Ngự Thuyết: Nhân Đọc Biệt Ly của Nguyễn Du Tản Mạn Về Thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2016

Truyện Kiều,viết theo thể lục bát, là một kiệt tác. Đó là điều không ai chối cãi. Nhưng nói thế không có nghĩa rằng mọi câu thơ trong thi phẩm ấy đều hay hơn tất cả các câu thơ trong những tác phẩm khác. NhưChinh Phụ Ngâm, viết theo thể song thất lục bát, chẳng hạn.

Nhưng trước hết xin có vài ý kiến về hai thể thơ lục bát và song thất lục bát.

Thể lục bát gò bó về âm, vần, điệu, nhất là luật bằng trắc theo quy tắc “nhất tam, ngũ bất luận, nhì tứ lục phân minh”.

Bằng trắc:

Câu lục:  bằng bằng trắc trắc bằng bằng
Câu bát: bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc bằng

Những chữ in đậm phải theo đúng quy tắc, những chữ in nghiêng có thể bằng hoặc trắc. Như vậy, âm bằng chiếm đa số.

Vần:
Chữ cuối của câu 6 vần với chữ thứ 6 của câu 8; tiếp theo, chữ cuối câu 8 vần với chữ thứ 6 của câu 6.

Xin lấy 4 câu đầu tiên trong Truyện Kiều làm ví dụ:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Do đó những chữ dùng để gieo vần, hiệp vần, vần giữa câu (yêu vận) và vần cuối câu (cước vận) đều thuộc âm bằng. Cho nên tất cả các chữ cuối mỗi câu đều phải thuộc âm bằng, và chữ thứ  6 của câu 8 cũng phải âm bằng.

Chữ thứ 2 của mỗi câu cũng phải thuộc vần bằng với ngoại lệ: Khi 6 chữ của câu 6 được chia làm 2 phần bằng nhau, hoặc đối nhau (tiểu đối), chữ thứ 2 có thể bằng hoặc trắc.

Ví dụ:

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
...
Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Sự nhàm chán về âm điệu dễ xẩy ra nếu bài thơ không đủ ngắn, hoặc không quá dài. Tuy nhiên thể lục bát phát xuất từ ca dao, từ văn chương bình dân, truyền khẩu, cho nên rất quen thuộc đối với những người tạo ra nó (tác giả) cũng như người hưởng ngoạn (người nghe, người đọc) từ thời xa xưa (cách đây đến 2000 năm nếu câu ca dao Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng được tương truyền rằng đã xuất hiện vào thời Hai Bà Trưng), cho đến bây giờ.

Nhưng thế nào là vừa đủ ngắn? Một bài thơ lục bát ngắn nhất có thể chỉ có hai câu. Bài thơ không  nhan đề của Bàng Bá Lân mà nhiều người nghĩ là ca dao là một ví dụ:

                Hỡi cô tát nước bên đàng
                Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Trong ca dao có rất nhiều bài hay chỉ có vỏn vẹn hai câu. Chẳng hạn:

                Qua sông nên phải lụy đò
                Tối trời nên phải lụy o bán bán dầu

                Con mèo con chó có lông
                Cây tre có mắt nồi đồng có quai

Xin mở ngoặc về hai câu trên. Có lần trong một buổi bình thơ, Xuân Diệu chê hai câu thơ đó là nôm na, vụng về, nhất là không nói lên được điều gì mới mẻ. Thật ra viết được hai câu như trên không phải là chuyện dễ. Nó hóm hỉnh, ngộ nghĩnh. Nó nói lên sự thân thương, gần gũi của con người đối với cuộc sống quanh mình từ con mèo con chó đến cây tre, nồi đồng. Nó diễn tả được một điều rất thường tình, rất hiển nhiên, mà ta muốn “cãi chày cãi cối” cũng không thể bác bỏ nổi. Tóm lại, đó là một bài thơ hay.

Ca dao với 4 câu, 6 câu hay nhiều câu hơn cũng không hiếm:
               
                Anh đi anh nhớ quê nhà
                Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
                Nhớ ai dãi nắng dầm sương
                Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

                Em là con gái đồng trinh
                Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè
                Ông Nghè sai lính ra ve
                Trăm lạy ông Nghè tôi đã có con
                Có con thì mặc có con
                Thắc lưng cho dòn mà lấy chồng quan
(câu 4 hiệp vần biến thể)

Nói chung, ca dao thường làm theo thể lục bát, hoặc lục bát biến thể, và không quá dài. Và thơ cũ hay Thơ Mới cũng thế. Chẳng hạn những bài thơ lục bát có tiếng như Thề Non Nước[1] của Tản Đà (22 câu), Ngậm Ngùi[2] của Huy Cận (12 câu), Lẳng Lơ[3] của Nguyễn Bính (8 câu), Nguyện Cầu[4]của Vũ Hoàng Chương (18 câu), vân vân, đều có độ dài từ 2 câu đến vài mươi câu. Thanh Tâm Tuyền nổi tiếng về thơ Tự Do cũng có lúc đặt bước vào dòng thơ lục bát bằng một bài thơ rất hay chỉ có 6 câu. Xin đăng nguyên bài:

thơ tình trong tù
                Vẫn em của thuở trăng nào
                Đêm hôm nở đóa chiêm bao xanh ngần
                Vẫn em tình của trăm năm
                Đoan trang khóe hạnh thâm trầm dáng thơ
                Vẫn em mối kết thiên thu
                Vẫn em xoa dịu sầu tư cõi này

Thử tưởng tượng một tác phẩm viết theo thể lục bát dài năm bảy trăm câu với những ràng buộc về vần điệu, nhất là về luật bằng trắc như đã nêu trên, chắc chắn tác phẩm đó khó tránh khỏi sự đều đặn, nhàm chán, buồn tẻ. Thế mà có người đã để lại một trường thiên lục bát dài đến 3254 câu, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Sức lôi cuốn của nó mạnh mẽ và bền b từ đầu tới cuối khiến người đọc phải ngạc nhiên đến bàng hoàng. Phải là một thiên tài mới làm được việc ấy. Khỏi nói, ai cũng biết đó là Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều.

Nguyễn Du (1765-1820) là người phù thuỷ của ngôn ngữ, là bậc thầy trong việc vận dụng thi pháp, mỹ từ, tu từ. Truyện Kiều là một toàn thể nhất quán, cân đối về cấu trúc, nội dung, ngôn từ. Thế mà ta vẫn có thể trích dẫn từ đấy nhiều đoạn ngắn đứng độc lập mang những đề mục khác nhau, chẳng hạn mô tả thiên nhiên, độc thoại, đối thoại, tự sự, cảm xúc, trí tuệ, biệt ly, vân vân. Mỗi đoạn ngắn và độc lập ấy trở thành một  bài thơ toàn bích.

Ta thử lấy đề tài “BiệtLy”.

Từ Đông sang Tây, từ Cổ đến Kim, cảnh biệt ly vẫn là nguồn cảm hứng cho thi nhân viết nên những bài thơ bất hủ.

Lý Bạch (701- 762) viết Biệt Hữu Nhân. Đó là biệt ly giữa hai người bạn diễn ra trong một thiên nhiên hùng tráng cùng với thành quách, núi sông. Vái chào nhau lần cuối, người đi sẽ phiêu bạt như cánh bồng, như mây nổi, kẻ ở nghe tiếng ngựa vẳng lại buồn tênh. Bài thơ được Tản Đà dịch rất tài tình theo thể lục bát:

Tiễn Bạn
Chạy dài cõi Bắc non xanh
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau
Nước non này chỗ đưa nhau
Một xa muôn dặm biết đâu cánh bồng
Chia phôi khác cả mối lòng
Người như mây nổi kẻ trông bóng tà
Vái nhau thôi đã rời xa
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn tênh
(Biệt Hữu Nhân

Thanh sơn hoành Bắc quách
Bạch thuỷ nhiễu Đông thành
Thử địa nhất vi biệt
Cô bồng vạn lý chinh
Phù vân du tử ý
Lạc nhật cố nhân tình
Huy thủ tự tư khứ
Tiêu diêu ban mã minh)

Nhà thơ thời lãng mạn người Anh, George Gordon Byron (1788 - 1824), sống gần như đồng thời với Nguyễn Du, thì chia tay trong im lặng, trong nước mắt. Hôn nhau tiễn biệt mà nụ hôn của người yêu nhau còn lạnh hơn cả khuôn mặt tái xanh, như điềm báo trước cho những năm tháng đau khổ vì xa nhau. When We Two Parted của Byron, khác hẳn Thơ Đường của Lý Bạch, không có thiên nhiên bao la,  nhưng lại có nhiều xúc động gần gũi giữa người với người:

(When We Two Parted
When we two parted
In silence and tears
Half broken - hearted
To sever for years
Pale grew thy cheek and cold
Colder thy kiss
Truly that hour foretold
Sorrow to this …)

Cũng có thể ghi thêm Biệt Ly Êm Ái của Xuân Diệu, một nhà thơ Việt Nam rất mới của Thời Tiền Chiến. Ảnh hưởng của văn học lãng mạn Pháp hiện lên rất rõ trong thơ Xuân Diệu (Sương bám hồn, gió cắn, tay trong tay đầu dựa sát bên đầu, đôi trái tim đau), nhưng đồng thời những nét Đông Phương vẫn còn rải rác (vây phủ bởi trăng thâu, sương, gió, đầy khói hương xưa tràn ân ái cũ...}:

Biệt Ly Êm Ái
Chúng tôi ngồi vây phủ bởi trăng thâu
Sương bám hồn gió cắn mặt buồn rầu
Giờ biệt ly cứ đến gần từng phút
Chúng tôi thấy đã xa nhau một chút
Người lặng im và tôi nói bâng quơ
Chúng tôi ngồi ở giữa một bài thơ
Một bài thơ mênh mông như vũ trụ
Đầy khói hương xua tràn ân ái cũ
Chúng tôi ngồi vây phủ bởi trăng thâu
Tay trong tay đầu dựa sát bên đầu
Tình yêu bảo:Thôi các ngươi đừng khóc
Các ngươi sẽ đoàn viên trong mộng ngọc
Cứ nhìn nhau rồi lạt vẫn nhìn nhau
Hạnh phúc ngừng giữa đôi trái tim đau.

Và đây, Biệt ly của Nguyễn Du trích từ Truyện Kiều. Nó chỉ vỏn vẹn 8 câu. Nó cấu thành một bài thơ ngắn tuyệt tác. Và nó mang những đặc trưng khác hẳn mấy bài thơ biệt ly nói trên.
Không là hai người bạn vái chào nhau khi chia tay trong Biệt Hữu Nhân mà tác giả là một trong hai người, không là người yêu nói với người yêu trong When We Two Parted, hay trong Biệt Ly Êm Ái trong đó tác giả cũng đóng một vai. Trái lại, đây là cảnh biệt ly của hai nhân vật lạ, hai tha nhân, diễn ra trước cái nhìn kín đáo của thi nhân. Không có tiếng động, không có âm thanh, không tiếng vó ngựa phi, không cả những lời đối đáp, thủ thỉ của “đôi trái tim đau”, và cũng không có những giọt nước mắt. Tất cả hoang liêu. Tác giả đang đứng giấu mặt ở một góc nào đấy lặng lẽ quan sát, rồi ghi lại một cách ngắn gọn nhữngcảnh tượng đang dàn trải ra trước mắt bằng cảm xúc, và bằng những dòng thơ cao sang, lung linh, uyển chuyển, nhịp nhàng, huyền diệu.

Nếu xem 8 câu của Biệt Ly là một màn (act) trong một vở kịch lớn, nó sẽ gồm có 4 cảnh (scenes), mỗi cảnh chỉ chiếm 2 câu.

Cảnh 1: Sắp xa nhau.

Hai người bịn rịn chia tay. Chàng đã lên ngựa nàng mới buông áo chàng. Trời đất bỗng thảng thốt, mùa thu bỗng vì ai mà tô lên rừng phong màu sắc của biệt ly, của cách trở, của núi non và cửa ải. Thật ra câu thứ nhì trong Cảnh 1 ý tứ mông lung, có thể được hiểu rừng phong vào mùa thu đã nhuộm màu chia cách, và cũng có thể hiểu mùa thu trong rừng phong nhuốm màu ly biệt. Theo nghĩa  nào, ta cũng thấy có mối tương tác giữa người và cảnh vật.
               
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Cảnh 2: Xa nhau.

Đám bụi quay cuồng cuốn theo chiếc yên của người kỵ mã phóng nhanh. Mà cũng có thể hiểu đám bụi hồng đó, tức là cuộc đời đầy gió bụi đó, đã mang người và ngựa đi biệt tích. Nghĩa thứ hai nói lên thân phận của con người yếu đuối bị cuốn hút trong trần gian. Đúng thế, chàng và nàng đâu muốn xa nhau. Chẳng qua vì lâm vào cái thế “chẳng đặng đừng” (muốn phấn đấu cho một tương lai vững chắc, tốt đẹp nhưng cuối cùng gặp nhau mà không thể nhìn thẳng vào mặt nhau được nữa, như được diễn tả trong phần sau của tập thơ).
               
Dặm  hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Cảnh 3: Thân phận của kẻ ở, người đi.
Nàng trở về chiếc bóng, chàng ra đi một mình. Nàng bị vây phủ bởi bóng tối năm canh, chàng xông pha ngoài trời đất muôn dặm. Mỗi người một số phận khác nhau, đối chọi nhau khốc liệt.

Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Cảnh 4: Cảm nghĩ của tác giả.

Phải chăng một đi là vĩnh biệt. Trăng mà còn bị chia làm đôi, huống là con người. Trăng phải để một nửa chiếu vào phòng the, nửa kia soi lên trên con đường bất tận.

Hình tượng mặt trăng, trăng thề, được Nguyễn Du hơn một lần nhắc nhở, Vầng trăng vằng vặc giữa trời/Đinh ninh hai miệng một lời song song hoặc Còn duyên may lại còn người/Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa. Vâng, những vầng trăng ấy làm chứng lời thề của Kim và Kiều, hai người cuối cùng tái hợp. Nhưng lần biệt ly này giữa Thúc Sinh và Kiều, vầng trăng này hoàn toàn khác. Thoạt tiên ta tưởng nó đóng vai trung gian, sẵn sàng san sẻ niềm an ủi cho kẻ ở người đi. Nhưng không phải thế. Chính mặt trăng cũng bị chia cắt như nói trên, mặt trăng cũng cũng biệt ly. Vầng trăng bị chia làm hai đó càng làm tăng thêm nỗi cô đơn của nàng, nỗi hoang mang của chàng.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
                Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

Cuộc chia ly diễn ra trong lặng im, với rất nhiều hình ảnh, màu sắc, và chuyển động.

Trước hết trong đoạn thơ trên, không có một chữ nào nói đến âm thanh.

Hình ảnh thì rất nhiều, người, ngựa, cát bụi, con đường dài, ngàn dâu, rừng núi, vầng trăng, mọi thứ dồn dập từ đầu đến cuối không còn chỗ dành cho tiếng than, tiếng khóc.

Màu sắc là rừng phong mùa thu bày ra trước mắt nhiều cung bậc của màu vàng, màu đỏ, mà ta vẫn chứng kiến trên núi rừng Đông Bắc nước Mỹ, Canada lúc thu về;và ngàn dâu thì xanh, con đường dài thì mịt mù bụi hồng.

Và chuyển động. Chuyển động nhẹ nhàng, dùng dằng lúc ban đầu, bỗng chốc bụi cuốn quay cuồng chàng biệt tăm. Có thể kể thêm chuyển động ca vầng trăng in lên gối, soi trên đường.

Đấy là cảnh biệt ly của Nguyễn Du. Mà biệt ly thì phải buồn như ta vẫn mong đợi. Bỗng nhớ câu kết của một bài học thời thơ ấu xa xưa có nhan đề là Kẻ ở người đi trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị (nay là lớp 2) ra đời cách đây gần một thế kỷ: “Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!

Không, biệt ly của Nguyễn Du mang một dáng vẻ khác. Nó rất ngắn, rất linh động và cảm động. Và rất đẹp. Nhưng không buồn. Đúng ra, không kịp buồn, cảnh cũng như người. Chỉ càng về sau càng cô liêu.

Một đặc điểm nữa trong 8 câu thơ trên là phép đối. Cái mô - típ toàn bài là chia ly, cho nên thủ pháp đối ngẫu được tác giả sử dụng tối đa. Đối nhau để đương đầu, tranh chấp, hay để sum vầy, thì hai đối tượng phải gần nhau, nhưng để tách rời như trong bài này thì trái lại hai đối tượng càng lúc càng xa nhau. Càng đối nhau càng làm tăng thêm tính cách “gùn ghè, gay cấn”, xin mượn lời của thi sĩ Bùi Giáng, của sự chia cắt.

Biệt ly được mở ra bằng câu 6 đầu tiên gồm 2 vế đối nhau:

Người lên ngựa đối với kẻ chia bào

và được khép lại bằng câu 8 cuối cùng cũng gồm 2 vế đối nhau:

Nửa in gối chiếc đối với nửa soi dặm trường

Trong hai câu 5 và 6, “người về” đối với “kẻ đi”, “chiếc bóng” đối với “một mình”. Hai câu 5 và 6 không đối nhau từng chữ, từng vế, nhưng đối ý.
Xin đăng trọn 8 câu:

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường

Truyện Kiều được dịch ra nhiều ngoại ngữ. Riêng tiếng Pháp, có trên 10 bản dịch khác nhau. Nhưng thơ không thể dịch ra ngoại ngữ mà không đánh mất cái hồn của nó, cái thi vị của nó, dù được dịch ra cũng bằng thơ hay văn xuôi tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v... Dưới đây, xin trích dẫn đoạn dịch 8 câu nói trên ra văn xuôi tiếng Pháp của Xuân Phúc và Xuân Việt trong cuốn Kim Vân Kiêu do nhà Xuất Bản Gallimard nổi tiếng của Pháp in năm 1961 (Nguyen Du, Kim Van Kieu, CONNAISSANCE DE L’ORIENT, collection UNESCO d’oeuvres representatives). Bài dịch gẫy gọn, sáng sủa nhưng không thể nào chuyên chở được tình ý, hồn thơ, và ngôn ngữ thơ của nguyên tác:
               
Il monte en selle; elle lâche le pan de sa tunique. L’automne a teint des couleurs de l’adieu la forêt d’érables. Un tourbillon de poussière rose emporte la selle du cavalier. Bientôt, on le perd de vue derrière l’épaisseur des vertes mu^raies. Elle rentre, ombre solitaire, le long des cinq veilles nocturnes. Seul au loin, il parcourt les dix mille stades. Le disque de la lune, qui l’a partagé en deux? Une moitié s’imprimesur l’oreiller soliraire, l’autre moitié éclaire la route interminable.

(Tạm dịch: Chàng lên yên ngựa; nàng buông tay khỏi chéo áo của chàng. Mùa thu đã tô màu biệt ly lên rừng phong. Một đám bụi hồng quay cuồng mang theo chiếc yên ngựa của người kỵ sỹ. Chẳng mấy chốc, ta không thấy chàng đâu nữa sau ngàn dâu xanh. Nàng về, chiếc bóng cô đơn suốt năm canh dài. Một mình xa xôi, chàng vượt qua vạn dặm. Vầng trăng, ai đã chia nó ra làm hai? Một nửa in lên gối chiếc, nửa kia soi sáng con đường dài bất tận.)

(Còn tiếp)

[1]Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nặm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước nước mà quên non
Dù  như sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề

2 Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện dăng mau
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây
Lòng anh mở với quạy này
Trăm con chim mộng về bay đầu giường
Ngủ đi em mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ
Hồn em đã chím mấy mùa thương đau
Tay anh em hãy tựa đầu
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi

3 Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu  em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết  chúng mình ... với nhau
Ai làm cả gió đắt cau
Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non

4 Ta còn để lại gì không?

Kìa non đã lở, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc, bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ, dù sạch đừng vương gót này
Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất, hơi tàn thanh âm.






Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)