Tìm kiếm Blog này

ĐÀM TRUNG PHÁP: ĐIỂM SÁCH: HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN (TRẦN TRỌNG SAN & TRẦN TRỌNG TUYÊN)

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Giáo Sư Ngữ Học Texas Woman’s University


1997 / NXB Bắc Đẩu / 45 Mỹ kim
380 Sprucewood Court, Scarborough, 
Ont. M1W 1R3, Canada

Đã khá lâu rồi, để đánh dấu ngày bước vào tuổi “tri thiên mệnh,” tôi nhất quyết tự học thêm chữ Hán. Trước tiên là ôn lại cách viết những chữ căn bản như “thiên trời, địa đất, vân mây” rồi học thêm những chữ mà các chuyên viên Hoa ngữ cho là tối cần thiết để đọc hiểu chữ Hán căn bản hiện đại. Sau một thời gian miệt mài như vậy, khả năng đọc chữ Hán của tôi (phát âm theo kiểu các cụ ngày xưa) đã tấn bộ rõ rệt. Thích thú biết bao khi đọc được bài thơ Đường giản dị của Lý Bạch mang tên “Tĩnh Dạ Tứ”!


Nhưng trong thời đại này, sao lại chỉ học chữ Tàu kiểu “tử ngữ” như vậy? Tôi quyết định học thêm cách phát âm quan thoại cho các chữ nho, để có thể chuyển câu “Ngã thị Việt Nam nhân 我 是 越 南 人” sang thành “Wo shi Yuenan ren” chẳng hạn. Cũng là một thử thách, nhưng là một thử thách rất thực tế, và tôi lại đắm chìm trong cái thú vui mới ấy, thầm ước mơ  sẽ có ngày dùng quan thoại viếng Trung Quốc.


Tôi mua đủ mọi thứ tự điển và dùng các cuốn sau đây nhiều nhất: Hán-Việt Tự Điển của Thiều Chửu (ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ rồi), Learner’s Chinese-English Dictionary xuất bản tại Tân Gia Ba (1984), A Practical English-Chinese Dictionary trước tác tại Bắc Kinh (1996), và ABC Chinese-English Dictionary của Viện Đại Học Hạ Uy Di (1996).


Tôi dùng cuốn Thiều Chửu để tra cách đọc (kiểu Hán Việt) và ý nghĩa những chữ Hán mình chưa thông, với cách sắp xếp theo các “bộ.” Cuốn này cổ quá đi rồi, thành ra các ngữ vựng tân thời không thể tìm thấy trong đó (chẳng hạn “đông tây” có nghĩa là “đồ vật”). Các cuốn xuất bản tại Tân Gia Ba và Hạ Uy Di đều sắp xếp các mục từ (entries) theo thứ tự a, b, c căn cứ vào lối phát âm quan thoại (qua phương thức “phanh âm” tức là “pinyin”). Cái trở ngại là muốn dùng hai cuốn tự điển này để tra một chữ thì mình phải biết chữ ấy phát âm kiểu quan thoại ra sao, và chữ ấy viết bằng “pinyin” như thế nào. Vì vậy tôi lại phải làm quen với lối ghi âm “pinyin” tương đối dễ học này. Cả hai cuốn đều ghi chữ Hán kiểu giản thể (với chữ phồn thể nằm trong ngoặc đơn) bên cạnh các mục từ ghi bằng “pinyin.” Còn cuốn Anh-Hoa Thực Dụng do Bắc Kinh soạn thảo thì rất hiện đại, trong đó các từ ngữ tương đương, các định nghĩa, các thí dụ cho các mục từ Anh ngữ đều dược ghi bằng Hán tự giản thể cùng với “pinyin” sát bên cạnh.

Nỗ lực học chữ Hán theo kiểu nói trên quả thực là một cuộc “khổ tu” cho tôi. Nhưng Trời cũng chiều người! Hè năm ngoái (1997), khi được biết Giáo sư Trần Trọng San và trưởng nam Trần Trọng Tuyên vừa cho trình làng cuốn HÁN-VIỆT TỰ ĐIỂN qua nhà xuất bản Bắc Đẩu bên Gia Nã Đại, tôi vội liên lạc ngay với ông và đặt mua một cuốn. Tôi tâm sự với Trần tiên sinh – chúng tôi khi xưa cùng dạy tại Đại Học Sư Phạm Saigon nhiều năm –  về nỗi say mê chữ Hán khi cuộc đời bắt đầu nghiêng bóng và được ông trấn an trong thư hồi âm rằng “Trường hợp về già mới thích chữ Hán như anh không phải là ít thấy đâu. Tôi đã nhận được nhiều thư của độc giả cho biết như vậy.”

Như “đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh,” tôi rất chuộng cuốn HÁN-VIỆT TỰ ĐIỂN dày 781 trang gồm hơn 10 ngàn chữ thông dụng mà Trần quân cùng soạn thảo với trưởng nam Trần Trọng Tuyên. Cuốn sách là một công trình biên soạn rất công phu, kỹ lưỡng, hiện đại, và dễ dùng. Tôi thực mừng rỡ khi thấy ngoài phiên âm Hán Việt cho các mục từ (ghi bằng Hán tự phồn thể rất sắc nét) còn ghi thêm cả chú âm Trung Quốc (tiếng phổ thông) kiểu “pinyin”!

Vì tự điển này tra theo bộ chữ, trong phần “Phàm Lệ” tác giả đã trình bầy rất ngắn gọn và minh bạch cách tra chữ của 4 loại chữ Hán: (1) chữ chính là bộ thủ (được dùng để gọi tên bộ), (2) chữ dễ nhận biết thuộc bộ nào, (3) chữ cần đoán biết thuộc bộ nào, và (4) chữ khó biết thuộc bộ nào. Đề phòng trường hợp lỡ có chữ giản thể lọt vào mắt người chỉ quen với phồn thể, tác giả đã cẩn thận gợi ý là nếu tra theo loại (4) mà không kết quả, ta hãy dùng “Bảng Chữ Giản Thể” (trang 672-689) và kiếm trang có số nét của chữ ấy.

Các mục từ trong cuốn sách bao trùm cả văn ngôn lẫn bạch thoại, thật tiện lợi cho người đang tự học tiếng Hán như tôi. Thí dụ, ngay trong mục từ đầu tiên của cuốn sách là chữ “nhất” (đầu trang 1), thấy có cả thành ngữ văn ngôn cổ điển “cập kỳ thành công nhất及其成功一也” (nghĩa là “đến khi thành công thì giống nhau”) lẫn từ ngữ phổ thông thoại “thính nhất thính  聴一聴” (nghĩa là “nghe đôi chút”).

Tuy tác giả trong lời mở đầu có nói tự điển này chỉ chú trọng vào việc giải nghĩa và phiên dịch các từ đơn và dẫn ra một số ngữ cú để minh họa, tôi rất hài lòng vì cuốn sách cũng lưu ý khá nhiều đến ngữ pháp Hán văn. Chẳng hạn trong mục từ “kỳ” (trang 35) có đến 8 định nghĩa và thí dụ về những chức năng (functions) khác nhau của nó, lúc là đại từ, lúc là chỉ thị từ, lúc là phó từ biểu thị mệnh lệnh, lúc là trợ từ dùng để nhấn mạnh trong câu nghi vấn, vân vân.

Phần “Tra Theo Vần A, B, C” (trang 690-764) thật hữu ích mỗi khi người dùng muốn biết một từ Hán Việt “viết” ra sao bằng Hán tự và kiếm từ ấy ở trang nào trong sách. Người không biết chữ Hán cũng có thể dùng sách này để thấu rõ nghĩa của các từ Hán Việt. Trong phần này thấy có vài lỗi in ấn nho nhỏ, chẳng hạn như mục từ “miễn ” thực ra ở trang 32 nhưng lại ghi lầm là trang 31, và mục từ “mịch ” (trang 726) ghi 4 chữ “mịch” khác nhau và bỏ sót một chữ “mịch ” rất quan trọng (có nghĩa là “sợi tơ nhỏ” ở trang 389).

Sau hết, mục “Phiên Âm Hán Việt Tương Ứng Với Chú Âm Trung Quốc” (trang 765-777) rất thực tiễn. Trong sách báo tây phương ta thường thấy chú âm các từ Trung Quốc mà không in kèm dấu chỉ thanh điệu (thí dụ như “Qinling”), nên khó biết được phát âm Hán Việt tương đương. Trong những trường hợp ấy, chúng ta đành phải “đoán” và việc “đoán” này được hỗ trợ hữu hiệu qua những trang nêu trên của cuốn sách. Nhờ vậy tôi đã biết được “Qinling” chính là “Tần Lĩnh 秦嶺” (còn gọi là núi Chung-Nam) khi đọc một bài báo bằng Anh ngữ về địa dư nước Tàu.'


Dùng cuốn HÁN-VIỆT TỰ ĐIỂN mới nhất này làm phương tiện chính đi song hành với cuốn A Practical English-Chinese Dictionary của Bắc Kinh, tôi thấy cuộc “khổ tu” của tôi dễ thở hơn nhiều. Và trong niềm vui ấy, tôi xin gửi đến tác giả lời chúc mừng và lòng cảm tạ chân thành.


3 nhận xét

  1. Nguyễn Văn Thà03:38 9 tháng 5, 2017

    Thưa giáo sư,
    Cuốn từ điển hiện nay còn bán không?
    Tôi muốn mua một cuốn.

    Trả lờiXóa
  2. Nguyễn Văn Thà03:42 9 tháng 5, 2017

    NXB có số điện thoại hay địa chỉ e-Mail không?

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Thưa ông Thà,
      Địa chỉ của NXB Bắc Đẩu cũng là tư thất của cố GS Trần Trọng San (1930-1998): 380 Sprucewood Court, Scarborough, Ont. MR3 CANADA.
      Số điện thoại ông vẫn dùng để gọi bạn hữu là 416-456-8172 (tôi liên lạc với ông lần chót là 2 tháng trước khi ông đột ngột qua đời). Sau khi tôi gọi để phân ưu với trưởng nam Trần Trọng Tuyên thì tôi hết liên lạc với gia đình ông.
      Hy vọng địa chỉ và số điện thoại gia đình chưa thay đổi. Ông cũng có thể gọi tiệm sách Tự Lực ở Little Saigon xem họ còn cuốn nào không?
      Kính chúc ông Thà nhiều may mắn. Đàm Trung Pháp

      Xóa

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)