Tìm kiếm Blog này

HỒ NHƯ: TẠM GỌI LÀ CẦU HÔN

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017

Chúng tôi ngồi trong một quán ăn Tàu, trong góc phố Tàu, giữa thành phố da trắng bắt đầu đông người da vàng. Góc phố khoảng trên dưới mười tiệm, trong số đó hơn nửa là quán ăn, xanh đỏ đủ màu tên bảng nửa Anh nửa Tàu. Tôi ngồi sát ngay cạnh cửa kính quán ăn lớn nhất, nhìn quanh với con mắt nửa chê bai nửa ghen tỵ. Phố người Việt bao giờ cũng có chữ Tàu xen vào, còn ở đây, tha hồ kiếm đỏ mắt cũng không thấy tiếng Việt nào.
Trung đằng hắng nho nhỏ. Cách kêu gọi chú ý cổ điển của một người đàn ông thích nền nếp cũ. Anh gọi tôi ra đây để nói chuyện đây mà, đâu phải để tôi ngơ ngẩn ngắm trời ngắm đất. Tôi thấy là lạ, muốn từ chối gặp anh, nhưng chẳng có cái hẹn nào khác nên bằng lòng, coi như cái cớ ra ngoài căn chung cư bé tẹo của mình dạo mát. Trung và tôi có chuyện gì để phải long trọng “có chuyện muốn nói với Ngà” nhỉ ? Cho dù quen biết đã lâu, lâu lắm, vẫn chỉ là quen biết vầy vậy, không thể thân hơn. Dĩ nhiên thân hay sơ cũng là chuyện “tùy người đối diện,” vì tôi đoán Trung nhìn thấy mối quan hệ của chúng tôi thân lắm rồi, sắp ngấp nghé tri kỷ tới nơi. Tôi không cải chính, cũng không có cách cải chính, vả lại, tôi tự bảo, có chi mà phải ầm ĩ. Miễn sao cả hai đừng ai bước qua mức rào của chính mình.

Tôi ngồi thẳng lại đối diện Trung. Anh đang cầm tấm khăn giấy mỏng lau đũa cho tôi, từ tốn, cẩn thận. Một trong những ưu điểm của người đàn ông phái cổ điển như Trung là tính ga lăng. Thích chăm sóc những điều nhỏ nhặt cho phái nữ, chắc vì thích cảm thấy mình là kẻ chở che. Hay cũng có thể vì được vợ huấn luyện thuần nhuyễn rồi. Tôi mỉm cười một mình. Tôi chưa gặp vợ Trung lần nào, không đoán được ai “trị” ai, nhưng Trung chắc chắn thích làm chủ gia đình, nghĩa là quyết định mọi thứ, từ chiếc xe mua cho vợ đến tiền bạc hùn hạp ở đâu. Hình như anh biết cách làm ăn lắm thì phải, nhà tậu mấy căn, việc làm tay phải, buôn bán tay trái. Tiền bạc dư giả, vợ con đầm ấm. Nhưng có lẽ không ai tránh được tật tham lam, không biết đâu là đủ, cho nên anh vẫn hay yếm thế, than van. Đôi lần, bị tôi dồn quá, anh miễn cưỡng nhận rằng anh cũng có vài diễm phúc. Lần khác, anh gật gù, với chút tự hào không che giấu, rằng anh biết lo chuyện chung chuyện riêng đâu vào đó. Dĩ nhiên, tôi biết đa số những lời than thở của anh để cho riêng tôi nghe thôi, vì muốn khêu gợi cảm thương của tôi cũng có, vì muốn cho tôi cảm thấy được tâng bốc cũng có.
Tôi quen Trung sáu, bảy năm trước, lúc tôi đang bế tắc trong một mối tình. Ngay từ buổi nói chuyện đầu tiên, tôi đã đoán mình sẽ có một kẻ ái mộ trên trời rơi xuống. Không hề biết Trung có gia đình, tôi thấy vui vui, là lạ khi anh làm thơ tặng, nghĩ thầm: lãng mạn kiểu cổ. Với tôi, đó là một trò chơi tình cảm bên lề, như bao trò chơi khác, đến thoáng chốc và đi rất nhanh. Nhưng với Trung, lãng mạn kiểu cổ cộng gàn bướng kiểu nho gia, mọi thứ được nhân đôi nhân ba tầm quan trọng. Anh nói cho tôi biết anh đã có vợ, theo chính sách thật thà đúng lúc (theo anh, tôi không phản đối mấy bài thơ của anh có nghĩa rằng tôi đã “cảm” anh mất rồi). Đang cười cợt, đang đắc chí, bỗng dưng tôi thấy mình bị xúc phạm. Tôi không ngại những chuyện đong đưa giữa hai kẻ khác phái chưa bị ràng buộc, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lấn bước vào gia đình kẻ khác. Sáu, bảy năm trước, tôi còn trẻ dại, còn ngây ngô, còn tin cậy, và còn lý tưởng lắm, cho nên tôi nổi cáu lập tức. Tôi gọi Trung là kẻ lừa dối, là người phụ bạc, nhiêu từ ngữ khó nghe tôi không nhớ hết và không thể viết ra. Trung chối bay chối biến, cãi cho đến cùng đến tận những câu buộc tội của tôi, nhưng như con lừa dậm chân hục hặc, anh ì ra không nhúc nhích. Rủ rê tôi gặp mặt, lãnh đủ vài bài lý thuyết đạo đức, anh tránh đi ít lâu rồi lại rủ rê. Thoạt tiên, tôi bày trò lý tưởng muốn cải hoá anh thành bạn. Sau đó, thấm mệt, tôi cắt đứt liên lạc. Hai, ba năm sau, anh tìm đến, tôi đã mệt thật sự. Không muốn lập lại hoài câu từ chối. Không muốn gìn giữ những nguyên tắc bắt đầu lung lay. Bắt đầu cay đắng, bắt đầu nghi kỵ, bắt đầu nhận ra những chiếc bóng màu xám ở giữa đen và trắng, tôi thấy Trung cũng như những người đàn ông khác, thích chinh phục, chiếm đoạt. Lúc ấy, tôi đã hiểu ra rằng Trung sẽ không bao giờ rời bỏ tổ ấm, rằng tôi chỉ là biểu tượng của một chút mơ mộng về những điều Trung cảm thấy thiếu thốn, là chút hương hoa cuộc đời cho anh quên đi hiện thực trong vài phút. Trung không xấu xa, cũng không tốt đẹp. Anh chỉ là một người đàn ông với tất cả bản năng rất người, kể cả những bản năng không hẳn được hoan hô. Trung chiều chuộng, ga lăng thế đó, nhưng bản năng chiếm đoạt, chiếm ưu thế trong mọi trường hợp. Anh bảo anh mong cho tôi được hạnh phúc, gặp người ưng ý, vân vân và vân vân, rất thành thật, tôi nghĩ. Nhưng cùng lúc, anh không ngừng tán tỉnh, không ngừng chờ đợi giây phút tôi ngã lòng, ngã vào mối tình tôi không hề muốn với anh. Sáu, bảy năm, không phải không có những lần, giữa những mối tình không kết quả, tôi lung lay trước những mời chào của Trung. Cũng có lần tôi tự hỏi mình còn giữ mối quan hệ nửa chừng với Trung làm gì? Câu trả lời, rất đơn giản, vì Trung luôn có ở đó những lúc tôi cạn kiệt lòng tự tin. Sự trao đổi, thật ra, rất sòng phẳng. Tôi mang lại cho Trung chút ảo tưởng thơ mộng, Trung cho tôi những lời tán dương tôi không tin nhưng thích nghe.
Trung đằng hắng một lần nữa. Tôi mỉm cười, như để muốn nói rằng tôi vẫn còn ở đây, trước mặt anh, cả hồn lẫn xác. Trung đặt đôi đũa ngay ngắn xuống mặt bàn bên tay trái của tôi, trên lớp khăn giấy anh lót sẵn. Người hầu bàn lượn qua, đặt món khai vị xuống, rồi biến mất. Trung gắp cho tôi miếng mực rang muối tiêu, ân cần hỏi có ngon không? Cũng được, tôi lúng búng nói trong miệng. Chưa xong món khai vị, người hầu bàn sốt sắng đã trở lại mang theo mấy món chính. Trung xới cơm vào chén, vun lên cho đẹp nhưng chỉ đong lưng chừng, ý tứ sợ tôi lúng túng với bát cơm quá đầy. Anh hỏi tôi những câu vẩn vơ, tôi trả lời những câu vẩn vơ. Trời đánh còn tránh bữa ăn, có lẽ anh không muốn tôi bị mắc nghẹn khi anh nói vào chuyện quan trọng. Anh đợi đến khi tôi bắt đầu chống đũa vào bát cơm, nhìn lơ đãng (dấu hiệu bắt đầu chán hoặc no). Anh hỏi tôi chuyện tình cảm của tôi dạo này ra sao. Có sao đâu, tôi nói, bình thường, vẫn còn cặp kè với anh chàng quen hai ba tháng trước. Chừng nào được uống rượu mừng của Ngà? anh hỏi. Trung hay nói trống không như thế, vì anh không muốn xưng “tôi” và cũng không được tôi cho phép xưng “anh”. Như rất nhiều người đàn ông khác tôi biết, Trung cảm thấy xưng “anh” là một đặc quyền của phái nam đối với phái nữ, nhất là phái nữ họ có chút cảm tình hay quen biết quá mức sơ giao. Mấy năm đầu quen nhau, lâu lâu anh cằn nhằn chữ “tôi” khô khan và xa cách tôi dùng tự xưng với anh. Tôi chỉ cười, thầm nghĩ ít nhất với Trung, chữ “tôi” là tấm rào cần thiết, là khoảng cách tôi muốn giữ giữa anh và tôi. Chừng nào đám cưới, Ngà? Trung hỏi lại. Ôi, tôi nghĩ, lãng mạn kiểu cổ, loại người nhìn suốt qua tình yêu đến đám cưới như một kết thúc không tránh khỏi. Có đám cưới, rượu mừng hay không, làm sao tôi biết được? Tôi trả lời như thế. Khi Trung lấy vợ, anh có sự đốc thúc của người yêu, của gia đình, của nghĩa vụ “nối dõi tông đường,” thêm sự mù quáng của tuổi trẻ và tình yêu, lại có tin tưởng sắt đá rằng hôn nhân là một phần tất yếu của cuộc sống. Bây giờ, tôi có sự đốc thúc của gia đình, nhưng cũng có bao nhiêu nghi ngờ, tính toán...
Ngà không thích anh ta phải không? Trung hỏi. Tôi nhún vai, né tránh. Trung không thuộc vào loại bạn bè có thể hạch hỏi tôi về chuyện riêng tư. Nếu tôi nổi hứng, tôi có thể kể lể cho anh nghe, nhưng thường tôi chỉ cười khi anh hỏi han. Không thấy tôi phản đối, hình như Trung cho rằng điều anh đoán là đúng, cho nên bảo, với đôi chút kẻ cả: Tội chưa. Tôi muốn nổi cáu, nhưng rồi cười khì. Trung không còn đủ sức làm tôi giận nữa, vì anh không bao giờ có được sự chú ý thật sự của tôi. Ngồi trước mặt anh, như bây giờ, tôi thấy mình đóng vai xã giao nhạt nhẽo, câu chuyện đẩy đưa không có bao nhiêu cảm xúc hay tư tưởng. Trung cũng chẳng cần cảm xúc hay tư tưởng của tôi. Anh thích tôi như thế, để anh còn ra sức tưởng tượng, vẽ vời. Tại sao mình còn gặp mặt anh ta? Tôi tự hỏi. Tại vì anh ta mời mọc mình, từ chối hai ba lần anh ta mời lần thứ tư. Tại vì mình không còn cái hẹn nào khác. Tại vì người đàn bà nào cũng thích thấy người ta ngưỡng mộ mình, cho dù người ta chỉ ngưỡng mộ sự tưởng tượng của chính họ. Tại vì sau từng đó năm quen nhau, lúc ghét, lúc không ghét, lúc dửng dưng, tôi mơ hồ thấy hình như Trung có mến tôi thật. Chút mến cỏn con khiêm nhường chen giữa bản năng chiếm hữu và vần thơ lãng mạn hoá mối quan hệ. Hình như Trung vẫn tin rằng tôi không thể nào thoát khỏi sự quyến rũ của anh, người đàn ông phái cổ điển, biết lo toan tài chánh, có chút tài vặt đàn ca thi xướng. Tôi không buồn cải chính, vì chẳng thể nào đuổi nhau hoài bằng chữ nghĩa với danh xưng. Người đàn ông bướng bỉnh cộng chút văn chương đánh bại người đàn bà hay cãi nhưng không tha thiết vào trận đấu khẩu nữa. Tôi không đủ sức giật tấm vải thưa khỏi mắt Trung khi anh khư khư giữ lấy nó. Vả chăng, có lẽ không nên lột sạch những mơ mộng hiếm hoi ra khỏi cuộc đời đã lặng ngắt, đông đặc bổn phận và thói quen của anh. Có lúc tôi khó chịu thấy người ta lôi mình vào giấc mơ không buồn xin phép, có lúc tôi thấy tội nghiệp khoảng tâm linh thiếu thốn (cho dù thiếu thốn vì tham lam) của anh, nhưng thường tôi mặc kệ Trung và những thiên đường, địa ngục thật hay ảo của anh.
Trung nghiêng người về phía tôi, nhỏ giọng: Ngà phải gấp lên chứ? Đâu còn thời gian mà đợi. Tôi biết anh muốn nói gì. Người phụ nữ chỉ có một khoảng thời gian nhất định để theo đuổi cơ hội được hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng của giới tính: sinh con. Khả năng kỳ diệu ấy, không kinh qua là sự thiếu sót không bù đắp được. Không gắng sức để được kinh qua còn là sự thất bại hơn về mức độ nữ tính. Tôi xìu xuống như bị đánh trúng điểm nhược: biết thế, nhưng... Nhưng cái gì, chính tôi cũng không rõ. Nhưng tôi không thể mắt nhắm mắt mở vớ ngay người đàn ông gần nhất? nhưng tôi không có người sẵn sàng chơi trò cưới xin? Trong những phút mơ mộng vẩn vơ, tôi chưa bao giờ hình dung được mình trong chiếc áo đầm trắng tinh khôi cúi đầu trước cha xứ, hay khép nép tà áo dài vàng hoàng hậu vái bàn thờ tổ. Trung cười mỉm. Anh bỗng tươi tỉnh, phớn phở hẳn lên, như thể vẻ bại trận của tôi là liều thuốc bổ đối với anh, là lý do anh cảm thấy mạnh mẽ, tự tin hơn. Như mọi lần, tôi thấy chút quan tâm mơ hồ trong câu nói vừa rồi của anh chìm lỉm trong lòng tự tôn, trong bản năng tranh đoạt, trong ánh nhìn sắc lẻm của con thú rình mồi. Giọng anh vẫn ngọt, tuy không giấu được vẻ kẻ cả như người sắp ban ân huệ: Ngà cũng biết, anh lúc nào cũng sẵn sàng nếu Ngà cần giúp đỡ. Tôi gật đầu bừa, ngạc nhiên thấy mình thật sự tin vào lời anh, thầm cầu nguyện mình sẽ không bao giờ cần đến điều gì ở anh. Giọng Trung ngọt hơn chút nữa: Ngay cả nếu sau này, Ngà biết đấy, chuyện có con.
Không cưỡng được, tôi nhìn sững vào mắt Trung, cố tìm một xác minh nào đó cho câu hỏi lùng bùng trong trí: Có thật anh đang nhắc đến chuyện ấy? Có thật anh đang, một lần nữa, nói tới chuyện ngoại tình, dưới một hình thức khác? Chiến lược mới đấy chăng? Bao năm nay anh nhắm vào trái tim tôi, giờ này anh xoay đòn vào hướng khác: mặc cảm thất bại của người đàn bà không sinh nở. Hoa vô duyên mới không kết trái. Gái vô hậu mới không con. Đáng lẽ tôi phải đứng phắt dậy, tát cho Trung một cái phỏng mặt. Nhưng đòn bất ngờ của anh làm chân tay tôi bủn rủn. Con nít cần có cả cha và mẹ, tôi nói, nôn nóng muốn chuyển qua đề tài khác. Nhưng Trung đã nhận ra vẻ yếu đuối của tôi: Nó sẽ có cha chứ! Tôi vẫn còn cơ hội, tôi nghĩ, để nghiêm khắc như quan toà “chỉnh” Trung mấy câu tuyên bố “trật đường rầy.” Nhưng tôi ngồi yên, bối rối. Tôi chưa bao giờ nhận ra khía cạnh này của người đàn ông phái cổ điển tôi ngỡ mình hiểu khá rõ. Tôi chưa bao giờ ngờ anh cổ điển đến mức ấy. Vợ anh sẽ nghĩ sao? Tôi hỏi, gắng gượng tung ra vũ khí cuối cùng mong đẩy Trung trở về lằn mức “chỉ là bè bạn.” Nhưng Trung không nao núng. Anh nói chậm rãi, tỉnh táo: Anh tin chắc vợ anh sẽ bằng lòng.
Thế là xong. Trận chiến ngã ngũ. Tôi thấy mình nằm sấp, mặt úp xuống đất bùn, không cựa quậy hay rên siết. Lấy hết can đảm nhìn vào mặt Trung, tôi nhận ra mình không còn cơ hội nào nữa. Trung đang lạc vào trong giấc mơ riêng của anh, giấc mơ phong kiến có võng lọng, vợ bé lẫn nàng hầu. Anh hân hoan đòi lôi tôi vào theo giấc mộng hoàng kim với anh, không biết rằng mỗi lời khuyến khích là mỗi đòn trời long đất lở đối với tôi, với tất cả mọi tế bào phái nữ thoi thóp trong tôi. Đề nghị với tôi điều sỉ nhục với bất cứ người đàn bà nào còn chút lòng tự trọng, Trung phớn phở như kẻ gia ân. Tôi không tin, hay không muốn tin, rằng Trung đang mạ lỵ tôi. Anh quả tin vào những gì anh nói. Có lẽ trong thời xa xưa nào đó anh đang mơ tưởng đến, người phụ nữ ở tuổi tôi không có cùng phản ứng tôi có bây giờ. Có lẽ người phụ nữ ấy sẽ nhìn anh như vị cứu tinh, hay ít nhất là chỗ nương tựa, trốn tránh cái cảnh ế muộn. Bỗng dưng mắt tôi nhoà đi, như muốn khóc. Bỗng dưng tôi tự thương thân quá đỗi, thương mình bị trói buộc trong phận đàn bà, cái phận phải cần có người đàn ông gọi là của mình, cho dù chỉ có thể ké né gọi là của mình sau lưng người vợ cả. Cái phận đàn bà mỗi ngày qua đi mỗi bớt giá trị. Mới năm trước Trung còn tặng thơ, gọi tôi là cảm hứng, bây giờ anh đã thẳng thừng gạt hết cả hoa lẫn mộng, nửa hăm dọa nửa hạ cố.
Chừng như nghĩ tôi đã xiêu lòng (im lặng có nghĩa là đồng ý, với Trung), Trung dịu giọng: Anh chỉ muốn chăm lo cho Ngà. Con giun đã xéo mình trên đất là tôi run lên, bật dậy. Tôi hất đầu, ngẩng nhìn anh. Không biết nụ cười trên môi tôi có được chút nào vẻ ngạo nghễ tôi muốn hay không? Trung cười lại, không nao núng. Ánh mắt của anh nhìn tôi bình thản và nhẫn nại, như người thợ săn gác súng nhìn con thú chạy điên quanh khu rừng rào kín. Một lúc nào đó, con thú sẽ thấm mệt, chậm lại. Tôi đứng bật dậy, đòi về. Như mọi lần, Trung tiễn tôi ra chỗ xe đậu, chúc vui vẻ, hẹn gặp lại. Tôi không nói ừ, cũng không từ chối, như tôi đã lẳng lặng nghe những lời đề nghị của anh. Tôi đã có thể có một phản ứng dữ dội và dứt khoát nào đó, nhưng tôi đã ngồi yên, mắt nhìn xuống hay lảng đi chỗ khác, không hẳn không giống người phụ nữ phục tòng trong giấc mơ của Trung. Im lặng, với tôi, không có nghĩa là đồng ý. Hình như nó có nghĩa là “xét lại”, cộng thêm một chút run sợ một chút yếu đuối. Lùi xe ra khỏi bãi đậu, quẹo tay mặt vào xa lộ, tôi bỗng thấy mình như đang chạy trốn. Đến bao giờ, tôi tự hỏi. Còn bao lâu nữa, tôi còn hất mặt lên như thế, cười khinh thị như thế, nói cám ơn ngạo mạn như thế trước cái-có-thể-được-tạm-gọi-là-một-lời-cầu-hôn của Trung, hay của một người đàn ông vợ con đùm đề nào khác? 

3/99

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)