Tìm kiếm Blog này

Thụy Khuê: Hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ viết về Phạm Tăng

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

Tháng 12/2008 hoạ sĩ Phạm Tăng nhờ tôi dịch hai bài viết của hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ, viết về ông, nhân dịp ông triển lãm tranh ở Bruxelles năm 1968. Không biết ông có đưa in hai bài này ở đâu chưa, hay chỉ giữ cho mình và người thân. Hôm nay, tìm lại hồ sơ của ông, tôi xin công bố hai bài viết đặc sắc này, bởi ngoài những nhận định giá trị của Paul de Swaef và Alain Germoz về nghệ thuật Phạm Tăng, còn có những lời của chính hoạ sĩ nói về hội hoạ của mình. - Thụy Khuê

Tác phẩm tuyệt vời của Phạm TăngDưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến 
là sự tìm kiếm một "ánh sáng nội tâm" 
Paul de Swaef 
Tác phẩm của Phạm Tăng thật lạ lùng quyến rũ. Hội họa ư? Ta chỉ thấy những mảng khảm, cẩn, màu sắc và hình thái vô cùng khác biệt toát ra từ một phép luyện đan mê ảo của đất trời như những viên đá quý hoặc những tia phún thạch từ hoả sơn phun ra. Những sắc diện lấp lánh tia vân tựa như vô vàn dòng điện giao thoa này, khi đông đặc, đã đóng cứng cái trận đồ của những lực nguyên thuỷ như ta thường thấy trong rễ cây, trong nham thạch, trong vũ điệu của lửa.
Dấu ấn phi thường của cuộc đời, sự thạch hoá kỳ ảo của màu sắc, hài hoà cả đến những tế bào li ti, khiến sức quyến rũ của khối toàn bích này làm ta chóng mặt, tạo ra một thứ kinh hoàng không xác định nổi. Nói mãi cũng nhàm, chỉ cần nhìn những tựa đề : «Động mạch xanh», «Nẩy mầm», «Chẩy trong pha lê», «Hiển vi»... cũng đủ cho ta cái cảm giác sâu đậm về những bí mật của thiên nhiên. 

Từ Hà Nội đến Sài Gòn, sang La Mã
Phạm Tăng gốc Hà Nội. Sau khi đã tích cực tham gia cuộc kháng Pháp dài, cuối cùng ông bỏ những người bạn cộng sản. Một nghệ sĩ làm sao có thể chấp nhận cái cứng rắn giáo điều và hậu quả khốc liệt của nó...
Nhưng ở Sàigòn, cũng không dễ dàng gì. Là nhà báo và vẽ hý họa chính trị dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Phạm Tăng đã phải lìa xứ để trả giá cho sự tự do của mình. Từ hơn mười năm nay, ông sống ở La Mã, lập gia đình và có con. Tại đây, đã đâm chồi nẩy hạt tác phẩm của ông, thoát khỏi những thời thượng, những trường phái, làm khuynh đảo tất cả. Phạm Tăng tận dụng những kỹ thuật cổ truyền của quê hương: Sơn mài và đồ sứ góp phần sáng tạo tinh tế cái vũ trụ đến từ sâu thẳm trong tận cùng bản thể.
«Nghệ sĩ trước hết là nghệ nhân», Phạm Tăng vừa nói vừa bước mạnh trên những bức "toan" lạ lùng, cứng như đá. 
Kinh nghiệm đạo Phật
Nếu phải gắn Phạm Tăng với một dòng tư tưởng, ông chọn Thiền trong Phật học, nhưng không chấp nhận nhãn hiệu bề ngoài. Ông cho rằng "Ở Tây phương, người ta thường quan niệm sai lầm rằng đạo Phật là một tôn giáo, thật ra đạo Phật chỉ là con đường tìm cách sống. Đức Phật nói: ta cũng không biết rõ hơn ngươi rằng ta từ đâu tới, tại sao ta lại ở đây. Đời là cuộc sang sông đầy sóng gió, chúng ta đang ở trên đò, phải tập cách chèo. Khi một người bị trúng tên, điều quan trọng không phải là hỏi ai ném, tại sao, mà là làm sao cho vết thương chóng lành. Chúng ta cũng phải tìm cách chữa lành những vết thương làm ta đớn đau, như thế.
"Đó là tư tưởng nền móng của đạo Phật. Những biến thể khác cũng chỉ là những cách làm lành vết thương khác nhau. Chủ nghiã Mac-xít cũng có thể là một phương pháp. Không ai giữ độc quyền trong việc tìm kiếm con đường minh triết". 
Từ khước mất mình
Phạm Tăng nói tiếp: "Thiền là sự gặp gỡ giữa Phật và Lão. Giải pháp của đạo Lão khá thần bí. Đại khái là phải đạt tới cái lẽ "vạn vật huyền đồng". Nghệ sĩ Nhật Bản, Trung Hoa theo đạo Lão, thường tìm cách hoà đồng với với tất cả. Dù vẽ chim, vẽ núi, thì họ cũng đã là chim, là núi, như đã là chính họ. Cá thể chỉ là ngoại diện. Điều đó giải thích tại sao cái có cũng lại là cái không. Vì vậy, điểm quan trọng nhất trong nền hội hoạ này là cái không. Đạo Lão loại tất cả những lý thuyết chính trị. Lão chủ trương vô trị tuyệt đối theo đúng nguyên tắc: khi ta đã mở tất cả các cửa ra thì làm gì còn có kẻ cắp".
«Ý hướng lớn lao của họa sĩ là làm sao hoà mình với tạo vật, đạt tới niềm thanh lãng. Nhưng tôi thấy con đường này yếm thế, tiêu cực. Bởi nó dẫn đến cõi không, nó triệt tiêu ta. Tôi từ chối cái thống khoái trong sự mất mình. Khi vẽ đàn chim, sông hồ, đồi núi, ta cũng chỉ diễn tả cái sâu lắng trong tận cùng bản thể. Riêng tôi, dưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến, là cái nhân bên trong mà tôi muốn đạt, muốn tái tạo. Biết là mình chẳng biết gì, nhưng tôi vẫn cố gắng tìm hiểu, để chứng minh, trong hồng tâm của bản ngã vẫn có một thứ ánh sáng khuyếch tán, có khả năng cung cấp cho sự hiện hữu của mình một thứ cơ năng, và với tôi đó mới chính là liều thuốc công hiệu chữa những khổ đau và cô đơn của con người. Tôi tìm cách giao thoa những động tác của thiên nhiên mà không tự hoá mình với nó từ bên ngoài. Tôi không vẽ, tôi tạo. Hơn nữa, ở phương Đông nơi tôi sinh trưởng, không có khái niệm nghệ sĩ tạo hình, đã vẽ là kiêm cả cầm, kỳ, thi, họa.
"Anh bảo điều đáng chú ý trước tiên trong tranh tôi là nó đẹp. Nhưng tôi lại tin rằng không có lời giá trị nào mà không trau truốt. Mỗi lời mỗi câu của Phật, của Chúa là những lời châu ngọc. Nếu không châu ngọc thì người đời không nghe theo, không truyền tụng. Mọi quyến rũ đều phải trải qua cái đẹp. Nguyên khởi, bức tranh tự nó không thanh tĩnh, không sầu thảm. Nó hiện hữu, thế thôi. Như con bướm. Phải khám phá nó và quên kẻ đã tạo ra nó".
Có thể nghe Phạm Tăng nói trong nhiều giờ mà không chán. Nhưng lối tiếp cận kỳ thú với họa sĩ qua ngôn từ này vẫn chẳng giải thích được cái phép lạ hiển nhiên kỳ diệu mà mỗi tác phẩm của ông đem lại cho ta. Có thể chính ông cũng chẳng biết gì về cái tài năng thiên bẩm của mình, tại sao nó lại như thế. Cũng có thể bởi vì nghệ thuật là để diễn tả cái không thể diễn tả được.
Trái lại, điều rõ ràng là chúng ta đang đứng trước một trong những sáng tạo quan trọng nhất của thời này.
Paul de Swaef (T.K dịch)

Báo Le Peuple, ngày 3/7/ 1968 (?) năm đề không rõ. 

*** 
Một nghệ sĩ Việt giữa Bắc và Nam 
Alain Germoz
Làm sao một nghệ sĩ Việt Nam có thể sống và sáng tác xa vùng đất mẹ?
Sự đối chọi giữa bạo lực chiến tranh và tế vi nghệ thuật có đủ để trả lời câu hỏi không?
Không đơn giản như thế.
Từ mười năm nay, họa sĩ Phạm Tăng sống ở La Mã. Tại đây, ông đã kiện toàn cái học của mình -sau khi đã theo nghành hội họa và kiến trúc ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội. Tại đây, ông vẽ và cũng từ đây, ông nổi tiếng ra nước ngoài. Hôm nay, ở Bruxelles, ông triển lãm lần đầu tiên tại Bỉ. 
Thử thách thành công
Quan niệm, kỹ thuật và tinh thần Đông phương, nhưng tác phẩm của Phạm Tăng lại rất Tây phương ở tính hiện đại, ông đã thành công trong cuộc thử thách lạ lùng, giao hoà hai nền văn minh - hai độ mẫn cảm khác nhau. Ở chỗ mà người ta có thể trật đường và bị nghiền nát vì trọng lượng của cái không thể hàn gắn được, Phạm Tăng vượt qua dễ dàng đến độ làm ta sửng sốt. Và cũng chính vì thế ông đã trao một bài học khiêm tốn và mẫn cảm đến những người, ở phương Tây, thường nhắm vào cái bạo lực, cái thô thiển, cái vũ bão, bởi họ không còn tin vào hiệu lực của tế vi trong nghệ thuật. Thái độ tuyệt vọng ấy không xứng đáng với nền văn minh mà họ phải phản ánh, phải biểu trưng những nét tinh hoa. Khuynh hướng dẫn dắt người xem đóng góp tích cực vào tác phẩm của mình đã khiến họ dùng đến những xảo thuật như tạo ra các tác phẩm có chuyển động, có ánh sáng, có tiếng động, (sao không thêm cả mùi vị nữa?) hoặc các cách trình diễn được gọi là môi sinh, môi trường, như một thứ không gian tiêu khiển. Mà cũng chỉ có thể tiêu khiển được với điều kiện là nó hay, nó đẹp. Rất tiếc là trong nhiều trường hợp, người ta chỉ thấy sự đồng loã giữa con buôn và kẻ đầu cơ, chỉ thấy sự chối bỏ hoặc đặt lại khái niệm nghệ thuật. Tôi nói điều này ra chẳng vì hậu ý mà cũng chẳng vì thiên kiến. Dĩ nhiên là với kỹ thuật mới, chất liệu mới -nhất thiết phải- tạo ra những hình thái diễn đạt mới nằm ngoài những gì vẫn được gọi là hội họa và điêu khắc. Nhưng điều đó không có nghiã là hội họa và điêu khắc không còn dành cho chúng ta nhiều kinh ngạc nữa. Nghệ thuật chẳng có ích gì khi tự biến thành quốc tế trong cái nghiã san bằng, làm mất đi những tinh chất nguyên thủy. Hội họa của Phạm Tăng là một ví dụ. Nó không chối từ nguồn cội Đông phương. 
Là bướm
Làm sao xây dựng một tác phẩm ? Trước hết tác phẩm là kết quả của sự kiên nhẫn lâu dài. Chậm rãi, tỷ mỉ, Phạm Tăng tạo một cấu trúc uyên bác tế vi với vô vàn mảnh nhỏ tích tạo thành một toàn cảnh gần như trừu tượng. Nhưng tất cả không chỉ giới hạn trong cái mà ta nhìn thấy. Nếu Phạm Tăng tìm cách giao cảm với vạn vật thì ông cũng không quên tìm cách giao cảm với người xem.
«Tôi muốn người xem và hoạ sĩ là một.Đó là lý do của những bức tranh không đóng khung.
Tôi muốn người xem cảm thấy mình tự do. Khi không còn khung nữa, bức tranh trở thành một diện tích vô hạn. Người ta có thể vào bằng bất cứ cách nào, tự do di chuyển, góp phần trực tiếp sáng tạo một thế giới mới. Khó mường tượng một họa sĩ Tây phương vẽ ngựa. Nhưng tôi, tôi muốn người xem kề gần tranh tôi như một cánh bướm nhỏ ghé vào tâm hồn đoá hoa, hòn sỏi... »
Phạm Tăng nói với chúng tôi như thế. Và tác phẩm của ông ở đó thu hút, hớp hồn chúng tôi. Rồi họa sĩ biến mất. Người xem là bướm, thơ thẩn tìm đường, xà xuống, dính vào những mảng nhỏ của một thế giới không biết là thảo mộc, khoáng chất, hay vi phân. Trên hành trình này, sự đóng góp của người xem trở thành mặc tưởng. Nhưng Phạm Tăng cũng không coi thường những cách cảm thụ trực tiếp. 
Ý nghiã của vô cùng
 Một bài trí lớn với chín bức trải hình thập tự trên nền đất. Cấu trúc có tính cách biến thể, nghiã là có thể đặt bức này cạnh bức kia theo bất cứ kiểu nào, các cạnh cũng đều ăn khít với nhau tạo thành một tổ hợp mới mà tính hài hoà không hề bị gián đoạn. Có thể nói đó là cách cấu trúc puzzle đẩy tới cùng. Tất nhiên phải hỏi: có bao nhiêu cách kết hợp như thế? Và Phạm Tăng đã tính trước: có 791.807.325.218.802.395.424.183.359.603.200.000.000 cách.
Tôi không kiểm lại.
Như vậy, ý nghiã của vô cùng có thể xẩy ra trong hội họa. Ở đây, nó làm cho ta chóng mặt vì những con số và vì tính cách tự do tuyệt đối của người biến đổi.
Lạ kỳ thay sự khác biệt giữa ngôn ngữ của một họa sĩ và những nhà chính trị. Nhưng làm sao có thể quên được những kẻ này trong khi số phận nước Việt từ nhiều năm nay nằm trong những cuộc thanh toán đẫm máu? 
Cá mắc cạn
Có thể Phạm Tăng đoán được câu hỏi. Ít ra, ông đã dự đoán.
«Tôi nghĩ công việc lâu dài và cần thiết là xây dựng lại tinh thần dân tộc».
Ông nói thêm:
«Tôi không thích chém giết».
Nhưng Phạm Tăng đã trải qua chiến tranh. Ông đã tranh đấu trong 8 năm. Chống Nhật rồi chống Pháp. Xuất thân từ miền Bắc, ông đã chiến đấu bằng lý tưởng của tuổi trẻ. Sau bẩy năm, ông nhận thấy có những đổi thay trong hàng ngũ cộng sản. Sự chống lại đế quốc ngoại lai ban đầu được chêm vào một sự kiện mới: tình trạng đấu tranh giai cấp và ma lực thế quyền. Đấu tranh giai cấp đối với người Việt, chẳng có nghiã gì. Chỉ là việc áp dụng lý thuyết Mác-xít. Đáng buồn là những kẻ đã góp phần vào cuộc chiến chống đế quốc -Phật có, Khổng có, Chúa có, tất cả toàn dân đều đã góp phần vào- lại bị những người cộng sản coi là kẻ thù và phản động. Lòng nhân nhượng của người Việt nhường chỗ cho sự không khoan nhượng của cộng sản, ở miền Bắc và của đế quyền, ở trong Nam. Phạm Tăng, tham gia nghề báo trong 5 năm, thấy chính quyền không chấp nhận phê phán lẫn phản biện. Tự do ngôn luận bị đe dọa. Ông rời xứ.
«Tôi có cảm tưởng như mình là con cá mắc cạn. Nhưng thà mắc cạn còn hơn là bị cuốn theo bên này hay bên kia.» 
Không khoan nhượng
Trung dung và cao nhã luôn luôn là vị trí của một người có văn hoá.
«Những nghệ sĩ, nhà văn, nhà tư tưởng đều làm cách mạng. Nhưng khi cách mạng thành công -tiến trình này ai cũng biết- gọng kìm khép lại bóp nghẹt những tiếng nói độc lập. Sự tranh giành quyền lực khiến những người cầm quyền thanh toán bạn đồng hành cũ bằng cách ép vào tội phản quốc».
Tình hình Việt Nam có hơi khác những gì ta nhìn thấy từ xa. Tối thiểu là hai triệu người bị loại bởi cả hai phiá, Bắc cũng như Nam. Ai quan tâm đến?
Những kẻ thương thuyết hoà bình -nếu thành công- có thể đem lại an lạc cho một dân tộc bị những ý thức hệ tàn phá với vô vàn thảm kịch. 
Công lý
Theo Phạm Tăng, phải chờ hai, ba mươi năm nữa mới có thể tìm lại sự yên bình. Ông, có bạn cả Nam lẫn Bắc, cho rằng cần phải có công lý. Công lý không phải là một thực thể luôn được chia sẻ đồng đều trong thế giới loài người. Nhưng có những việc quá rõ ràng. Phạm Tăng không tránh né khi nghe nói đến những kẻ đầy túi vì theo Mỹ. Đó là những kẻ phản quốc phải xử lý.
Ta thấy ngay rằng, bên này hay bên kia, đều có những kẻ phản quốc, phản động. Còn biết bao nhiêu trường hợp mà lương tâm phải giải quyết trước khi tìm lại niềm vui và sự êm dịu để sống - trong nhân nhượng. Để chính những người Việt Nam có thể thưởng thức được những giá trị tinh thần của một nghệ sĩ như Phạm Tăng.
Alain Germoz (TK dịch)

Vie/Spectacle, Bruxelles, ngày 4/12/1968

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)