Tìm kiếm Blog này

ĐÀM TRUNG PHÁP: ĐIỂM SÁCH:

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

I: PHÙ THUẬT VIỆT NAM
(BÁC SĨ LÊ VĂN LÂN)
NXB Nam Việt / 2009 / 333 trang
Điện thoại liên lạc: 512-252-9827

PHÙ THUẬT VIỆT NAM (PTVN) do Bác sĩ Lê Văn Lân biên khảo là một tác phẩm hấp dẫn lạ thường. Có thể nói “ma lực” của cuốn sách đã khiến tôi bỏ ngang các công việc khác để có thì giờ đọc nó từ đầu đến cuối trong một ngày. Đọc xong, tôi thấy như tôi đã tìm ra cho mình một gốc rễ tinh thần nào đó, cũng như một lạc thú tâm linh hiếm quý.

Được viết một cách vừa lôi cuốn vừa uyên bác, cuốn biên khảo này đã rành rẽ phơi bầy ra cái tiềm thức tâm linh kỳ bí của người Việt – một điều mà nhiều người trong chúng ta muốn tìm hiểu nhưng chưa có tài liệu giá trị khả tín. Các tài liệu trước đây viết về nếp sống người Việt thì chỉ đề cập sơ sơ và mơ hồ về thế giới tâm linh kỳ bí này. Để tránh mọi hiểu lầm, tôi xin nhấn mạnh rằng PTVN là một công trình biên khảo nghiêm túc về văn hóa dân tộc, và tác giả của nó – một y khoa bác sĩ – tuyệt đối không phải là một đạo sĩ hay pháp sư tuyên truyền về dị đoan trong sự trị bệnh. Như ông đã xác quyết trong phần mở đầu cuốn biên khảo, “Chúng ta thiết tưởng phải gột bỏ định kiến coi bùa chú là ‘dị đoan’ mà chúng ta nên có thái độ mở rộng tâm trí mà nghĩ rằng đó là những vấn đề thuộc phần tiềm thức hay linh thể trong lãnh vực của một nền văn hóa cổ xưa, và đường hướng thích nghi nhất là phải điều tra, khảo sát và phân tích cái nền tảng tín ngưỡng của dân Việt Nam ta qua giòng lịch sử triết lý và văn hóa” (trang 34).


PTVN được in ấn trang nhã với những hình ảnh minh họa hấp dẫn, chữ in khổ lớn dễ đọc, sự phân chia nội dung của sách ra từng phần và từng chương rất hợp lý và nhất quán.  Nhìn vào mục lục đầy ắp chủ đề được xếp đặt mạch lạc, người đọc sẽ có cảm tình ngay với cuốn sách và thêm tin tưởng vào khả năng trình bầy những kiến thức, những phát hiện mới của tác giả một cách khoa học và có hệ thống rõ rệt. 

Nội dung được truyền đạt một cách trong sáng để người đọc dễ hiểu, và có mối liên kết lớp lang giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện mạch lạc. Văn phong của tác giả luôn thanh lịch, bình thản, với những ẩn dụ nên thơ rải rác đó đây. Đáng quý thay lời nhận định khiêm cung của tác giả khi ông thấy các công trình đồ sộ của người Trung hoa, Nhật bản, và Tây phương nghiên cứu về pho kinh điển của Đạo giáo: “Nhìn lại công trình khảo sát của thiên hạ, chúng ta mới quả thấy mình như chim chích lạc vô rừng sâu” (trang 19).

Nhưng tôi thấy con chim chích khiêm hạ đầy thiện tâm thiện chí đã mạnh bạo một mình bay vô cõi rừng u linh ấy, mê say học hỏi trong một thời gian đằng đẵng, rồi bay ra khỏi cánh rừng để chia xẻ những điều đã học hỏi được một cách lớp lang tuần tự, nhờ vào cách chuyển đoạn, chuyển ý thông minh và đầy cẩn trọng của tác giả.

Kiến thức vững vàng trong các lãnh vực hóa học, thực vật học, y khoa, tôn giáo, và tâm lý học phân tích của tác giả đã được sử dụng để giải thích một số hiện tượng kỳ bí – như cây ngải, cách nuôi ngải, và giải ngải, cũng như về cái hội chứng chết đột ngột bất đắc kỳ tử vào ban đêm (gọi nôm na là “ma đè”) của khoảng 100 người tỵ nạn gốc Mòng (Hmong) còn trẻ và đang khỏe mạnh.

Tôi thiết nghĩ nếu có thêm một thư tịch đầy đủ hơn và vài trang danh mục cuối sách (index), PTVN sẽ là một tài liệu giáo khoa thượng đẳng. Trong trào lưu giáo dục đa sắc tộc, đa văn hóa đang thăng hoa ngày nay tại Mỹ, tôi uớc mong sẽ có người sử dụng tài liệu quý giá này làm chuẩn để khai phá thêm, cập nhật, và biến nó thành một luận án tiến sĩ hoặc thành một cuốn sách giáo khoa dành cho các sinh viên chuyên về nhân chủng học.

Cái tiềm thức tâm linh kỳ bí được phơi bầy trong PTVN đã gắn liền với nếp sống Việt Nam từ bao nhiêu đời nay – nó hiển hiện đậm nét ngay cả trong ngôn ngữ Truyện Kiều dưới thần bút đệ nhất thi hào Nguyễn Du.

Bạo thay – thách thức lời khuyên “kính quỷ thần nhi viễn chi” của người xưa – Nguyễn Du đã cho Thúy Kiều tiếp xúc với người ca kỹ bạc mệnh Đạm Tiên nằm dưới tấm mồ vô chủ! Đó là đoạn Thúy Kiều cùng hai em đi qua tấm mồ “hương khói vắng tanh” ấy trong cảnh xuân rực rỡ của hội đạp thanh, và nàng đã xót xa, thắp hương để “người dưới suối vàng biết cho.” Rồi nàng còn:

Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra
Lại càng ủ dột nét hoa
Sầu tuôn đứt nối châu sa vắn dài

Khi em gái Thúy Vân chê chị “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” và em trai Vương Quan trách lời nói gở của chị “thấy người nằm đó biết sau thế nào?” thì Thúy Kiều quả quyết đáp lại, chắc như đinh đóng cột:

Kiều rằng những đấng tài hoa
Thác là thể phách còn là tinh anh
Dễ hay tình lại gặp tình
Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ

Thiêng thay, như thần giao cách cảm, hồn ma Đạm Tiên xuất hiện – mạnh như gió cuốn, thoảng mùi hương phấn, dấu giầy in rõ mồn một trên rêu:

Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay
Ào ào đổ lộc rung cây
Ở trong dường có hương bay ít nhiều
Đè chừng ngọn gió lần theo
Dấu giầy từng bước in rêu rành rành

Như tôi đã chia xẻ cùng tác giả PTVN trong thời gian ông biên soạn cuốn sách, thế giới u linh không còn là chuyện tầm phào nữa đâu, vì ngay cả các trường đại học lừng danh nhất nước Mỹ đã từng cấp phát văn bằng tiến sĩ cho một số sinh viên viết luận án về bùa chú và các đề tài tương tự. Điển hình là sinh viên Bradford Verter đã bảo vệ thành công luận án viết về sự xuất hiện cận đại của “bí đạo” hoặc niềm tin vào huyền bí (occultism), và được Đại Học Princeton cấp văn bằng tiến sĩ về lịch sử tôn giáo năm 1997. Tiếp đó, năm 2000 Đại Học Harvard cũng đã cấp văn bằng tiến sĩ về nhân chủng học cho sinh viên Kori Pekala với luận án viết về những phương cách để đánh bại quỷ thần (gồm quỷ thuật, bùa chú, trù ểm, trừ tà) nêu trong sách kinh tôn giáo cổ Avesta tại xứ Ba Tư.  Thế mới biết cái thế giới u linh mà Bác sĩ Lê Văn Lân đã tìm hiểu cho người Việt chúng ta cũng bàng bạc trong văn hóa nhân loại.

Bác sĩ Lê Văn Lân là cây bút biên khảo kiệt xuất của chúng ta tại hải ngoại, và PTVN lại một lần nữa chứng minh tài năng siêu việt này của ông.


(từ trái: phu nhân và Bác sĩ Lê Văn Lân, Tiến Sĩ GS Đàm Trung Pháp 2009)

II: CHỮ NHO VÀ ĐỜI SỐNG MỚI
(GIÁO SƯ NGUYỄN NGỌC PHÁCH)
Tổ-hợp Xuất-bản Miền Đông Hoa-kỳ
Xuất bản năm 2004 / 730 trang
Điện thoại liên lạc: 703-525-4538 

Trong mùa Giáng Sinh 2003 từ Dallas đi thăm gia đình, tôi ghé tiệm sách Tự Lực tại Little Saigon và ngẫu nhiên mua được cuốn CHỮ NHO VÀ ĐỜI SỐNG MỚI (CN&ĐSM) –với tựa đề phụ “Thành-ngữ Hán-Việt Thông-dụng”– do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Phách biên soạn.


Ngờ đâu tôi vừa tặng cho tôi một món quà đặc biệt! Là người mê ngôn ngữ, tôi không thể rời cuốn CN&ĐSM trong nguyên một tuần lễ, và thích nó đến nỗi phải thông báo ngay cho lớp Hán-Việt do Viện Việt Học tổ chức trên Internet! Kinh nghiệm thú vị này khiến tôi nhớ lại thuở xa xưa khi mua được cuốn Benét’s Reader’s Encyclopedia của nhà xuất bản Harper-Collins khi còn là sinh viên văn khoa tại một đại học Mỹ vào đầu thập niên 1960.

CN&ĐSM là nơi tập trung của hằng hà sa số thành ngữ Hán-Việt xếp theo mẫu tự la-tinh, từ “a di đà phật” tới “yểu thọ bất nhị.” Kiến thức bao trùm cả đông lẫn tây cộng với cái duyên mặn mà và lòng chân thành lồ lộ của soạn giả Nguyễn Ngọc Phách trong những lời bàn rộng cho các thành ngữ trong sách làm tôi sảng khoái. Xin đan cử lời bàn rộng của Nguyễn soạn giả trong thành ngữ  “đa nam, đa thọ, đa phú 多男多夀多富” (trang 132) có nghĩa đông con trai, lắm tuổi, nhiều của –lời chúc đầu năm ông cha ta đời xưa rất thích: “Theo sách Trang-Tử Bích thì khi Vua Nghiêu đi chơi đất Hoa, nhà vua được viên quan trấn giữ biên thùy chúc như vậy thì ông đã trả lời: ‘Đa nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa phú đa oán’ (lắm con trai thì lo sợ nhiều, sống lâu thì nhục nhã nhiều, càng giàu có thì càng thêm người oán hận. Cũng có khi câu này được rút ngắn là ‘Đa nam đa cụ, đa thọ đa nhục’ (con lắm, sợ nhiều, sống lâu, nhục lắm). Nhưng ra vẻ người Á Đông vẫn thích mấy lời chúc này nên đến giờ người đã sang đến Mỹ mà còn chơi tranh và tượng Tam Đa (the three abundancies). Tranh loại này thường vẽ ba ông già diện-mạo phúc hậu, một ông bế cháu (đa nam), một ông râu dài chấm rốn tay cầm trái đào (đa thọ), và một ông trông bệ vệ, giầu có (đa phú). Tranh Tam Đa còn được gọi là tranh Phúc, Lộc, Thọ, một khái niệm rất được người Việt mến chuộng nên ở đâu cũng có Cư-xá Tam Đa.”

Lối trình bầy nhất quán và hệ thống hóa làm cuốn sách dễ dùng. Mỗi mục từ là một thành ngữ Hán-Việt được viết bằng chữ quốc ngữ, và nằm ngay phía dưới là các chữ nho tương ứng viết dạng phồn thể chân phương. Rồi nghĩa đen từng chữ nho được chuyển qua tiếng Việt, tiếp theo là ý nghĩa toàn thể của thành ngữ được giải thích rõ ràng, có khi kèm theo các thành ngữ tiếng nôm tương đương, và sau cùng là một giải thích súc tích bằng tiếng Anh hàn lâm. Chẳng hạn thành ngữ “hữu danh vô thực 有名無实” (trang 207) được cắt nghĩa thế này: “[hữu = có, danh = tên, vô = không, thực = thực]. Chỉ có hư danh chứ không có thực quyền – như có tiếng mà không có miếng [Quốc-ngữ]: It is so in name but not in reality > merely nominal.”

Soạn giả đã bỏ ra nguyên một năm chỉ để hoàn tất phần Sách-dẫn & Cách Dùng dài 116 trang, in trong phần cuối cuốn sách. Cứ xem sự phong phú bát ngàn của nội dung, bảng liệt kê Sách & Tư-Liệu Tra-Cứu (trang 612) với những nguồn thông tin khả tín, và sự kỹ lưỡng, căn cơ của phần Sách-dẫn (Index) để người sử dụng cuốn sách có thể “kiểm-tra cả hàng ngang lẫn hàng dọc”, tôi thiết nghĩ bộ sách tra cứu nghiêm túc này hẳn phải là kết quả khá nhiều năm của một “labor of love”, một nỗ lực vị tha rất đáng ngưỡng mộ. 

Theo tâm lý giáo dục ngày nay tại Hoa Kỳ, tài liệu học tập tốt nhất khi nó là tổng hợp của các bộ môn khác nhau cùng chuyên tâm một vấn đề, vì sự hiểu biết phát triển mạnh nhất qua những mối liên quan tri thức. Vì lý do này, một bài học hữu hiệu phải là một “đơn vị chủ đề” (thematic unit) được khai phá từ nhiều khía cạnh. Vô tình hay hữu ý, rất nhiều mục từ trong CN&ĐSM phản ánh triết lý giáo dục vừa kể. Những mục từ này có thể được coi như những “đơn vị chủ đề” thượng hạng, trong đó những mối quan hệ kiến thức trong các lãnh vực văn chương, triết học, chánh trị được thực hiện một cách tự nhiên, qua những lời bàn rộng ra của tác giả.

Thành ngữ “thiên hạ vi công 天下爲公” (một mục từ trong sách, trang 479) là một thí dụ cho nhận định nêu trên.  Bốn chữ này đã là một dấu hỏi trong trí não tôi nhiều năm nay, từ khi tôi thấy chúng được viết lớn trên nóc một cổng dẫn vào Chinatown ở thành phố New York. Tò mò, tôi hỏi một người bạn trí thức gốc Trung Hoa thì được biết câu ấy là của Tôn Dật-tiên, nhưng chưa hài lòng vì không biết chút nào về ngữ cảnh (context) của nó. Lời giải thích gọn gàng của Nguyễn soạn giả làm tôi rất hài lòng với sự hiểu biết mới của thành ngữ “thiên hạ vi công”, đặc biệt là chi tiết sau đây: “Thành ngữ này thực ra chỉ là phần chót của một câu Tôn Dật-tiên viết ngay trong đầu bài nói về Thuyết Đại Đồng: Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công 大道之行也,天下– Đạo Trời được thi hành thì thiên hạ là của chung mọi người.”

CHỮ NHO VÀ ĐỜI SỐNG MỚI là một kho tàng kiến thức đầy hoa thơm cỏ lạ trong các lãnh vực ngôn ngữ, văn chương, triết học, và chính trị đang chờ đón những độc giả muốn thăng hoa tri thức. Mặc dù cuốn sách này được soạn giả nhắm vào giới trẻ Việt Nam sinh trưởng tại phương Tây cho nên không giỏi tiếng Việt, sự ích lợi của nó không có biên giới. Ai ai muốn trau giồi tiếng Việt đều cần cuốn sách tra cứu này.





Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)