Ngự Thuyết: Đà Lạt (Kỳ cuối)

Thứ Bảy, ngày 12 tháng 11 năm 2016


Tôi nghĩ đến câu nói "Mới đầu ở ngoài sân, sau lần vô bếp". Câu nói này thường có ý xấu mô tả cái tính lì lợm, sàm sỡ, dành sân lấn đất, "được đằng chân lân đằng đầu" của những kẻ lòng tham không đáy.  Câu đó có thể áp dụng vào trường hợp của tôi.
Có dịp là tôi đến nhà anh Quang trên đường Hai Bà Trưng rủ anh đánh vũ cầu tại cái sân xi măng rất rộng trước nhà, hay đánh bóng bàn trong một căn phòng kế phòng khách. Tôi không thích vũ cầu, bóng bàn thì cũng “đại khái”, và hình như anh ấy không ưa hai trò chơi này. Chẳng qua để dãn gân cốt một chút rồi tôi theo anh vào phòng khách kiên nhẫn ngồi nghe anh say sưa nói đến những dự án mở nông trại vùng Tùng Nghĩa, Fim-Nôm, xây nhà, xây đập, đào giếng, nuôi bò, dựng chùa. Anh vẽ đẹp và có khiếu về kiến trúc, trang hoàng. Tôi nhớ hồi còn bé tôi có theo bố đến ngôi nhà này mấy lần, hai gia đình quen biết nhau lâu, và hình như lúc đó Liên, em gái của Quang, chưa ra đời.

Hôm đó, một ngày mùa đông quá lạnh, phòng khách rộng lớn trông rộng thêm ra. Tôi ngong ngóng nhìn qua cửa kính trong khi Quang mải miết trình bày một dự định mới. Tôi lơ đãng nhìn đồng hồ treo tường. Tôi biết nếu tôi cứ thỉnh thoảng nhìn đồng hồ đeo tay sẽ bị hiểu rằng tôi không muốn ngồi lại lâu hơn nữa. Đã hơn năm giờ chiều, học trò đi học đã về, trời mùa đông chóng tối. Học trò đi học đã về rồi mà, ý nghĩ đó luẩn quẩn mãi trong đầu. Tôi lẩn thẩn nhớ câu mắng yêu của mẹ hồi tôi còn bé:  "Học trò đi học đã về/ Cơm canh chưa chín lại trề môi ra." Không khéo... Bỗng bóng của Liên lướt nhanh qua cửa sổ, tay ôm cặp, chiếc quần lụa trắng uyển chuyển, chiếc áo dài màu tím nhạt khép nép, chiếc áo len đen xẻ giữa chỉ cài nút cổ, chiếc khăn quàng màu hồng quấn hờ bên bờ vai, và khuôn mặt xinh đẹp hơi cúi nhìn xuống đất có lẽ vì biết có tôi trong phòng đang nhìn theo. Tất cả những hình ảnh đó hiện lên nhanh. Chỉ một thoáng thôi, Liên đã bước nhanh vào nhà bếp. Cánh cửa khép kín!
Quang tiếp tục câu chuyện:
“Anh N. đồng ý không nào, ngôi nhà sẽ nhìn dòng suối chảy ngang trước mặt. Cái gò ngo này đứng án ngữ đằng sau, đây, đây là gò ngo, anh thấy chưa. Đúng phép phong thủy. Ngo là thông đó. Bên trái là con đường nhỏ chạy ra đường cái, bên phải sẽ đào một cái giếng... này này anh có nghe tôi nói không đó? Anh nói sao?  Đúng vậy cái giếng nước. Đã có suối vẫn phải đào giếng, anh biết tại sao không?”
Tôi trả lời như cái máy:
“Vâng, tôi biết chứ. Mà tại sao hả anh?”
“Hả?  Là vì... anh biết tại sao không?  Nhưng anh có nghe tôi nói gì không đó?”
“...”
Quang chắc lưỡi:
“Thôi, để tôi nói cho nghe. Vào mùa khô con suối nhỏ này có khi cạn nước, hoặc là vào mùa lá rụng nhiều, khô, thối, nước suối bị ô nhiễm...”
Tôi lơ đãng góp ý:
“Đồng ý với anh, nước suối tinh khiết.”
“Ủa, anh nói gì vậy?”
Nói xong Quang quay nhìn tôi. Bỗng anh cười khà một tiếng rồi gọi to:
“Liên! Liên làm gì dưới đó?  Có anh N. đến chơi. Hôm nay lạnh quá, pha chút trà uống cho ấm bụng nghe Liên.”
Anh vui vẻ nói tiếp với tôi:
“Lại có cả bắp non nữa. Nướng lên thoa mỡ hành ăn được lắm. Vừa ăn bắp nướng, vừa rỉ rả nói chuyện, vui hơn. Hôm qua đi La Ba về tôi mua được một bao bắp non mới hái ngoài vườn.”
“La Ba?”
“Anh chưa biết La Ba hả?  Hôm nào mình xuống đó chơi. La Ba cách đây khoảng bốn chục cây số, đi về hướng phi trường Liên Khàng, rồi quẹo phải độ vài chục cây số. Ngoài bắp ra, chuối La Ba ngon tuyệt. Sau vườn mình cũng có giống chuối La Ba, nhưng đất ở đây không hợp cho lắm, nên chuối không ngon bằng. Trên đường về mình sẽ quẹo qua ngả Ba Lọn cho anh biết thêm chỗ mới. Anh biết không, Đà Lạt không có mít, vậy mà cứ xuống đèo Ba Lọn là tha hồ ăn mít chín cây. Nhưng không có mít vào mùa này đâu. Liên! Liên! Xong bình trà, em lấy bắp đem nướng nghe. Nướng xong đem lên đây ngay, trời lạnh mau nguội. Bắp nướng phải ăn lúc đang nóng hôi hổi mới ngọt, mới mềm, mới ngon. Để nguội trời đây lạnh nó cứng lại như đá.”
Lòng tôi như mở hội. Tôi hỏi một câu gọi là:
“Nhưng sao lại La Ba? Tiếng Thượng hả anh? Cũng như hai chữ Đà Lạt gốc từ tiếng bộ lạc.”
“Có lẽ không phải. Có lẽ đó là tiếng Pháp. Có lẽ khi lần đầu tiên sắp đến vùng này, tụi Tây chỉ chỏ cái thung lũng xanh tươi đằng kia kìa, dưới kia kìa, là-bas. Người mình xài luôn chữ đó như địa danh. Như cái tên Nha Trang nghe thật êm tai vậy. Anh biết không, Tây ngày xưa nó gọi vùng có nhiều nhà trắng đó là nha trang, mình nghe xuôi tai nên chịu luôn.
Tôi không quan tâm đến giải thích của anh ta, buột miệng:
“Hay là... Hay là thế này anh Quang. Mình xuống nhà bếp phụ cô Liên một tay...cùng nhau nướng bắp cho mau.”
Quang cười xòa.
Tôi đã để ý đến Liên ngay từ khi mới gặp lần đầu, rồi bồn chồn mong gặp lại, rồi thương nhớ, và cuối cùng tình yêu của tôi và Liên được xác nhận một cách thật đơn giản trong cái nhà bếp thân mật có bếp lửa ấm cúng nổ lách tách, bằng những trái bắp nướng thoa mỡ hành thơm ngào ngạt, bằng những ly nước trà nóng hổi và mấy câu mời nhỏ nhẹ, bẽn lẽn, ngoài kia trời sắp tối, đêm mùa đông đến sớm và lạnh hơn mấy hôm trước, có tiếng gió vèo trên những ngọn cây, bằng cái nhìn kín đáo dò xét của Quang, bằng những câu trả lời thỏ thẻ, ngập ngừng của Liên, và bằng nỗi sung sướng dâng lên trong lòng tôi. 
Từ đó chúng tôi có dịp đi nhiều nơi. Đi qua những phố đông. Những quán ăn bình dân, những nhà hàng sang trọng; các món chè quanh rạp hát Ngọc Hiệp; gánh phở Ngọc Lan ở cuối bến xe đò với rất nhiều hành củ ngâm dấm, tủy, gân gối, và cả tiếng gào thét của ông chủ luôn miệng la mắng thằng con chết dịch bưng phở chậm như rùa; những món Huế thơm tho, đậm đà, cay xé lưỡi sau góc chợ; ly sữa đậu nành bốc khói cạnh những xe mì thánh mì sợi gần trường tiểu học ngày xưa; gói đậu phụng rang ấm tay thơm dòn đầu đường Duy Tân khi đèn đường vừa bật sáng, khi buổi tối êm đềm lại về. Và ly cà phê đen nóng, điếu thuốc lá Bastos xanh, nhà thủy tạ, chập chờn đôi mắt của Liên xao động như lớp sóng lăn tăn trên mặt hồ qua làn khói thuốc. Rồi... rồi mình đi hồ Than Thở nghe anh, nghe thông reo, qua hồ Chi Lăng nữa, chỉ cách đó mấy ngọn đồi nhỏ, xem có còn tám ngôi nhà kỳ cục nhô ra ngoài mặt nước hay không, công chúa Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn, đó anh. Những ngôi nhà xinh đẹp ấy đổ nát dần không được ai săn sóc uổng quá. Còn nơi nào nữa không em? Còn nhiều chứ, chẳng hạn trời nắng tốt đi sâu vào làng Thượng, con đường độc đạo, cây to gốc đầy rêu đứng sát nhau làm thành hàng rào hai bên, nghe thác Cam Ly đổ ào ào sau lưng. Thác Cam Ly hả em?  Anh biết thác Cam Ly từ hồi anh còn bé tí. To lớn, khủng khiếp! Không phải, không phải đâu anh. Hồi nhỏ anh tưởng là to chứ thật ra nó nhỏ lắm.  Nó nhỏ nhất, được cái nó ở gần thành phố. Hôm nào mình đi Pongour nằm sâu trong rừng, nước chảy lớn, hoang vu, hùng vĩ lắm đó anh. Hoặc trèo lên nguồn thứ sáu, thứ bảy của Đa-tân-la, trước kia gọi là Dantania, đẹp lắm đó anh. Và còn còn nữa, anh em mình sẽ đi thăm hết, nghe anh. Vâng anh nghe, anh nghe không sót một lời, nghe như mật rót vào tai "đó em". 
Em biết nhiều quá, còn anh thì mù tịt. Nhưng anh cũng cứ đưa em đi nhiều nơi nhé, đi đâu, đi trên những con đường nhỏ phủ đầy lá thông khô, những đồi cỏ xanh in rõ màu sắc của những chiếc áo len màu đỏ, màu vàng của Liên, những cánh rừng hoang chưa có đường mòn, cỏ gai vướng chân, cành cây chắn lối làm rối bù hai mái tóc, làm sây sát da thịt; đi trong sương mù của những buổi sáng sớm thành phố còn thiêm thiếp ngủ, vắng teo, lặng câm, và lạnh cóng để có cảm giác rằng Đà Lạt là của riêng của hai đứa, để thấy bụi sương đọng nhiều trên hai hàng lông mi dài, để nghe hơi ấm của hai bàn tay và tiếng đập nhẹ của hai trái tim, tiếng chân bước chầm chậm, nho nhỏ, mơ hồ như tiếng vang vọng ở một góc nào ngoài dĩ vãng.
Hoặc là gặp hôm trời mưa chẳng đi đâu cả, ngồi bên nhau, nhìn nước mưa chảy giọt ngắn giọt dài trên kính cửa sổ lầu hai, nhìn bong bóng nước dưới kia nổi lên rồi vỡ, ngắm giàn su cạnh nhà bếp cành lá xanh tươi phơi phới, nụ non nhú ra thật nhiều trông như hàng trăm đầu ngón tay đang trỏ, và ngắm cây ngọc lan cổ thụ trước ngỏ chuẩn bị đâm hoa thơm ngát cho cả một vùng. Rồi cùng chờ mưa tạnh, chờ xem mấy con chim từ đâu bay đến đậu trên những ngọn cây vả, cây mimosa rồi sà xuống nhảy nhót trong khóm hồng chìa cành sát vào kính cửa sổ. Mấy con chim vô tình tung tăng ngoài kia cửa kính chỉ cách khuôn mặt êm ả của em vài gang tay.   
“Lần sau anh lên vào dịp Nô-en nghe. Rồi ở lại đến Tết tây. Đẹp lắm. Và lên vào dịp Tết ta nữa, nghe anh!”          
“Vâng, Nô-en hoặc Tết  ta.”
“Không phải. Nô-en và Tết  ta . Cả hai.”
“Đâu được. Thì giờ của anh đâu có nhiều thế.”
“Ngày lễ mà. Bộ anh bận việc cả vào những ngày lễ sao? Ráng lên đi anh. Tết tây rồi Tết ta, mỗi cái Tết có cái hay riêng của nó.”
“Không.”
“Năm này lên cả hai, năm sau một cũng được.”
“Không, nhất định không.”
“Em giận anh rồi đó.”
“Thì lên.”
Đà Lạt tháng 12 nắng trong veo, trời xanh ngắt và lạnh. Lạnh hơn tất cả những ngày tháng khác trong năm. Buổi sáng buổi chiều đầy sương mù trên những đường đi ven các ngọn đồi mé sau trung tâm thành phố dẫn đến khu Đại Học mà chúng tôi thường tay trong tay đi bên nhau. Đường đi mau hết, lại quay ngược về phía hồ. Sương mù nhiều hôm che kín mặt hồ một lớp dày như mây, phủ luôn những trái đồi bao quanh, lan xuống cầu Ông Đạo, tràn qua khu ấp Ánh Sáng, kéo lên vùng khách sạn Palace. Đến chín mười giờ sương tan, nắng lên nhuộm hồng ngàn vạn cánh hoa anh đào bên những con đường từ khu Hòa Bình chạy xuống khu chợ, rồi từ đó chạy lên nhà Bưu Điện, rồi rẽ phải chạy lên vùng Biệt Điện của nhà vua, hoặc rẽ trái xuôi về khu Chi Lăng, vùng hồ Than Thở, ấp Thái Phiên, trường Võ Bị... Anh đào rung rung trong gió, rải rác trên những vùng rộng lớn, hoặc xúm xít nhau thành từng cụm, trên các đường đi, trên sườn đồi, dưới thung lũng, trong những khu vườn rộng ở giữa là những ngôi biệt thự tráng lệ. Ban đêm trời buốt giá. Càng gần lễ Giáng Sinh trời càng lạnh. Đêm Nô-en đường phố đông nghẹt con chiên cũng như người ngoại đạo trong những chiếc aó choàng ấm lũ lượt đi đến những ngôi nhà thờ đèn sao rực rỡ, ngập tràn ánh sáng.
Rồi Tết ta đến. Tết ở Đà Lạt cảnh vật có khác, khí hậu có khác, nhưng mang rất nhiều hình ảnh của Tết ở Huế. Đêm ba mươi phố xá vắng teo, nhà nhà cửa đóng ỉm im, bên trong đèn sáng trưng, trên bàn thờ trầm hương nghi ngút, hoa quả, thức ăn, đồ cúng sắp đầy. Tại góc sân sau, nằm trên lò lửa dựng bằng ba viên gạch lớn và chụm bằng những thanh củi thông to còn nguyên cả vỏ cây sù sì kêu lách tách, là nồi bánh chưng, bánh tét "sắp chín tới nơi", bao vây bởi mấy em bé ngồi quanh nôn nao chờ vớt mấy cái bánh lẻ nhỏ xíu, mấy cái bánh ú, để được ăn trước mọi người. Đến nửa đêm pháo giao thừa vang rền khắp nơi, khói pháo không bay được lên cao, quyện vào đám sương mù đang phủ đầy mặt đất. Lễ vật cúng giao thừa được bày ra trước sân rước mùa xuân vào. Sáng mồng một Tết, trời lạnh, xác pháo phủ đầy trước mỗi nhà, rải rác khắp mọi nẻo đường, trên đó đã có những cô bé, cậu bé nóng ruột chạy ra khỏi nhà khoe áo quần mới. Phố đông dần, những con đường dẫn đến các vùng mộ, các ngôi chùa, tấp nập người đi. Sinh họat càng lúc càng bừng dậy, đây tiếng trống múa lân giục giã, kia pháo nổ chát chúa, dưới thung lũng lễ hội mùa xuân, trên phố cao những sòng bài công cọng... 
                                                                        * 
Miền Nam sụp đổ. Cũng như đại đa số thanh niên thời đó, tôi vào tù. Sau mấy năm ở trong rừng, tôi được trả lại một phần tự do dành cho loại công dân ở mức thang thấp nhất trong một xã hội rất hạnh phúc, rất tự do, “rất độc lập”, “rất dân chủ”, và rất bình đẳng”, trong đó, nói như một nhà văn người Anh, có một số người bình đẳng hơn một số người khác. Dù sao, dù còn thêm hai năm bị quản chế không được đi xa nơi cư trú, tôi cũng có thể đi ra khỏi thành phố Sài Gòn. Đi chui.
Trước tiên tôi thử đi xuống Vũng Tàu tương đối gần. Nếu trót lọt, tôi sẽ đi Đà Lạt. Vũng Tàu bớt phần nhộn nhịp. Nhưng cũng những cây dù to bảng nhiều màu đứng thành hàng dài trên bãi cát, cũng ruột bánh xe hơi bơm sẵn làm phao cho thuê chất thành từng chồng cao, cũng những gánh hàng ăn vây quanh du khách ngồi trên những chiếc ghế vải bố, những gánh cua, ghẹ, nghêu, sò, hột vịt lộn, đậu phụng nấu, đậu hủ, đu đủ, mãn cầu. Cũng mùi ai ải, mùi gió mặn, mùi tôm cá. Cũng biển xanh, cát trắng, nắng vàng. Tôi đứng lặng nhìn. Cuộc đời cứ thế bình thản trôi đi mãi hay sao sau bao nhiêu cơn biến động vừa qua?  Và biết đâu, nay mai Vũng Tàu còn náo nhiệt hơn. Tôi lần từng bước xuống làn nước ấm. Vài đợt sóng lớn đánh mạnh vào tôi, tôi để mặc cho nước biển bắn vào miệng nuốt ực mặn chát. Vài ba cặp thanh niên thiếu nữ đùa giỡn cười nói la hét vang lừng trên bãi cát gần đó. Tôi bỡ ngỡ. Bỗng dưng tôi thấy mất hết cả mọi cái háo hức mà tôi mang theo từ lúc khởi hành, quay lên bãi cát, tìm chỗ có bóng mát nằm dài chờ thật lâu chuyến xe đưa trở lại Sài Gòn.
Tôi nghĩ đến chuyến đi Đà Lạt sắp tới. Tôi tự hỏi lòng liệu cái thành phố muôn vàn nhớ thương ấy, thành phố của thời thơ ấu, của tuổi hoa niên, của tình yêu, của thơ mộng, sẽ có một diện mạo nào, một cung cách gì? Tự hỏi để làm cái gì vậy, phải chăng để tự dối lòng, vì trong sâu xa tôi thừa biết chuyến trở về thành phố miền núi lần này sẽ mang đến cho tôi không ít buồn khổ.   
Đà Lạt, Huế, Sài Gòn, Lục Tỉnh ... đâu phải của riêng tôi, nhưng ngày xưa tôi có cái cảm giác đó, cái cảm giác mình là một thành phần của quê hương đất nước, một ông chủ nhỏ bé bên cạnh hàng triệu người chủ khác, dù tôi chưa tậu nổi một cái nhà riêng để ở.  Còn bây giờ, khác. Mọi chuyện đều nghịch lý, đảo lộn, đổ vỡ.                                                                         
Tôi có việc đi đến quận Fresno, California, cách nơi tôi ở hơn bốn giờ lái xe. Vùng này có nhiều người tỵ nạn Đông Nam Á, đông nhất là người Lào, người Miên và một số người Việt Nam. Tôi có dịp thăm một nông trại do người Miên làm chủ. Nông trại được cơ giới hóa, có máy bơm nước, máy điện, máy kéo, máy cày. Ngoài những cây ăn trái như cam, táo, nho, hồng dòn, hồng mềm v.v..., còn có rất nhiều loại rau quả rất quen thuộc với tôi như mướp ngọt, mướp đắng, bầu, bí, ớt, sả, dưa leo, cà tím. Một số người tỵ nạn gốc Nga đến đó mua thật nhiều cà tím chất đầy xe. Có lẽ đấy là “món ăn quê hương” của họ. Mọi thứ đều xanh tươi, ngon mắt, nhìn mãi không thấy chán. Bỗng tôi cảm thấy có thiếu món gì đây. Khoai lang? Không phải. Sắn, cải ngồng chăng? Hay mướp đắng? Cũng không phải. Tôi nhớ ra rồi, thiếu những giàn su su, khi còn non những trái xanh nhu nhú như những ngón tay chỉ trỏ, những trái lớn hơn có gai ở cuối trái, gọt vỏ để nguyên trái hầm với đuôi bò và rau cần, đậu xanh, khoai tây, cà rốt, hành củ và một số rau mùi khác, rồi rắc kha khá hạt tiêu vào, ăn trong những buổi tối bên ngoài trời lạnh mưa lâu. Mà ăn ở đâu nhỉ?  Tôi  lại nhớ ra. Đà Lạt! Đà Lạt muôn vàn nhớ thương! Tôi mua những rau quả ấy mỗi thứ một ít, cho vào đầy một hộp giấy to, chất vào xe rồi trả tiền, nhưng ông chủ người Miên nhất định biếu không, nói tiếng Anh bập bẹ: "Anh và tôi kể như người đồng hương. Cao Miên, Lào và Việt Nam là ba nước láng giềng mà." Tôi chỉ còn biết cám ơn.
Tôi cầm tay lái trước, bạn tôi ngồi bên cạnh tha hồ ngắm cánh đồng bằng phẳng và rộng mênh mông kéo dài từ Fresno đến thung lũng Bakersfield. Qua khỏi ngọn đèo rất dài để vào quận Los Angeles tôi buồn ngủ quá chừng. Nếu tôi cố lái tiếp không khéo gây tai nạn. Tôi ngừng xe lại nép sát lề đường trao tay lái cho bạn tôi. Khi xe ngừng hẳn, cơn buồn ngủ cũng giảm bớt đi nhiều. Tôi nhìn bâng quơ xuống triền núi, rồi nhìn xa ra một chút xuống thung lũng dưới kia. Kìa, ô kìa, một thị trấn nhỏ phơi mình dưới bầu trời bao la nhìn lại tôi, những mái ngói đỏ ửng lên, những chòm thông xanh quấn quýt nhau, ríu rít nhau trong nắng, "Nắng hớn hở nắng trong veo như mắt..."  Tôi xúc động mạnh.
Bạn tôi bảo tôi đổi chỗ ngồi để bạn tôi lái. Chiếc xe lại rời lề đường nhập vào xa lộ tăng dần tốc độ. Tôi điều chỉnh ghế ngồi, ngả mình. Bạn tôi nói, ừ, vậy đó, ngủ một giấc cho khỏe người. Tôi lim dim mắt nhìn lên bầu trời cao trước mặt, chờ giấc ngủ tới.  Nhưng tôi không ngủ được.  Bỗng dưng Đà Lạt hiện lên.  Mé này là Đồi Cù, là mặt hồ gương, là nhà thờ Con Gà; mé kia là con đường sương mù Liên và tôi đi qua nhiều lần, một bên đồi thông xanh biếc, bên kia là triền đất đổ xuống thung lũng trồng nhiều loại rau cải, là khu Đại Học, là chùa Linh Sơn; mé nọ là Cây Số Bốn, Cây Số Sáu, là ngôi nhà tranh mái thấp hơn mặt đường, có con dế lửa gáy vang lừng tuổi thơ trong một buổi sáng lặng câm trời mưa lâm râm, và con đường dài những ngày tản cư con Ba Tô chạy theo chiếc xe ngựa lóc cóc mà lại còn ham đuổi chim đuổi thỏ; rồi chệch qua một chút là đường Hai Bà Trưng hai bên nhiều thông, có mấy khúc cong, có một đoạn dốc đổ xuống đường Hoàng Diệu, và có ngôi nhà thân yêu trong đó cái phòng khách đôi khi trông trống trải, lành lạnh, nhưng cái nhà bếp và bếp lửa thì êm đềm, ấm áp vô cùng. Tôi lại buồn ngủ. Giá tôi được ngủ ngồi trên chiếc ghế dựa đặt cạnh bếp lửa ấy lơ mơ nghe tiếng than nổ lách tách, tiếng gió rít từng hồi ngoài kia. Chiếc xe chạy nhanh thêm trên xa lộ êm, thẳng và rộng mang cho tôi cái cảm giác bềnh bồng, và kia kìa, tôi lại thấy rõ chứ không phải tôi đang mơ, đúng lại là cái thành phố đó nữa rồi, phía trên cao, trên không trung, trên trời, Đà Lạt chờn vờn bay bay cùng với phố phường, suối ngàn, hồ thác, rừng thông, đồi non, và sương mù.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)