Tìm kiếm Blog này

Cỗ Lũy: TỪ NAM CALIFORNIA: THÁNG TƯ ĐÃ TỚI: NHÌN LẠI LIÊN HỆ VIỆT-MỸ THỜI 1990-2000

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017


“Tháng Tư Đen” đã đến lần thứ 42; đây là dịp tiếp tục nhìn lại liên hệ Việt-Mỹ một cách đúng đắn để có khái niệm phần nào về tương lai. Như thường lệ, người viết dựa vào những học hỏi, nghiên cứu, và khám phá từ người đi trước và đương thời của những chuyên gia, giáo sư đại học —những vị này cũng đều dựa vào những khám phá, học hỏi và nghiên cứu của người đi trước và đương thời, theo đúng truyền thống học thuật.
Trong số những người trên đáng kể nhất là Giáo Sư George C. Herring; nay đã về hưu, ông vẫn nghiên cứu, diễn thuyết và viết sách. Ông chuyên về chính sách, đường lối ngoại giao Mỹ; đặc biệt là Chiến Tranh Lạnh/Cold War (như Aid to Russia, 1941-1946, năm 1973), và chính sách đối với Việt Nam, như qua hai tác phẩm: America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (tái bản bốn lần), và From Colony to Superpower: U.S. Foreign Relations since 1776  (2008) được hội Sử gia Bang giao Quốc tế (SHAFR) xem là “công trình vĩ đại nhất” liên hệ đến ngoại giao Mỹ. Tập sách mới nhất của ông là The American Century and Beyond: U.S. Foreign Relations, 1893-2014 (2017).
Bài kỳ trước nói về liên hệ Việt-Mỹ sau cuộc chiến gần 30 năm. Đây thật ra là trận chiến trong đó Washington nắm phần chủ động, sau “thất bại đau đớn và nhục nhã” về quân sự lẫn chính trị năm 1975 (từ cái “kiêu căng vì quyền lực/arrogance of power” mà các đế quốc lớn trong lịch sử đều kinh qua, theo chữ và ý của cố Nghị Sĩ William Fulbright). Và ngay sau đó Hà Nội thành nạn nhân của chính chiến thắng này, hay của chính mình—hai cái “nghiệp” cửa Phật từng nhắc nhở, và kịch tác gia Anh William Shakespeare nổi tiếng “khám phá” ra hơn nghìn năm sau—và từ đây gây nhiều lỗi lầm kinh tế và chính trị.
Theo ông Herring, đầu thập niên 1990 “trận chiến sau cuộc chiến” trở thành gánh nặng cho cả đôi bên, dẫn đến những thay đổi lớn.                
HÒA GIẢI VÀ “HÓA GIẢI” 
Chuyển qua thời bình sau 1975, Hà Nội đặt để khuôn mẫu kinh tế chỉ đạo của đàn anh Joseph Stalin (Nga-Xô) và Mao Trạch Đông (Tầu); đây đạt tới mức tai họa kinh tế cho dân chúng cả ba nước “xã hội chủ nghĩa chuyên chế”—khác với “xã hội chủ nghĩa dân chủ, tự do/không cộng sản” ở nhiều nước Bắc và Tây Âu, như Nghị Sĩ Bernie Sanders kêu đòi trong kỳ tranh cử tổng thống 2016.
Cuối thập niên 1980 giới lãnh đạo thực tế và tỉnh ngộ hơn đưa ra cải tổ kinh tế “Renovation/Đổi mới,” đều dựa trên khuôn mẫu đàn anh Tầu Đặng Tiểu Bình (với tuyên bố nổi tiếng “Mèo trắng hay đen cũng tốt miễn là bắt được chuột”) và Nga Mikhail Gorbachev (với “perestroika/đổi mới”). (Xin mở ngoặc về ba yếu tố cần phải có để phát triển kinh tế, “tài nguyên thiên nhiên/natural resources, tài nguyên nhân lực/human resources, và tư bản/capital” trong hội thảo ở hội trường báo NV đầu Hè 1986, do chủ nhiệm ĐNY, chủ bút LĐĐ, và người viết điều hợp). “Renovation” chấp nhận một số yếu tố kinh tế tư bản, ví dụ như quyền tư hữu, và nỗ lực đi tìm đầu tư từ nước ngoài—trong đó ngoại thương với Hoa Kỳ đại tư bản là yếu tố quan trọng vô cùng. Dân chúng những “thiên đường cộng sản tan vỡ” có vẻ như quá mệt mỏi với “bình đẳng trong túng đói, khốn khổ” và hăng hái đi vào “bất bình đẳng, người bóc lột người, nhưng no đủ”–với những hệ quả khôn lường.
Khi đế quốc Nga-Xô “sụp đổ từ bên trong ra/implode,” Hà Nội không còn đồng minh và ân nhân kinh tế chính đành chấp nhận kế hoạch rút khỏi Kampuchea của LHQ. Dù còn hơn 300 nghìn người Việt chưa tìm ra tung tích, Hà Nội lấy lòng Washington qua nỗ lực tìm lính Mỹ mất tích (MIA)—hợp tác liên tục này tạo nhiều cơ hội để đối thoại về những vấn đề khác. Nhà nước cũng đưa ra một số hành động tượng trưng về “cởi mở/openness/glasnost” giảm bớt những khắt khe về mặt chính trị.
Washhington cũng bị nhiều thúc đẩy để đi tới “bình thường hóa/normalisation” với Việt Nam: nhiều người Mỹ tin rằng hòa giải với Việt Nam là cách độc nhất để “hóa giải” cuộc chiến tàn bạo, chia rẽ xã hội Mỹ đã kéo dài quá lâu; thăm dò dư luận dân chúng cho thấy mức ủng hộ normalisation gia tăng trong khi phản đối đi xuống. Giữa thời 1990 Hà Nội đáp ứng hầu hết điều kiện chính quyền George W. H. Bush (bố) đã đề ra, dù “cấm vận/embargo” vẫn còn. Vì quyền lợi “làm ăn lớn” với “mức lời cao/great profit magin” của mình giới đại kỹ thương, tài phiệt Mỹ ào ạt làm “áp lực/lobby” quốc hội và chính quyền bãi bỏ embargo. Những cựu chiến binh VN với ảnh hưởng lớn như Nghị Sĩ John McCain và John Kerry đưa ra bằng chứng không còn tù binh Mỹ (POW) ở Việt Nam.
Từng là sinh viên công khai phản chiến TT Dân Chủ Bill Clinton vô cùng thận trọng, nhưng đi tới rất nhanh: giữa năm 1993 ông chấp thuận quốc tế cho VN vay tiền và đặt nhân viên ngoại giao ở Hà Nội nhằm theo rõi về MIA; đầu 1994 embargo được bãi bỏ; cuối năm VN trả lại Washington tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, “một biểu tượng của hiện diện quyền uy và ra đi nhục nhã.” Giữa 1995 ông Clinton tuyên bố chính thức nối lại bang giao giữa hai nước, với chọn lựa đại sứ đầy ý nghĩa: ông Douglas Peterson, một phi công bị bắn rụng và cựu tù binh chiến tranh (POW), và cũng là yếu tố đẩy mạnh hòa giải và hóa giải tiến nhanh.
Theo ông Herring, hòa giải đưa đến những kết quả có ý nghĩa tuy có phần hạn chế. Những đại công ty Mỹ như PepsiCo, Nike và United Airlines ào ạt đi vào VN. Theo University of Michigan (viện đại học dính dáng nhiều đến Nam VN ngay từ thời 1960), Nike thành chủ nhân làm giầy lớn nhất ở VN, trả công nhân $1.60 một ngày, làm việc 65 giờ một tuần, sản xuất giầy bán cả trăm đô-la một đôi, trả danh thủ bóng rổ Michael Jordan $25 triệu làm quảng cáo!
Nhưng cuối thời 1990, HK vẫn là nước đầu tư hàng thứ tám vào VN; mãi tới 1999 hai nước mới ký thỏa ước mậu dịch, tuy nhiên VN vẫn không được hưởng qui chế “tối hậu quốc/most-favoured-nation” với giới hạn đặt trên số lượng hàng hóa và dịch vụ HK có thể bán cho VN—đây có nghĩa là với lợi tức đồng niên thấp người Việt bị hạn chế rất nhiều về những gì mình có thể mua được.
TT Clinton cùng gia đình chính thức thăm viếng VN cuối năm 2000 là một bước tiến quan trọng  trong liên hệ đôi bên. Ông có tiếng như người học sâu hiểu rộng, đồng thời cũng là người của đại chúng với cung cách xuề xòa, thân mật, được dân chúng mến mộ vô cùng. Ông cẩn thận không xin lỗi về cuộc chiến, như nhiều giới trí thức Mỹ thúc đẩy ông làm, nhưng nhấn mạnh “Việt Nam là một quốc gia, chứ không phải là một cuộc chiến”—một điều ít người Mỹ trung bình có thể hiểu nổi. Ông rất xúc động khi thăm viếng một công trường đào mộ MIA, nhưng cũng tỏ bùi ngùi về những người MIA Việt chưa tìm ra.
Cuộc thăm viếng lịch sử cũng cho thấy những khác biệt còn nhiều: Hà Nội vẫn đòi Washington phải chịu trách nhiệm lớn hơn về tai họa đau đớn và lâu dài từ những đợt rải “thuốc khai quang/Agent Orange” trong thời chiến cùng những bom, mìn chưa nổ rải rác khắp VN (riêng VN chịu gần 7.1 triệu tấn bom, gấp 3 lần rưỡi số bom HK thả ở Âu, Á và Phi Châu trong Thế Chiến 2, theo Wikipedia). Khi ông Clinton nhẹ nhàng nhắc tới “thành tích” đáng buồn của Hà Nội về  nhân quyền, và thúc đẩy thêm cởi mở cùng tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế, giới lãnh đạo VN lên án HK vẫn “đế quốc” và “vẫn cố áp đặt ý nguyện của mình lên nước ngoài.”    

  

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)