Tìm kiếm Blog này

THIÊN HƯƠNG: CHẬP CHÙNG THOÁNG NHỚ

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016


Tháng mười một, mùa đông lẽ ra phải hết từ lâu. Đường phố đã vắng hẳn những bóng hoa đào hồng rực hay màu mimosa vàng óng, vậy mà sao cái lạnh cắt da vẫn còn ùa tới và những buổi chiều rời sở trời vẫn còn tối sẫm với những cơn mưa lạnh buốt lê thê. Ngày vẫn còn rất ngắn vậy mà những buổi sáng đã bắt đầu ngẩn ngơ khi ngước nhìn những đường phố rợp những hàng cây xanh mềm bóng lá. Trong các mall đã bắt đầu ngập quần áo mùa xuân, mùa hạ. Các hàng hiệu đã thấp thoáng những cây thông và hàng hóa Giáng sinh.
Một năm đã lại sắp hết, sao ngày tháng trôi đi nhanh quá, chiếc lá này chưa kịp xanh chiếc lá khác đã nhạt nhòa. Mùa này chưa qua, mùa khác đã vội tới, nên những tuổi đời cũng giục giã tàn phai.
Mới buổi sáng tỉnh giấc, đi trong làn sương mỏng, lớp sương mù hình như chưa tan hết đã thấy sương chiều rải rác quanh đây. Những buổi chiều, sao tôi vẫn sợ những buổi chiều như thế. Lạnh, mưa và ướt át. Đường phố giờ tan sở ngập bóng người đi vội vã. Những bóng người dưới trời mưa lạnh hình như đã tan đi phần nào sinh khí, chỉ còn tiếng gót giày khua trên bờ phố và những khuôn mặt mệt mỏi sau giờ làm việc. Những bóng người đi bên cạnh tôi đã bao ngày nhưng vẫn không một lần thoáng hiện niềm vui khi nhìn thấy nhau. Những khuôn mặt lạnh lẽo như bằng sáp, đủ để cho những cơn gió sắt se lạnh lại càng thêm hiu hắt.

Tôi bước vội xuống escalator đi vào ga xe lửa. Trên những platforms buổi chiều vẫn đông người, nhưng ai nấy như đắm chìm trong một suy nghĩ nào đó, hoặc dán chặt mắt vào những trang báo hay cuốn sách đọc dở dang. Thỉnh thoảng tiếng loa phóng thanh lại vang lên báo hiệu tuyến đường xe lửa sắp tới, màu đèn sáng lòa đường hầm, môt số người vội vã bước lên, tiếng còi hú dài và những con tàu lại lăn đi. Đã bao buổi chiều như thế, đã bao buổi chiều tôi đứng nhìn đoàn nguời lên xuống, đã bao chuyến tàu chợt đến chợt đi, đã bao lần tôi cũng bị quấn hút vào đám người lạ lẫm và lạnh lẽo đó, để lên những chuyến tàu, tiếp tục chìm đầu vào trang sách hay báo, hay lặng lẽ nhìn những hàng cây, đường phố trôi lại phía sau. Cuộc đời đều đặn, nhàm chán đến rợn người. Thèm biết bao nhiêu được gặp lại một bóng người quen hay một nụ cười thân thịện.
Đường hầm lại rực sáng, tiếng loa phóng thanh lại rồn rã, một chiếc xe lửa lại trờ tới, đoàn người lại vội vã lên xe. Giữa đám đông xa lạ ấy, hình bóng hai phụ nữ Á châu bé nhỏ, thoáng đập vào mắt. Ở khu vực trung tâm thành phố này, số đàn bà Á châu đi làm thật tương đối hiếm hoi.
- Thôi Hằng về nha, mai Trúc gọi lại Hằng nha.
Giọng nói thánh thót làm tôi giật bắn người, cái tiếng Bắc trong trẻo này, cái tên Trúc dễ thương kia như đang gợi một hình ảnh nào tôi đã mất từ lâu lắm. Chiếc tàu đã đi qua, người phụ nữ còn lại đứng một mình trên sân ga, cô ta quay lại đến ngồi trên băng ghế cạnh tôi. Khuôn mặt bầu bĩnh, có lẽ đã ngoài ba mươi, nhưng thật dịu dàng và thuần khiết, đôi mắt và khóe miệng vẫn còn long lanh nụ cười, và trời ơi. Hai lúm đồng tiền xinh xinh ở một khóe môi bên phải, một lớn một nhỏ làm tim tôi thắt lại
- Phải Thủy Trúc em của anh Mai không?
Người phụ nữ nhìn tôi, ánh mắt dọ hỏi, nhưng vẫn dịu dàng:
- Thủy Trúc đây, anh là bạn anh Mai?
- Linh đây, Linh bạn anh Mai. Anh Mai giờ ở đâu?
- Anh Linh ạ? À, em nhớ rồi, hồi xưa anh học lớp với anh Mai, hay lại chơi với anh Mai phải không ạ? Anh em giờ ở Mỹ.
- Anh Mai vợ con gì chưa?
- Dạ, anh ấy lấy vợ muộn nên giờ hai đứa con còn nhỏ xíu.
Rồi Trúc cười, hai lúm đồng tiền lại sâu xuống xoáy mạnh hồn tôi đau nhói.
- Không như em, bữa nay làm bà ngoại rồi anh.
- Bà ngoại, không thể tưởng được, nhìn Trúc ai cũng nghĩ chỉ ngoài ba mươi.
- Cám ơn anh, không trẻ vậy đâu anh, tại em lấy chồng sớm quá, với lại cũng gần 50 rồi anh.
Lại một chuyến xe lửa trờ tới, đúng tuyến đường của tôi. Trúc đứng lên chào:
- Xe lửa của em tới rồi, chào anh ạ.
- Xe tôi cũng chuyến này.
Tôi và Trúc cùng lên xe. Trên xe Trúc cho tôi biết hai vợ chồng mới dọn về khu này, hai cháu gái đã có gia đình cả nên hai vợ chồng mua cái appartment nhỏ ở gần con cho tiện. Giọng nói Trúc hồn nhiên, vui vẻ. Người con gái thẹn thùng ngày nào đã thành một thiếu phụ thật duyên dáng và vẫn còn giữ được nét son trẻ ngày xưa. Trúc xuống trước tôi hai ga, nhìn dáng Trúc nhỏ nhoi đi lẫn vào dòng người, lòng tôi chùng xuống, một thoáng nhớ thật xa xôi, nhập nhòa theo một dáng người thật gần gũi, nhưng cũng xa vời vợi. Tôi chợt nhớ ra mình đã quên hỏi địa chỉ và điện thoại của cô, hình như tôi vẫn còn ở trong giấc mơ chứ không hoàn toàn hiện hữu. Tôi xuống xe lửa, đi chậm rãi về căn nhà nhỏ của mình. Trời buổi chiều vẫn xám và đang tối dần, nhưng trong tôi, ánh nắng đầu ngày hình như đã lại đi lên, đủ soi sáng cây thủy trúc trước cửa nhà lấp lánh, một màu xanh nhẹ nhàng cho những thoáng nhớ không tên nhưng chập chùng dịu vợi.

*

Tôi biết Trúc đã từ lâu lắm. Học cùng trung học với Mai, anh của Trúc. Ngày ấy còn ở Đà Lạt, cái thành phố mà bây giờ đã bao năm tôi vẫn còn nhớ cái nét dịu dàng của nó. Cái thành phố mà mỗi nét vẫn là một yếu tố trong những quyết định của cuộc đời, từ việc chọn thành phố sinh sống, đến mua căn nhà ở, hình như tôi vẫn cố tìm lại những khung cảnh ngày xưa, nơi có những hàng thông hay những sườn đồi xanh thoai thoải.

Ngày xưa, thỉnh thoảng lại chơi với Mai, Trúc hay ra mở cửa. Cô bé xinh xắn với hai con mắt tròn to lấp lánh, khe khẽ mỉm cười làm hai chiếc lúm đồng tiền trên má phải lúm sâu, khẽ chào và quay đi để chúng tôi nói chuyện với nhau. Hoặc cô xuống bếp, hoặc lặng lẽ ngồi học ở chiếc bàn trong cùng phòng. Mái tóc đen thường xõa dài trên đôi vai nhỏ. Cô và Mai hoàn toàn không hay biết là dáng dấp và hình ảnh của cô đã theo tôi suốt bao nhiêu ngày tháng. Có một lần tôi đến nhà và cùng Mai đi học. Hôm ấy cô cũng có giờ học nên Mai chở cô đến trường. Nhìn cô nhẹ nhàng trong chiếc áo dài trắng, và chiếc áo len xanh. Mái tóc buộc túm lên lộ khuôn mặt bầu bĩnh, với nước da trắng hồng của con gái Đà Lạt, tôi ngẩn ngơ nhìn. Trong lúc Mai loay hoay đẩy xe ra cổng, cô cúi xuống khóa cửa, tôi tự dưng như không bước đi được, tôi lặng đứng nhìn cô. Cô vẫn cúi đầu vặn khóa nhưng có lẽ cô biết, nên tôi thấy từ má cô những tia máu đỏ rất nhỏ từ từ xuất hiện làm đôi má cô càng thêm hồng. Cô vẫn cúi mặt dù cửa đã khoá xong, chưa bao giờ tôi đứng gần cô đến thế, mùi thơm nhè nhẹ từ người cô làm tôi ngây ngất. Tôi muốn bước đi, nhưng chân cứ chôn chặt ở đấy. Mai đã nổ máy xe, vẫn nhẹ nhàng cô quay người, khẽ nhẹ mỉm cười, trên má lại lúm sâu hai lúm đồng tiền xinh xắn. Cô thoăn thoắt bước ra ngồi sau Mai. Tôi chạy xe chầm chậm phía sau, người bồng bềnh, lặng nhìn chiếc xe đằng trước của hai anh em Mai. Trời Đà Lạt hôm ấy rất xanh và rất trong. Xe qua hồ Xuân Hương, hai tà áo dài của cô bay nhẹ trong gió, cái gió dịu dàng của một ngày xuân đẹp. Dáng cô nghiêng nghiêng, tôi ước gì có một lần được chở cô như thế, để cô cũng nghiêng đầu, người cô cũng dựa nhẹ vào lưng tôi như thế. Những sợi tóc của cô theo gió mơn man trên gáy, trên vai tôi, và mùi thơm của cô theo cơn gió phảng phất mãi bên người. Mai đưa cô đến trường, cô cười với anh và quay lại khẽ gật đầu chào tôi. Cả ngày hôm ấy tôi ngơ ngẩn.
Từ đó, trong giấc ngủ, dáng cô vẫn hiện về, với nụ cười nhẹ nhàng và hai lúm đồng tiền sâu bên má phải. Từ đó, tôi vẫn bắt gặp mình hay chạy xe dọc theo đường hồ, vòng qua tia phun nước, lên dốc Bồ Đề, chạy để nhớ cái dáng nghiêng nghiêng, với chiếc áo len xanh, tà áo dài trắng. Đã bao nhiêu năm, cái màu trời xanh, màu hồ xanh, những hàng thông rì rào, những rặng quỳ vàng ối đã đi theo trí nhớ của tôi qua bao chặng đường.
Thủy Trúc, người con gái ngày xưa đã trở về, nhưng rồi tôi lại vẫn mất em, vì có bao giờ tôi nắm giữ được em, hở em yêu dấu. Tôi chỉ có thể trồng những cây thủy trúc dọc theo những lối đi, để chiều chiều trở về, lòng dịu lại sau những giờ làm việc mệt mỏi, để nhớ đến em cũng như nhớ đến khung trời Đà Lạt ngày xưa, đã ươm mơ cho những giấc mơ của tôi. 
Hái nụ hoa xanh lòng ngại ngần muốn hỏi
Mơn nhẹ đóa hồng muốn khẽ nói yêu ai
Chỉ sợ ngữ ngôn xóa mất nét trong ngần
Để đôi mắt đó không còn thơ ngây như trước

Em đừng xõa tóc trong những chiều nhạt nắng
Đừng khẽ thở dài cho nắng bỗng ngừng trôi
Đừng để mắt môi nói lên tiếng đợi chờ
Và đừng để tim tôi mềm trong gió

Tôi gửi đến em một chút tình trong vắt
Một nụ cười hồng mang chút nét trẻ thơ
Một chút dễ thương của ánh nắng dịu dàng
Để giây phút này vẫn luôn còn sống mãi. 


Ngày ấy, vì yêu Thủy Trúc, tôi đã thành thi sĩ từ lúc nào không biết, tối tối tôi viết những vần thơ cho cô, viết mà không bao giờ dám gửi. Gặp cô ở nhà Mai, cũng không dám nói chuyện gì, chỉ biết tôi siêng lại nhà học chung với Mai hơn. Hai anh em cô học rất giỏi, Mai lại rất tốt, kiên nhẫn giảng cho tôi những bài toán khó. Nhiều lúc lại nhà, cô có bạn đến học cùng, nghe tiếng cô thánh thót nói chuyện với bạn, tôi như ngây ra chẳng suy nghĩ được gì, Mai cứ phải giảng đi giảng lại. Có lần, Mai bắt gặp trong vở tôi bài thơ tôi viết trong lúc nghĩ đến cô, Mai cười: Cái thằng này bữa nay bắt đầu mê gái rồi hở, mày mê ai nói cho tao hay được không. Tôi chỉ biết đỏ mặt chống chế. Mai cầm bài thơ của tôi, đọc to: 
Anh theo em dọc theo con dốc nhỏ
Hoa quỳ vàng rực rỡ áo trắng em bay
Thành phố mù sương lãng đãng chút mây hồng
Tình anh đó theo tấm áo học trò bay bỡ ngỡ

Anh viết những vần thơ vào chiếc lá làm quen
Song không dám trao sợ tia mắt ai cười
Hay hờ hững làm hồn anh nát mất

Anh vẫn theo em trong những sáng nắng mùa xuân
Tình nhút nhát nên không thành lời âu yếm
Chỉ biết nhìn theo dáng nhỏ ngọt ngào
Tóc đen mướt xõa dài trên áo trắng

Rồi những sáng mùa thu anh vội vàng đến lớp
Lỡ bỏ quên chiếc lá ở sân trường
Gió mơn man nhẹ thổi chiếc lá vàng
Rơi trên tóc em như nụ hôn anh thầm gửi đến 
Mai cười khanh khách: Thằng này làm thơ cũng được đấy chứ. Lý ra mày phải đi ban C chứ sao theo ban B?
Tôi chỉ muốn độn thổ, không dám nhìn Trúc ở chiếc bàn học trong góc phòng. Mai lại nghiêm trang nói: Lo học đi, năm nay mà rớt là đi lính đó, đừng thơ thẩn nữa.
Ngày hôm đó Mai kiểm soát chỉ bài cho tôi rất kỹ nhưng tôi hấp thụ rất ít, cả tâm trí để cả vào Trúc, tôi muốn biết thái độ của cô khi nghe bài thơ ấy. Nhưng tôi không dám nhìn về phía cô, lúc Mai ra khỏi phòng, tôi quay lại thì ra cô đã vắng mặt từ lúc nào.
Sau đó vài tháng, cả gia đình Mai về Sài Gòn, ba Mai chuyển công tác về đó. Tôi cũng mất liên lạc với gia đình Mai luôn. Tôi ở lại Đà Lạt, xong tú tài lên đại học. Những buổi chiều nhớ Trúc, tôi vẫn chạy xe chầm chậm lên dốc nhà Mai, qua bờ hồ, qua dốc Bồ Đề, nhìn những bụi quỳ vàng óng, nhìn bầu trời xanh thẳm mà nghe lòng dâng một nỗi nhớ mông mênh.
Có những ngày mưa, trời chiều Đà lạt sương mù lướt thướt, trong màn mưa nhìn cặp Lê Uyên Phương dìu nhau dưới chiếc dù đen. Lê Uyên lúc đó đẹp lắm, dáng thanh mảnh trong chiếc áo khoác màu kem nhạt, khoác tay chồng đi chầm chậm dưới mưa dọc theo bờ hồ. Hai người đi trong mưa, nhưng hình như không biết đến những cơn mưa ướt và gió lạnh. Tôi ước gì một lần, được dìu Trúc đi trong cơn mưa như thế, Trúc cũng sẽ níu lấy cánh tay tôi, hai đứa đi giữa mưa lạnh nhưng trong lòng vẫn đầy ấm áp. 
ước gì trời đổ mưa rào
cho chung đôi bước, che chung cây dù
trên trời dù có mây mù
nhưng bên nhau vẫn ngất người đê mê
cho dù đời có ê chề
bên nhau vẫn thấy ấm lòng ngất ngây
cho em má đỏ hây hây
mắt long lanh sáng,thì thầm yêu anh 

Nhiều hôm vào quán café của Lê Uyên và Phương, nghe hai người hát, nhìn ánh mắt họ nhìn nhau, những lời ca trữ tình như tình thêm theo làn mắt đắm đuối của họ. Những lời hát mang chút âm hưởng đau thương nên lúc đó có tin đồn Phương sắp chết vì ung thư gì đó. Thấy cuộc tình của họ, lòng tôi gợn lên nỗi xót xa. Ước gì có một người yêu mình như thế, chết cũng không uổng một đời. Yêu nhau thế, nhưng sau qua Mỹ, nghe nói cuộc tình giữa hai người cũng tan vỡ. Nhưng trên những đường phố Đà Lạt, vẫn còn in những dấu chân của hai người, của một thời yêu thương say đắm.
Thời thế đổi thay, tôi cũng bước chân qua Úc, làm lại cuộc đời lúc tuổi đã gần ba mươi. Tôi đã bao lần bước đi trong nắng, nghĩ đến Trúc; tôi đã bao lần bước đi trong mưa, nghĩ đến Trúc. Đã bao đêm nhìn trăng lên, nghe sương xuống, nhớ đến vùng trời Đà Lạt của một thời ngây thơ tuổi nhỏ, nhớ đến mối tình đầu đời trắng trong thuần khiết như lụa trắng tinh nguyên.
Đã có lần về Đà Lạt, nhìn lại thành phố đã thay hình biến dạng, chỉ còn con đường bờ hồ là ít thay đổi. Dốc Bồ Đề, Võ Tánh, con đường trước trường đại học và Bùi Thị Xuân đã hoàn toàn khác hẳn. Những cửa hàng hiệu xô bồ tràn lan trên đường phố. Những con người Đà Lạt ngày xưa đã biến đi đâu mất. Tôi vòng lên ngõ nhà Trúc, mong được nhìn lại khung cửa ngày xưa đã một lần tôi đứng cạnh cô để nhìn cô nghiêng người khóa cửa. Nhưng căn nhà ấy đã không còn nữa. Nguyên con đường đã đầy các nhà nghỉ và những tiệm bán buôn. 
Đà Lạt ơi, một lần về, một lần mất mát
Một lần về còn ôm mãi niềm đau
Những xót xa hiu quạnh đến không ngờ
Vì chốn cũ nhưng không còn xưa cũ

Đà Lạt ơi, ngày trở về tôi khóc
Tôi tìm hoài những phố nhỏ ngày xưa
Những rặng cây loáng thoáng bóng quỳ vàng
Hàng dâm bụt ngả nghiêng chiều lộng gió

Đà Lạt ơi, còn mong chi mà nhớ
Phố phường chừ không bóng dáng ai quen
Căn nhà xưa cũng đổi dáng đổi hìnhTôi đứng đó nhưng dường như mất hút

Vậy mà hôm nay, tình cờ tôi lại gặp Thủy Trúc. Thời gian hình như không mang lại nhiều dấu ấn trên em, người con gái dịu dàng với tâm hồn trong trẻo ngày xưa. Cái giọng nói Bắc lai lai thánh thót của ĐàLạt ngày xưa đã hơi trầm xuống nhưng lại nồng nàn và ngọt dịu hơn ngày xưa. Yêu em đã bao năm, mới được môt dịp ngồi gần em đến như thế, mới được một lần nói chuyện với em như thế, được một lần đối mặt để nhìn thấy hai con mắt của em vẫn sáng long lanh, một màu long lanh huyền ảo, vẫn to tròn tinh anh, và đôi má vẫn còn hồng mịn với hai lúm đồng tiền trên má phải. Thủy Trúc, tôi đã gặp lại em để rồi lại để em bước đi, vì trong đời tôi có bao giờ tôi đã nắm giữ được em. Em chỉ là một tình yêu dịu ngọt, của mối tình đầu học sinh tưởng thoảng qua nhưng đã thành bất diệt. Em là cả một khung trời thơ ngây trong trắng, để tôi vẫn có thể sống với niềm tin là cuộc đời vẫn còn những gì đẹp đẽ.
Cám ơn Thủy Trúc, cám ơn buổi chiều hôm nay. Một buổi chiều đã xóa đi những nỗi lo sợ của tôi trong những ngày tháng qua. Tôi sẽ không còn phải lo sợ phải nghe một tin bất hạnh nào đó về em hay Mai, như những bất hạnh đã đến với một số bạn hữu của tôi ngày xưa. Tôi sẽ không còn phải lo sợ gặp lại em, nhưng hình dáng đẹp đẽ của em đã bị bào mòn vì thời gian, như nỗi lo sợ bàng hoàng và đau đớn của tôi khi trở về Đà Lạt nhìn thấy thành phố mất đi vẻ đẹp hoang sơ ngày nào. Thủy Trúc của tôi, cám ơn em đã trở về một lần, để tôi tin là một tâm hồn thánh thiện vẫn luôn mang một vẻ đẹp không bao giờ thay đổi dù thời gian, cuộc đời có tàn khốc thế nào đi nữa. Nhớ lại khuôn mặt rạng rỡ và ánh mắt yêu thương của em khi nhắc đến chồng con và các cháu, tôi thật mừng cho em, và cũng mừng cho những người thương yêu của em đã có được em trong đời. Nhưng lòng tôi cũng không khỏi se sắt bồi hồi khi nghĩ đến mình sẽ luôn không có em, trong quãng đời này.
Nhưng dù sao, ít nhất, tôi đã có hình ảnh của em để mang theo trong suốt cuộc đời của tôi, có một khoảng trời xanh Đà Lạt đã nuôi tôi khôn lớn và trở về trong những giấc ngủ cho ngày tháng bớt nỗi buồn tênh. Thủy Trúc, một lần nữa cám ơn em đã trở về, có thể tôi sẽ còn cơ hội gặp lại em vào những buổi chiều tan sở, trên những sân ga, để lại được có dịp ngồi nói chuyện với em, như hai người bạn cũ gặp lại nhau, để lại được ngắm nụ cười thuần hậu. Nhưng cũng có thể, em lại một lần nữa bước ra khỏi hẳn đời tôi, để chỉ trở về trong những giấc mơ, và như thế, thì thật là buồn lắm. 
Có phải em chỉ là mơ
Nên khi tôi ngủ tôi nhìn thấy em
Bâng khuâng lấy sợi chỉ hồng
Thả vào trong gió để mà buộc em
Gió bay sợi chỉ mất rồiBơ vơ tôi đứng, ngỡ ngàng nhớ em.

Tháng Mười Một 2003





Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)