Tìm kiếm Blog này

ĐÀM TRUNG PHÁP: PHONG BA BÃO TÁP KHÔNG BẰNG NGỮPHÁP VIỆT NAM: ĐÚNG HAY SAI?

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Theo thiển ý, người nước ngoài  học tiếng Việt chỉ than phiền “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” khi họ đối đầu với những đặc trưng ngữ pháp của tiếng Việt  quá khác biệt với tiếng mẹ đẻ của họ khiến họ cảm thấy như đang bị vùi dập tả tơi trong cơn bão táp. Ngược lại, họ chẳng có vấn đề gì với những đặc trưng ngữ pháp tiếng Việt giản dị hơn hoặc tương tự như ngữ pháp mẹ đẻ của họ.

Do đó, câu trả lời “nửa chừng xuân” của tôi cho lời than phiền nêu trên của người nước ngoài về ngữ pháp Việt Nam là nó “vừa đúng vừa sai.” Trong bài viết này, tôi sẽ làm sáng tỏ câu trả lời của tôi qua lăng kính Ngữ Pháp Hoàn Vũ (Universal Grammar), và giả dụ tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của những người nước ngoài đang học tiếng Việt. Vì vậy đại đa số các thí dụ sẽ bằng tiếng Việt và tiếng Anh bên cạnh nhau để làm sáng tỏ những điều tôi giải thích.


Ngữ Pháp Hoàn Vũ (NPHV) là một lý thuyết do Noam Chomsky đề xướng mà hơn nửa thế kỷ nay vẫn chưa bị đạp đổ. Lý thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều biết một số nguyên lý (principles) áp dụng cho tất cả ngôn ngữ nhân loại và một số thông số (parameters) có thể khác biệt từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia cho mỗi nguyên lý hoàn vũ. 

Để chứng minh cho sự đáng tin cậy của NPHV, Chomsky đã cùng các cộng sự viên  (nhất là Howard Lasnik) phân tích tận tường khoảng 30 ngôn ngữ đại diện các vùng, các ngữ hệ, các sắc tộc trên thế giới. Nỗ lực “mổ xẻ” nghiêm cẩn nêu trên đã khám phá ra vào khoảng 45 nguyên lý hiện diện trong tất cả những ngôn ngữ đó, với mỗi nguyên lý được biểu hiện qua một số  phương thức đặc thù gọi là thông số. 

Thí dụ căn bản nhất về nguyên lý của NPHV là một câu (sentence = S) trong ngôn ngữ nào cũng gồm hai phần chính yếu là phần câu danh (noun phrase =NP) và phần câu động (verb phrase = VP), theo công thức:

[S > NP + VP]

trong đó ký hiệu “>” đọc là “gồm có,” yếu tố NP đóng vai chủ ngữ (subject) và yếu tố VP đóng vai vị ngữ (predicate) trong câu. Mối liên hệ giữa NP và VP giúp ta hiểu được ý nghĩa của một câu nói.

Hai yếu tố NP và VP trong câu có thể giản dị, như: 
[(NP) Noam Chomsky] + [(VP) dạy ở MIT ]
[(NP) Noam Chomsky] + [(VP) teaches at MIT] 

hoặc có thể phức tạp hơn, như:
[(NP) Giáo sư Chomsky tại MIT] + [(VP) đã đề xướng ngữ pháp hoàn vũ]
[(NP) Professor Chomsky at MIT] + [(VP) promoted universal grammar]

Một thí dụ về thông số của NPHV là thông số bỏ rơi đại từ chủ ngữ (the pro-drop parameter).  Thông số này đưa ra 2 lựa chọn: (1) bỏ rơi [pro-drop] hoặc (2) không bỏ rơi [non-pro-drop].

Thông số không bỏ rơi đại từ chủ ngữ phổ cập hơn và hiện diện trong nhiều ngôn ngữ đông người sử dụng như Anh ngữ và Đức ngữ. Hãy quan sát các chủ ngữ không thể bỏ rơi viết bằng chữ lớn (HE, ER) cho 2 thí dụ bằng Anh ngữ và Đức ngữ dưới đây*:

John is from England. HE speaks English.
Hans kommt aus Deutschland. ER spricht Deutsch.    

*Trong ngữ cảnh tương tự, ngữ pháp Tây ban nha thường bỏ rơi chủ từ ÉL của động từ habla: Roberto es de México. Habla español.

Thông số bỏ rơi đại từ chủ ngữ là sự lựa chọn của ngữ pháp tiếng Việt và một số tiếng khác có đông người sử dụng như Hoa ngữ chẳng hạn. Hãy quan sát 2 thí dụ dưới đây, trong đó các ký hiệu [ai?]  và [谁(thùy)?]  đánh dấu chỗ đại từ chủ ngữ bị bỏ rơi:

[ai?] Thức khuya mới biết đêm dài
[ai?] Ở lâu mới biết lòng người có nhân

[谁?] 不  到  長  城 [谁?]   非  好 漢
**[thùy?] Bất đáo Trường Thành [thùy?] phi hảo hán 

**[ai?] Chưa đến Trường Thành [ai?] không thể là hảo hán

Dựa vào lý thuyết của NPHV, ta có thể suy luận ra rằng: Muốn thủ đắc một ngôn ngữ mới, học viên phải hiểu rõ và có khả năng phân biệt chính xác được những nét đặc trưng của mỗi thông số giữa ngữ pháp ngôn ngữ mới và ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Từ sự suy luận này, ta sẽ đi tới hai nhận xét dưới đây cho những học viên nước  ngoài (có Anh ngữ là tiếng mẹ đẻ) đang trau giồi tiếng Việt:

“Khả năng phân biệt chính xác” ấy sẽ dễ dàng thực hiện khi (a) sự khác biệt giữa thông số Việt và thông số Anh cho cùng một nguyên lý không đáng kể, hoặc (b) khi thông số Việt giản dị gấp bội thông số Anh cho cùng một nguyên lý. Thí dụ cho trường hợp (a) là thứ tự xuất hiện (word order) của chủ từ (subject = S), động từ (verb = V), và túc từ (object = O) trong một câu Anh ngữ cũng như Việt ngữ đều là [S+V+O]***:

[ (S) She + (V) likes + (O) him] [(S) Nàng  + (V) thích + (O) hắn]
           
***So với thứ tự xuất hiện trong câu tiếng Nhật là [S+O+V]

Thí dụ cho trường hợp (b) là các động từ tiếng Việt không phải “chia” (conjugated) phiền toái như tiếng Anh trong các “thời” (tenses), các “thể” (moods). Một cách khái quát, nếu cần thì ba “từ chức năng” (function words) ĐANG, ĐÃ, SẼ (đặt trước động từ) có thể dùng để đánh dấu các thời hiện tại, quá khứ, tương lai. Vì vậy, một thời như future perfect progressive tense chẳng hạn trong câu “By this time next week we will have been learning Vietnamese for three months” rất khó cắt nghĩa cho học trò Việt, vì nó cầu kỳ quá. Quả thực, kinh nghiệm dạy tiếng Anh 10 năm của tôi tại Đại học Saigon cho tôi thấy rõ lãnh vực sử dụng động từ tiếng Anh trong quá nhiều các thời, các thể là một thử thách lớn lao gây ra nhiều lỗi văn phạm nhất cho sinh viên của tôi.

Nếu như chỉ căn cứ vào hai trường hợp nêu trên, ta có quyền khoe“Trời yên biển lặng chẳng bằng ngữ pháp Việt Nam” một cách an toàn!

Nhưng “khả năng phân biệt chính xác” tiên quyết nêu trên sẽ là một thử thách khủng khiếp khi mà nét đặc trưng của một thông số giữa ngữ pháp Việt và ngữ pháp Anh khác nhau một trời một vực. Đây chính là lúc người nước ngoài nói tiếng Anh đang cố gắng hết sức bình sinh để chinh phục một thông số ngữ pháp tiếng Việt nào đó quá kỳ lạ nhưng chưa biết bao giờ mới thành công, như giải thích dưới đây:

Số là họ đang vật lộn với những “kỳ hoa dị thảo” trong thông số mà ngữ pháp Việt Nam dùng để áp dụng nguyên lý hoàn vũ về vai trò đại từ nhân xưng. Họ thấy cách dùng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt thực vô cùng phức tạp so với tiếng Anh của họ. 

Thật vậy, tiếng Anh chỉ có những đại từ xưng hô căn bản dưới đây, quá dễ sử dụng:

           Ngôi thứ nhất số ít: I
           Ngôi thứ nhất số nhiều: WE
           Ngôi thứ hai số ít: YOU 
           Ngôi thứ hai số nhiều: YOU****

**** Vài phương ngữ ở Mỹ cùng dùng: Y’ALL, YOU GUYS, YOUS, YOUSE!

Trong khi đó, có lẽ không một ngôn ngữ nào khác có thể so với Việt ngữ về   bản chất đa dạng, đa năng của đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít. Trong khi đa số ngôn ngữ chỉ sử dụng một dạng cho ngôi này, như JE trong Pháp ngữ, I trong Anh ngữ, ICH trong Đức ngữ, và WO (我) trong Hoa ngữ quan thoại, Việt ngữ có cả một kho tàng xưng hô cho ngôi thứ nhất số ít ngoài đại từ TÔI thông thường. 

Mỗi dạng khác nhau của đại từ TÔI nói lên được mối liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. Con cái chẳng bao giờ dám xưng TÔI với cha mẹ, cũng như học trò chẳng hề xưng TÔI với thầy và cô giáo. TAO và TỚ chỉ có thể thay thế cho TÔI  giữa các bạn bè thân nhất; đại từ TAO cũng xuất hiện đều đều  trong các cuộc chửi bới. Các đại từ xưng hô TÔI, TAO, TỚ có hình dạng số nhiều là CHÚNG TÔI, CHÚNG TAO, CHÚNG TỚ.

Tất cả các danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng như BỐ, MẸ, CHÚ, BÁC, CÔ, CẬU, ÔNG NỘI, BÀ NGOẠI ... đều có thể được dùng làm đại từ xưng hô ngôi thứ nhất. Và một nét rất đặc thù của tiếng Việt là tên người đang nói có thể được dùng làm đại từ xưng hô thay cho TÔI  như trong câu nói nũng nịu của một cô Lan xinh đẹp nào đó với người bạn trai tốt số mới được quen nàng: “LAN muốn rủ anh đi Vũng Tàu tắm biển với LAN cuối tuần này, anh chịu không? Có người mới cho LAN một bộ bikini ngộ lắm, anh ơi!” 

Cũng giống như trường hợp ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai của đại từ xưng hô trong tiếng Việt đa diện, đa năng hơn hẳn nhiều ngôn ngữ khác. Mỗi dạng của ngôi này nói lên được mối liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. MÀY/CHÚNG MÀY chỉ dùng giữa bạn bè hoặc trong các cuộc chửi lộn. Ngoài những đại từ xưng hô thông thường như ANH/CÁC ANH, EM/CÁC EM, ÔNG/CÁC ÔNG, BÀ/CÁC BÀ, CỤ/CÁC CỤ, những danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng (BÁC, CHÚ), những tước vị (BÁC SĨ, THIẾU ÚY), cũng như tên người (LAN, TUẤN) đều có thể dùng làm đại từ xưng hô ngôi hai. 

Chưa hết đâu! Chức năng tuyệt diệu “độc nhất vô nhị” của đại từ xưng hô MÌNH, cho cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai số ít, có lẽ đã từng làm không ít người nước ngoài giật mình và thú vị.  Nó vừa ỡm ờ vừa tình tứ hết cỡ, như trong câu hỏi: “MÌNH ơi, MÌNH có biết là MÌNH nghĩ đến MÌNH cả ngày hôm nay không, hả MÌNH?” và câu trả lời: “MÌNH có biết MÌNH  nghĩ đến MÌNH chứ, vì MÌNH nhảy mũi hoài à! Bao giờ MÌNH lại được gặp MÌNH đây?”

Vậy thì khi người nước ngoài “tuyệt vọng” với thông số quá phức tạp về đại từ xưng hô trong tiếng Việt rồi than thở “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” ta rất nên thông cảm với lý do chính đáng của họ.

ĐÀM TRUNG PHÁP
Một ngày vui đầu năm 2017
ở Laguna Woods, California

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)