh thoải mái. Cụ hít một lúc mấy hơi thuốc Lào. Trông cụ thế mà hơi khá dài, tiếng nước trong điếu cày reo ọc ọc hòa với tiếng hít kéo dài, tôi có cảm tưởng như cụ sắp hết hơi, nhưng trông nét mặt Cụ khá bình tĩnh, mắt lim dim nghe hơi thuốc đi vào từng huyết mạch. Đến khi đầy ắp khoái cảm, cụ nhả ống điếu phà lên không trung đám mây bạc lượn lờ, làm cho khuôn mặt của nhà thơ bồng bềnh chơi vơi....trông hay hơn khi cụ nằm tiêm thuốc.

  Tôi ngộ ra điều mà lâu nay mình thầm chê trách, "sao những văn nhân thi sĩ lại hay nghiện ngập". Đấy là chìa khóa để quí vị mở ra khung trời lồng lộng của riêng mình, là ngõ đi vào thế giới riêng, tha hồ múa bút, tha hồ "nhả ngọc phun châu", khác với nghiện ngập của hàng phàm phu tục tử...

  -   Thưa Cụ, mỗi ngày tính ra tiền thuốc khoảng bao nhiêu?
  -   Trăm nghìn.
  -   Thưa, nếu không hút thì cụ thấy thế nào?
  -   Không ăn uống được, không làm việc được.
  -   Như vậy hút cũng như uống thuốc bệnh, để có sức sáng tác?
  -   Đúng thế.
  -   Thưa, nhỡ gặp khi khó khăn khan hiếm thì lấy thuốc đâu ra?
  -    Điều này không lo, đã có người đủ thẩm quyền giúp mua.

Thủ bút của Hoàng Cầm

Tôi hỏi như thế là nghĩ đến sức khỏe Cụ, hết thuốc là hết xăng, xe dù có đắt giá bao nhiêu cũng chỉ là đống sắt vụn. Vừa chuyện trò vừa bấm máy, có thuốc vào nét tinh anh sắc bén lộ hẳn trên gương mặt Nhà Thơ. Cụ luôn luôn cười, thịt da trên mặt đầy đặn hơn trong khi thân mình chân tay teo tóp. Thân già mà đầu óc rất trẻ. Nghĩ thế, mà thật thế nên tôi định hôm sau sẽ trở lại cho Cụ xem mấy bức ảnh chụp cô gái Liêu Trai (3). Qua chuyện “Lá Diêu Bông”, tôi hỏi thẳng Cụ:
  -   Thưa Cụ, cháu đọc được một bài viết về “Lá Diêu Bông” ở hải ngoại, bảo rằng, nội dung bài thơ là mối tình của Cụ chứ không ám chỉ gì cả.

- Đúng như vậy, anh nào viết chắc có nghe cuốn băng tôi nói chuyện.

 Thế nhưng Cụ đã phải đi tù vì “Lá Diêu Bông”?

  -   Vâng, không những tù mà còn bị cấm in tác phẩm suốt 30 năm. Thành thử nhiều thế hệ không biết Hoàng Cầm là ai.(4)

- Cụ có thể cho cháu biết sơ tình tiết của “Lá Diêu Bông”.

Nhà Thơ thẳng người dậy, hít một hơi thuốc Lào rồi trầm ngâm mấy giây như hồi tưởng:
  -   Vào khoảng tháng 8 năm 82, tự nhiên Công An đến lục xét rồi bắt tôi đi mà không cho biết lý do. Tôi bị nhốt vào nhà giam và buộc làm kiểm điểm. Tôi không hiểu kiểm điểm về việc gì, nhưng mỗi ngày phải viết kiểm điểm. Tháng này qua tháng nọ, rồi họ đưa cho tôi tập thơ Về Kinh Bắc, bảo kiểm điểm từng bài, từng chữ trong đó. Sau nhiều ngày tháng suy gẫm kiếm tìm, tôi thấy có gì sai trái đâu, toàn những bài thơ tình. Một hôm tôi chợt nghĩ, có lẽ bài “Lá Diêu Bông”, do ý nghĩa mơ hồ tạo ra  mối nghi ngờ chăng. Tôi viết kiểm điểm ngay bài thơ, và quả nhiên, anh thiếu tá công an vui vẻ cảm ơn tôi, còn nói thêm: “Tết này thế nào anh cũng được về”.

Nhưng tôi vẫn tiếp tục bị giam. Không còn viết kiểm điểm, tôi nghĩ  là chuyện đã giải quyết xong, vậy mà tôi phải trả thêm 1 năm tù nữa, một món nợ tôi không hề mượn bao giờ.

-   Trước sau Cụ bị giam bao lâu?

-   Mười tám tháng.

-   Thực sự thì do đâu Cụ bị oan?

  -  Do bài thơ chưa in nhưng lọt ra hải ngoại, có người đem bình luận diễn giải, tuy không đúng với chủ đích của tác giả nhưng lại đúng với thực tế. Người ta bảo Hoàng Cầm làm bài “Lá Diêu Bông” là ám chỉ Đảng. Chị là Đảng, em là Nghệ Sỹ, Nghệ Sỹ được Đảng yêu thương, Đảng bảo gì nghe nấy, nhưng chẳng bao giờ được gì (dù có bỏ xác vì Lá Diêu Bông).

Đến lúc bị tù, làm đúng bài kiểm điểm, sắp được ra, lại cũng do hải ngoại có thư gửi chính phủ yêu cầu thả tự do cho Hoàng Cầm. Tố Hữu nổi cơn thịnh nộ phán: “Nhốt nó thêm 1 năm nữa vì tội có nước ngoài can thiệp”.

Tôi phân vân, không hiểu sao ông Tố Hữu oán ghét căm thù người cùng môn phái đến thế. Về sau anh bạn cho biết, do Tố Hữu ganh tỵ tài năng. Nam Cao chết cũng vì Tố Hữu (5). Hồi còn giữ chức Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, Tố Hữu nắm quyền sinh sát trong tay, giới nghệ sỹ liệu mà giữ gìn “ăn nói”. Nhưng Tố Hữu làm những bài thơ nô dịch, xem rẻ tổ tiên nên nhiều người phản bác, trong số có Hoàng Cầm. Tố Hữu viết:
       Thuở Anh chưa ra đời (ý nói cách mạng tháng 10 Nga)
       Trái Đất còn nức nở
       Nhân loại chửa thành người.

Hoàng Cầm vặn lại: “Anh của ông ra đời năm 1917, thế trước năm 17 “nhân loại chửa thành người” thì là gì? Khỉ à. Con Hồng cháu Lạc, 4000 năm văn hiến của anh đâu”. Câu chuyện đến tai, Tố Hữu ức lắm, tìm cơ hội trù dập Hoàng Cầm. Tôi nghĩ, con người dù cầm bút hay cầm cày, khi đã chấp nhận làm nô dịch cho danh lợi thì nhân phẩm không còn gì để nói, và, họ sẵn sàng làm mọi chuyện tồi tệ vì quyền lợi riêng tư của mình. Tố Hữu tiếp tục ngấm ngầm hại nhà thơ Hoàng Cầm bằng cách không cho in tác phẩm suốt mấy mươi năm. Mãi đến năm 2003 nhà xuất bản Hội Nhà Văn mới sưu tầm in 3 tập Hoàng Cầm Tác Phẩm:
 Hoàng Cầm tác phẩm : Thơ
 Hoàng Cầm tác phẩm : Truyện Thơ Kịch.
 Hoàng Cầm tác phẩm : Văn Xuôi

 Hoàng Cầm tác phẩm Thơ  là tập hợp các tập thơ, có tập Lá Diêu Bông nhưng không có bài Lá Diêu Bông ( 6 ) mà chỉ có bài: Bao giờ nói hết chuyện Diêu Bông (trang 245), bài thơ có 5 đoạn xin trích đoạn 1:
                              Dẫu anh biết Diêu Bông không thực
                              Sao Diêu Bông cứ thức hồn em
                              Cứ sao băng mãi đường đêm
                              Cứ trăng lên đậu cành mềm xuân quê
                              Cứ lơi áo cởi trưa hè
                              ngực trần vỗ yếm gọi về tuổi hoa
                              Cứ hương thiên lý đường xa
                              Cứ lưng chừng đợi ngọc ngà hồ ly
                              Cứ môi hôn yên chi chụm cánh
                              dẫn anh về chuốt mảnh chiếu gon
                              Hương nhu xoải tóc lưng tròn
                              cái đêm hôm ấy mắt mòn men tê

Hôm sau tôi trở lại mở Laptop cho Cụ xem mấy tấm ảnh chụp cô gái tóc dài, nhân thể nhờ Cụ điểm xuyết mấy câu gọi là “tức cảnh sinh tình”. Cụ xem ảnh, tôi đọc 4 câu thơ, nhưng Cụ không còn nghe, Cụ ngắm nhìn rất kỹ người trong ảnh. Nét mặt Cụ tươi tỉnh và sáng hẳn ra. Cụ bảo “đưa gần lại tôi thấy cho rõ”. Tôi để máy slide show, hình ảnh  quay lại đến mấy lượt. Tôi biết Cụ thích lắm, Cụ khen nhiều câu… Rồi Cụ bình phẩm. Tôi vừa nghe, vừa chụp ảnh. Nhà Thơ và anh bạn trao đổi nhau về nét tướng nhân dáng người con gái. Và, lần đầu tôi nghe những “Tố mao…chiết yêu…cự huyệt, trường túc tri… lao”   Tôi thấy vui, bao nhiêu chuyện khổ ải, thăng trầm, bao nhiêu lợi danh người đời… chúng tôi đều quên, quên luôn cả Thơ, để đi vào cái đẹp lung linh huyền ảo muôn thuở mà có người lên tám đã mê say. Sẵn bút nhà thơ Hoàng Cầm ký tặng tôi 3 bộ sách của ông do Hội Nhà Văn xuất bản.

Con người đích thực của nghệ thuật, dù trong hoàn cảnh có cay nghiệt chăng nữa, vẫn một  lòng say mê tôn vinh cái Đẹp, chỉ có cái Đẹp mới khích lệ vỗ về an ủi người sáng tác. Cái Đẹp chính là thứ lá dâu tuyệt hảo để Tằm nhả tơ vàng. Xin đa tạ những đoá hoa nghiêng nước nghiêng thành, những đóa hoa rừng, những đóa hoa dại, những người mẫu yêu quí đó đây trên những chặng đường tôi đã đi qua… và xin đứng xa thật xa... kẻo nữa:

Diêu Bông hời...!

...ới Diêu Bông... 

Trần Công Nhung
__________________________
(1) Khổ thơ trình bày theo sách Hoàng Cầm tác phẩm Thơ trang 150,NXB Hội Nhà Văn 2003.
(2) …bản chất của tôi là đam mê có lúc đến yếu đuối. Tôi vốn đa tình, mới 8 tuổi đã biết mê nhan sắc, 12 tuổi đã biết buồn đau về nỗi trống vắng yêu thương của một người nữ… (Mấy Dòng Tâm Sự trang 619 thư gửi Đặng Tiến, Phạm Duy, trong Hoàng Cầm tác phẩm Văn Xuôi)
(3) BuồnVui Nghề Chơi Cây Kiểng  trang 20 của tác giả
(4) Chuyện Liêu Trai trang 176 QHQOK tập 4
(5) Trong phòng cụ Hoàng Cầm có một bức ảnh Tướng Võ Nguyên Giáp ngồi thiền, tôi thấy đẹp xin chụp lại. Khi ra làm ảnh tại hiệu Nguyên Cầu đường bà Triệu, mấy cô trong cửa hàng khen ảnh Tướng Giáp, tôi hỏi còn đây là ai thì không ai biết. Lúc nghe tôi nói Hoàng Cầm người nổi tiếng của Hà Nội, các cô ngạc nhiên: “Bếp Hoàng Cầm hả chú”. Người Hà Nội chỉ biết Hoàng Cầm là loại bếp tránh khói trong thời chiến không ai biết Hoàng Cầm nhà thơ .
(6) Tìm mộ Nam Cao trang 126 QHQOK tập 6.
(7) Bài Lá Diêu Bông trả về tập Kinh Bắc trang 150.


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)