Tìm kiếm Blog này

CỔ-LŨY: TỪ NAM CALIFORNIA THÁNG TƯ ĐÃ RA ĐI: LIÊN HỆ VIỆT-MỸ TRONG THẾ KỶ MỚI

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

“Tháng Tư Đen” đã ra đi lần thứ 42; đây là dịp tiếp tục nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ một cách đúng đắn để có khái niệm phần nào về tương lai. Như thường lệ, người viết dựa vào những học hỏi, nghiên cứu, và khám phá từ người đi trước và đương thời của những chuyên gia, giáo sư đại học —những vị này cũng đều dựa vào những khám phá, học hỏi và nghiên cứu của người đi trước và đương thời, theo đúng truyền thống học thuật.
Trong số những người trên đáng kể nhất là Giáo Sư George C. Herring; nay đã về hưu, ông vẫn nghiên cứu, diễn thuyết và viết sách. Ông chuyên về chính sách, đường lối ngoại giao Mỹ; đặc biệt là chính sách đối với Việt Nam, như qua hai tác phẩm: America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (tái bản bốn lần), và From Colony to Superpower: U.S. Foreign Relations since 1776  (2008) được hội Sử gia Bang giao Quốc tế (SHAFR) xem là “công trình vĩ đại nhất” liên hệ đến ngoại giao Mỹ. Giai đoạn này cũng dựa vào nghiên cứu của GS Frederick Z. Brown, tại trường Cao Đẳng Bang giao Quốc tế lừng danh, thuộc viện đại học Johns Hopkins ở Maryland.

Bài kỳ trước nói về liên hệ Việt-Mỹ giai đoạn 1990 và 2000. Đây là thời gian hai nước thật sự xích lại gần nhau hơn nhằm hòa giải và “hóa giải” trong bối cảnh tương đối “đổi mới” kinh tế và “cởi mở” chính trị phía cộng sản Âu và Á trong nỗ lực “toàn cầu hóa kinh tế, chính trị và văn hóa Mỹ” hỗ trợ bởi thế lực quân sự siêu đẳng không mấy mới lạ từ sau Thế Chiến 2. Những đại công ty Mỹ như Caterpillar, Boeing, General Electric, Microsoft cùng những định chế tài chính  và đầu tư làm áp lực quốc hội và chính quyền phải đi vào VN. Giữa 1995 Hà Nội và Washington chính thức nối lại bang giao sau nửa thế kỷ xa cách lẫn tương tranh. Cuối nhiệm kỳ chót đầu thế kỷ mới, TT Bill Clinton cùng gia đình hân hoan thăm viếng VN và được dân chúng đón tiếp nồng hậu. 
LIÊN HỆ THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21: “TẤT CẢ VÌ TIỀN?” 
Theo GS Brown, có thể nói kinh tế và quyền lợi thương mại là nguyên nhân đưa đến cải thiện liên hệ Việt-Mỹ, và đây là yếu tố căn bản trong liên hệ này. Đầu thế kỷ 21, TT George W. Bush lên nhậm chức với mỗi mục tiêu “giảm thuế” và nghe theo giới đại kỹ thương và tài chính với hy vọng thiết lập một “thị trường nhỏ nhưng đầy triển vọng” ở Châu Á cho hàng hóa cũng như dịch vụ của mình—trước khi có “kẻ thù mới” là “khủng bố” Hồi giáo. Theo truyền thống Cộng Hòa, (ít nhất từ thời TT Ronald Reagan cho đến nay) quen cắt thuế cho nhà giầu và bảo vệ quyền lợi “Giới làm ăn Lớn/Big Business” ông Bush bình thường hóa liên hệ ngoại thương với VN (NTR/Normal Trade Relations), hạ thuế hàng nhập cảng từ VN. Hai nước ký Thỏa ước Thương mại Song phương và Hà Nội đồng ý “đổi mới” và “cởi mở” kinh tế hơn.
Năm 2006 Washington bỏ tên VN khỏi danh sách “những nước đáng quan tâm” về tự do tôn giáo, và biến NTR thành thường trực. Năm 2007, “ủng hộ phải có” từ Washington” đưa VN vào Tổ chức Thương vụ Thế giới/WTO; cùng năm, nhằm gia tăng trao đổi thương mại hai nước ký thỏa thuận về đầu tư để lần hồi đi đến “tự do mậu dịch/free trade” theo khuôn mẫu NAFTA sẵn có giữa HK, Canada và Mexico. Cuối năm 2008, thương vụ qua lại đã lên đến $15.2 tỷ (so với $220 triệu năm 1994), và cán cân ngoại thương ngả hẳn về phía VN: $15.2 tỷ xuất cảng từ VN so với $2.7 tỷ nhập cảng từ HK. HK thành một trong năm nước hàng đầu thế giới về đầu tư vào VN, và thị trường lớn nhất cho VN (khoảng 20 phần trăm tổng số hàng hóa VN xuất cảng). Hai năm sau ngoại thương gia tăng lên tổng số $176 tỷ, gấp mười lần so với năm 2001, với cán cân ngả  hẳn về phía VN.
Năm 2011 VN là một trong những nước nhận viện trợ lớn nhất từ HK--$140 triệu dùng chống  bệnh AIDS, cải tổ kinh tế, tháo gỡ bom, mìn, và giáo dục. Viện trợ đi cùng những gặp mặt “thượng đỉnh/summit” giữa hai nguyên thủ quốc gia. Thủ Tướng Phan Văn Khải là người đầu tiên sau cuộc chiến được mời gặp gỡ TT Bush ở Washington—sau khi làm một vài hành động “đẹp” về nhân quyền ở VN; ông Bush đáp lễ cuối năm 2006 ở Hà Nội. Người kế vị ông Khải, Nguyễn Tấn Dũng, đến thăm ông Bush năm 2008 nhằm cải thiện liên hệ kinh tế, và đồng ý gửi sĩ quan Việt sang HK trau dồi tiếng Anh và cho phép người Mỹ nhận con nuôi Việt. Ông Bush và Dũng cũng tuyên bố khởi đầu bàn thảo về các vấn đề chính trị và quân sự “và hoạch định chính sách nhằm đi đến những thảo luận thường lệ và sâu rộng hơn về…an ninh và chiến lược.” Năm 2010 ông Brown nhận xét, “Những tham khảo và hợp tác thận trọng giữa đôi bên đánh dấu liên hệ chưa từng thấy trước đây.” 
VẪN CÒN XA CÁCH? 
Tuy nhiên, theo GS Herring những vấn đề lâu dài tiếp tục chia rẽ hai nước. Hà Nội vẫn đòi hỏi Washington nhận trách nhiệm, và giúp đỡ giải quyết hậu quả ghê gớm của khoảng 85 triệu lít thuốc khai quang đổ xuống mười phần trăm đất đai miền Nam thời chiến (hàng triệu người Việt là nạn nhân của chất độc dioxin). Washington không chính thức nhận trách nhiệm nhưng từ 2007 đã cung cấp ngân khoản lớn nhằm giải độc dioxin và chạy chữa cho các nạn nhân. Nỗ lực lớn của Hà Nội trong việc tìm binh sĩ Mỹ mất tích (MIA) khiến gia đình bộ đội phản đối chính quyền bỏ quên MIA Việt. Nhờ kỹ thuật tối tân và tài liệu Hà Nội có,  Washington bắt đầu nhận giúp tìm kiếm MIA Việt. Washington cũng tuyên bố mập mờ về chuyển/bán vũ khí cho VN.
Những khó khăn liên quan đến nhân quyền là vấn đề lớn cho Hà Nội. Nhiều người Mỹ bất bình với việc sau bao nhiêu năm VN vẫn là nước độc tài toàn trị với đảng Cộng Sản tiếp tục khống chế dù nay là thời bình. Hơn hai triệu người Việt ở HK, một số rất khá giả và phần lớn chỉ trích “thành tích” nhân quyền của Hà Nội, từng vận động Washington làm áp lực Hà Nội phải nới lỏng về chính trị và tự do tín ngưỡng. Nhiều người Mỹ tìm cách dùng áp lực ngoại thương để thực hiện điều này nhưng không mấy hiệu quả—một phần vì trước 1975 họ đã không làm việc này với  một số chính quyền miền Nam có Washington ủng hộ mọi mặt mà không mấy “thành tích” về nhân quyền. Quốc hội và các nhóm tranh đấu nhân quyền Mỹ đều đặn đưa ra những dự luật nhằm trừng phạt VN vì áp chế chính trị --cũng thiếu hiệu quả vì họ quên mất là nhiều người Mỹ da mầu, nhất là người da đen, tiếp tục bị hạn chế quyền đi bầu, công bằng trong giáo dục và công ăn việc làm ở ngay HK.

Mặt khác, chiến lược của Hà Nội đi theo sát đường lối được thử nghiệm trước từ Bắc Kinh: cho các “đại gia” có liên hệ chặt chẽ với nhà nước tha hồ làm ăn, bóc lột và hối lộ (như những thời tư bản cực thịnh trời Âu và HK), nhưng thẳng tay dập tắt mọi cá nhân hay nhóm có thể đe dọa quyền lực nhà nước, kể cả chỉ trích nhà nước về một vấn đề nào đó. Những tự do dân sự bị hạn chế và giới trí thức, truyền thông, văn, nghệ sĩ bị khủng bố, giam cầm. Nhà nước dĩ nhiên theo dõi chặt chẽ và hạn chế các hoạt động tôn giáo; họ hiểu rằng trong xã hội độc đảng các nhóm tôn giáo là hình thức tương đối có tổ chức trên dưới và sức mạnh đáng kể từ đoàn kết. Hiện tượng vừa khôi hài lẫn chết người “Tư bản Đỏ/Red Capitalism” ở Trung Quốc, VN và Nga xem ra như là một phối hợp những khía cạnh xấu xa nhất của tư bản và xã hội chủ nghĩa—gạt qua một bên những cái hay, tốt thấy ở các nước “Bắc Âu/Scandinavian.”

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)