Hoàng Quân: Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 11 năm 2016


Ngày xưa, những ngày tháng của thế kỷ 20, giữa thập niên 70. Có tỉnh lỵ nơi cái eo của đất nước hình cong chữ S. Chốn ấy, trên quốc lộ 1 từ Trung vào Nam, giữa núi Thiên Ấn và núi Thiên Bút, có khu vườn là quán cà phê - Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên. Những thanh niên, thiếu nữ, những húi cua, kịp tóc, những chàng, nàng đã từng là “cư dân” của quán cà phê vườn thuở ấy, nay đang lẫm đẫm bước vào ngưỡng “lục thập nhi nhĩ thuận”. Nhắc lại ngày xưa, kể gì tuổi tác, ai mà chẳng đôi lúc chạnh lòng như mới lớn.
 
Thị Xã Quảng Ngãi bé tí. Cho nên, có người mượn câu hát, rằng, nơi đây, đi dăm phút đã về lại ... Café Uyên. Trên đường Quang Trung, nếu đi từ cầu Trà Khúc về hướng sông Vệ, Café Uyên nằm phía bên trái. Trước khi thấy tiệm Café, người ta sẽ đi ngang qua nhà hàng Thế Giới Tửu Gia. Sau đó, có con hẻm đi vào khách sạn Bình Lai. Tiếp theo, tiệm tạp hóa nhỏ Phát Hưng, tiệm vải lớn Phạm Ngọc Anh. Tiệm tạp hóa lớn Mỹ Đông An nằm trên bực thềm cao. Bên cạnh dãy tiệm như khu vực thương mại, là vườn Café Uyên. Bên trái Café Uyên là Trụ Sở Baha'i Tôn Giáo Hoàn Cầu, tiệm tạp hóa Trung Tín, tiệm vẽ bảng hiệu Hồ Điệp, tiệm xe đạp Kim Anh, tiệm bánh mì Chí Thành, tạp hóa Long An, tiệm đồ sắt Kim Long Hưng đến ngã tư đường Ngô Quyền. Phía trước Café Uyên chỉ thấy giàn bông giấy và cánh cửa lưới. Nhìn xuyên qua cửa lưới thấy khu vườn với nhiều cây cảnh. 

Thuở Ban Đầu          
Mùa hè đỏ lửa 1972, Mạ dẫn các con: Thúy, Hiền, Thạch, Duẩn, Uyên, Duật (Kanh, Kem) vào Sài Gòn. Chiến cuộc dịu bớt, Mạ dẫn bầy con trở về lại Quảng Ngãi. Nhà sách Kim Mai có chiều hướng đi xuống, do thiệt hại nặng sau trận lụt năm trước. Ngoài ra, số lượng đáng kể của các tiệm sách trong thị xã nhỏ bé Quảng Ngãi bắt đầu vượt trội nhà sách Kim Mai. Gia đình chú Thanh mở tiệm bán xe đạp, nên cũng lơ là với tiệm sách. Mạ bắt đầu nghĩ đến phương cách kinh doanh khác. Mạ cân nhắc, muốn mở tiệm cà phê ở vườn nhà.
Trước khi mở quán Café, Mạ nói chuyện với Ba về dự định này. Ba có ý phản đối, vì ngại quán cà phê có thể ảnh hưởng đến việc học của các con. Ngoài ra, quan niệm “sĩ nông công thương” của Ba thuở đó vẫn còn đậm rõ. Mạ thực tế hơn, rất linh động và nhiều sáng tạo trong mưu sinh, để lo cho bầy con 10 đứa. Anh Hải, con trai trưởng, đi du học ở Tây Đức. Chị Tâm vào đại học Văn Khoa ở Sài Gòn. Còn lại, đứa đang trung học, đứa tiểu học. Hai đứa trai út Kanh Kem, gần 3 tuổi, sắp vào mẫu giáo. Mạ bàn với chị Tâm về việc mở quán cà phê. Chị Tâm tán đồng ngay trong tinh thần văn nghệ. Đã lâu, chị Tâm hằng ôm ấp ước mơ lập một hội quán tao đàn. Để cho các văn nhân thi sĩ có nơi ngâm nga lời thơ, tiếng văn của mình. Để cho những Bá Nha có cơ hội gặp gỡ Tử Kỳ. Tiếc thay, cơn lốc 1975 đã thổi tan tành giấc mộng văn nghệ của chị Tâm. 
Café Uyên được khai trương nhằm mùng một tết năm 1973. Đây là quán cà phê vườn đầu tiên ở Quảng Ngãi. Quán tọa lạc ở trên đường Quang Trung, là quốc lộ số một nối liền miền trung và miền nam, giữa tiệm tạp hóa Mỹ Đông An và Phòng Baha’i Tôn Giáo Hoàn Cầu. Trước nhà có hai dàn bông giấy, một leo ngoài cổng, một uốn thành vòm. Ba thường chạy xe Jeep Wrangler màu trắng xanh vào đậu trong sân. Đường vào sân vườn dốc thoai thoải, cổng hẹp. Do đó, muốn chạy xe vào sân, tay lái phải thật nhuyễn nhừ. Anh Lam, thời đó, dù nhỏ tuổi, đã thuần thục kỹ thuật điều khiển tay lái xe Jeep. Nên nhiều khi, nhân lúc Ba ngủ trưa, anh lấy xe chạy một vòng “dựt le” với mấy “em”. Hoặc buổi chiều, anh đưa xe vào sân thay Ba. Bên tay phải, sát vách Mỹ Đông An là những chậu cây kiểng của Ba. Ba đặt thợ đúc những chậu lục giác bằng xi măng thật to. Ba trồng và trao đổi với bạn bè nhiều loại cây kiểng. Trong vườn có mai tứ quí, trà mi, tử kinh, hoa quỳnh, liễu trúc, trúc đào, ngọc lan xen lẫn với cây lựu, cây mận, cây ổi, cây sung, cây trứng cá. 
Chị Tâm đã nghĩ ra chuyện dùng tựa đề một cuốn truyện của Hoàng Ngọc Tuấn để tạo ra “thương hiệu” cho quán cà phê. Mạ nhờ anh Lương bên cửa tiệm vẽ áp phích quảng cáo - tiệm vẽ Hồ Điệp, kẻ bảng hiệu cho Café Uyên. Bảng hiệu thật đơn giản, nền vàng nhạt, chữ màu đen - Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên. Bảng hiệu treo trên cao, chỗ vòm bông giấy, có lẽ không bắt mắt lắm. 
Để chuẩn bị cho việc mở quán cà phê, Mạ vào Sài Gòn cùng đi mua hàng với chị Tâm. Mạ và chị Tâm vào Chợ Lớn đặt mua bàn ghế. Ghế có sườn bằng sắt, chỗ ngồi và dựa lưng bằng nhựa, nhiều màu. Bàn có mặt mi-ca, chân bàn bằng sắt, có thể xếp gọn lại. Mạ và chị Tâm lựa những bộ tách có hoa hồng màu đen, trông rất thanh lịch. Các bình thủy ca-rô xanh, đỏ. Quán trong vườn, ly tách xem ra hơi sang, nhưng hợp với ý thích của thanh niên bấy giờ. Bởi vậy, có vài chàng uống cà phê xong, bèn “sưu tầm” một món nào đó đem về làm kỷ niệm. Sau này, khi nhà chúng tôi bị tịch thu, quán phải đóng cửa, có người hỉ hả kể lại, là đã “góp nhặt” gần đủ một bộ gồm tách, phin cà phê, bình thủy, bình trà. Cậu Kháng tặng mấy bộ bình trà, có hình con rồng, vòi bình là miệng rồng. Loại bình trà này rất được chuộng. Nên chẳng bao lâu sau khi trình làng, những con rồng sứ đã bị tuyệt chủng. 
Trước ngày khai trương vài hôm, Mạ và mấy đứa con nhắn nhủ bạn bè, người quen đến ủng hộ. Đúng sáu giờ chiều mồng một, Café Uyên chính thức mở hàng. Bảy giờ, rồi tám giờ, quán mới thưa thớt vài khuôn mặt của người “nhà”. Mấy Mạ con lặng lẽ nhìn nhau, thầm lo, ngó bộ sẽ ăn chè... ế, thế cơm. Tám giờ rưỡi, tiếng nhạc nhè nhẹ dặt dìu, quán vẫn còn yên ắng. Lâu lâu có tiếng ngáp khe khẽ (vì ngồi không buồn ngủ) và tiếng vỗ tay bồm bộp, không phải để cổ võ ai mà chính là đập... muỗi. Bỗng nhiên, ngoài cổng xuất hiện vài dáng người quen quen, vài bóng người là lạ. Rồi từng tốp, từng nhóm ào vào. Tiếng kéo ghế, tiếng chào hỏi, tiếng cười, tiếng nói, lao xao. Quán trở nên rộn ràng, sinh động hẳn. Mấy Mạ con chạy lui, chạy tới tất bật. Vậy là Café Uyên có được ngày khai trương thành công. Mở màn cho một sinh hoạt mới ở ngôi nhà số 55 đường Quang Trung. Ba vẫn “án binh bất động”, cố ý nằm trên giường đọc báo và nghe radio: Đây là đài BBC Luân Đôn, phát thanh trên làn sóng.... Ít lâu sau, thấy vợ con bận rộn, Ba cảm thấy xót. Mặc dù chưa lộ ý tán đồng, nhưng đến giờ mở tiệm, Ba chạy xe Jeep đậu trong sân khách sạn Bình Lai. Dần dà, Ba cộng tác đắc lực trong lãnh vực ánh sáng và âm thanh, như trang bị đèn đóm cho quán, trông coi máy móc, loa khuếch đại âm thanh... 
Ẩm Thực Vườn Uyên      
Ban đầu, chị Tâm viết mẫu bảng thức uống. Về sau, Thúy cứ vậy mà chép nhiều bảng. Đôi khi phải viết lại bảng mới, vì có thêm món hoặc các bảng bị ướt, dơ. Bắt đầu là cà phê đen, cà phê đá, cà phê sữa, trà Lipton... rồi đến các món nước ngọt như sprite xí muội, soda chanh rum... Chè nằm ở phần hai. Ngoài các món chè thường trực như chè 3 màu, chè đậu đỏ, chè kê bánh đa, còn có những loại chè theo mùa như chè đậu ngự, chè khoai tía... Trong phần chè có thêm yaourt và kem flan
Cuối bảng thức uống Thúy cũng bắt chước chị Tâm, lả lướt hàng chữ: Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau: Café Uyên. Viết xong, Thúy dùng bao bìa nylon trong, bọc lại. Rất thường, chỗ bọc ngay chữ Quen hay bị lủng trước. Các chàng thay thế chữ Quen bằng chữ Quên, Kênh, Yêu, Kê... tùy theo tình hình giữa các văn nhân thi sĩ và mấy cô hàng cà phê. Có người lại nói rằng nếu sửa là “Ở một nơi ai cũng ráng quên nhau: Café Uyên” thì chắc sẽ có nhiều cố nhân nhớ hơn. 
Trước khi mở tiệm, chị Tâm đưa Mạ vào chợ Bến Thành để ăn thử các món chè, rồi đi mua cà phê (rang tại chỗ) trên đường Hai Bà Trưng. Lúc nào cũng mua hai loại, một mocca đậm mùi thơm, một arabica đậm vị cà phê. Về sau, chị Tâm đều đặn đến tiệm quen, mua cà phê gởi về Quảng Ngãi. Mạ có công thức pha chế cà phê rất đặc biệt. Mạ mua một ít cà phê ở Quảng Ngãi, trộn với cà phê chị Tâm mua ở Sài Gòn. Có khi, chú Sơn Râu đem quà cà phê từ Ban Mê Thuột về. Mạ tẩm vào cà phê chút nước hạt cau khô, một chút bột va ni và một chút bơ bretel. Cà phê Uyên ngon thành huyền thoại. Trà Lipton là món uống thuộc loại “sang”, giá đắt hơn cà phê. Món trà không tiêu thụ nhiều, nhưng vẫn là món bắt buộc phải có trên bảng thức uống. Mạ đặt mua loại Lipton gói, nhãn vàng. Trong tách trà có để vài miếng cam thảo, vài trái nho khô. Trên dĩa có thêm miếng chanh nhỏ. Ngoài ra, có những món uống không mấy thanh cảnh, mà đắt nhất trong bảng thức uống như sô- đa sữa hột gà. Mạ hỏi thăm đây kia và học làm yaourt và kem flan. Yaourt làm trong những hũ thủy tinh nhỏ. Mỗi lần xong, phải giữ lại một hũ để làm “cái”. Kem Flan khi hấp phải đúng lửa, kem không bị rỗ, để khi lật ngược lại, thấy lớp đường thắng nâu lợt, rồi đến lớp kem trứng gà vàng ươm thật bắt mắt. Về sau, Mạ dạy cho Thúy và Hiền cũng làm được những món này. Thời đó, đường cát trắng rất mắc. Bởi vậy, Mạ chế biến đường mía thành đường trắng với một công thức độc đáo. Ở Quảng Ngãi, đường mía được đựng trong những cái muỗng (thuỗng) bằng đất gạch nung, hình phễu. Đường phía trên màu tương đối sáng. Càng xuống dưới, màu trở nên sẫm hơn vì mật đường, đồng thời có nhiều tạp chất như xác vụn của mía. Mạ chọn những tảng đường gần khúc dưới, để giá tiền nhẹ nhàng hơn. Nhưng Mạ không dùng những miếng đường dưới cùng của muỗng, vì mùi mật mía đậm gắt. Những tảng đường nấu trong nước, để sôi lăn tăn cho tan hoàn toàn. Sau đó, Mạ lấy tròng trắng trứng gà đánh cho nổi bông, xong đổ từ từ vô nồi nước đường đang sôi. Bọt trứng sẽ “níu” mùi mật và màu mật của đường. Vớt lớp bọt trứng, nước đường ngọt thanh và có sắc trong. Đường mía sau quá trình pha chế của Mạ, trở thành ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Dùng để pha nước chanh tươi, nấu chè đậu ngự, chè kê, chè đậu xanh đánh, thơm ngon tới trời. 
Cô Thanh Sương, chị Sáo nhà Lệ Ảnh giới thiệu món chè ba màu: ở dưới là đông sương, đến một lớp chè đậu xanh đánh, trên cùng là lớp cà phê đậm. Có lần anh Lam và Thúy theo Ba ra Đà Nẵng. Mạ dặn hai anh em đi ăn thử chè thạch cúc có ngon hay không, để về lên trên bảng thức uống của Café Uyên. Ly chè thạch cúc trông hay hay, sang sang. Đông sương trắng trong nước đường cát thắng, rồi bỏ vào 2 bông cúc xòe. Nhìn, mát mắt. Nhưng ăn vào, khó có thể gọi món đó là chè được. Anh Lam lo ngại, lỡ chè không ngon, thực khách đổi chữ u của cúc thành chữ ư thì phiền. Chè đậu đỏ nấu sẵn vào buổi sáng, để nguội bỏ vào tủ lạnh. Trưa đi học về, xin Mạ cho ăn một ly. Ăn xong rồi, nghĩ là mình đã múc ly hơi lưng, nên lại khoắng vá làm thêm ly nữa. Hột đậu mềm múp, thơm bùi, ngậm mát rượi trong miệng. Phải cố gắng lấy lý trí mà ngưng, chứ không, chiều không có chè để bán. 
Mấy chục năm sau, nhắc lại Café Uyên, anh Nguyễn Thế Thành kể, “Cái quán không biết là quán café hay quán chè. Mà ăn hay uống cái quái gì, cũng thấy ngon. Hay tại mấy bé dễ thương quá nên mình đâm ra... lú. Nhớ nhất là món chè kê. Hạt kê hồi đó mua về từ mấy huyện miền núi do người dân tộc thiểu số trồng. Người Huế nấu món nầy tuyệt chiêu. Thật ra ai cũng có thể nấu được món nầy. Nhưng quan trọng nhất là cái ngọt của đường. Café Uyên làm cái đường ngọt thanh. Cái bùi của kê. Biết ăn phải ngậm thật lâu. Ngậm cho đến khi nào kê tan ra thành... nước. Kê thấm vào kẽ chân răng. Kê đánh thức con tì, con vị. Có ngu mà nuốt vội, chẳng khác nào Bát Giới xực nhân sâm. Sành điệu, ăn chè kê với bánh tráng mè, chứ không bằng cái muỗng. Thời tuổi mười bảy (bẻ gãy sừng trâu), so với chén chè tí ti, chả bõ dính răng. Cho tới bây giờ cũng không biết là tại chè ngon. Tại mình háu đói. Hay là mình ...lú. Mà lúc nào cũng quét sạch sành sanh. ... ”. 
Có lẽ chè kê đã để lại trong ký ức của anh NTT những nét rất đậm, nên anh còn nhớ tỉ mà, tỉ mỉ như vậy. Thật ra, ngày đó Mạ nấu chè bằng hột kê đem từ Huế vào. Những món chè đậu xanh, đậu đỏ, Mạ có thể nhờ người khác giúp. Nhưng chè kê, Mạ tự tay nấu. Kê phải đãi thật kỹ, nếu không sẽ bị lẫn cát, bụi. Đậu xanh nấu riêng, đánh nhuyễn. Bỏ đường lúc nào, nấu bao lâu, phải đúng. Nếu không chè kê sẽ bị vữa, mau chóng bị “mồ hôi” quanh chén. Mạ múc chè kê vào những chén nhỏ, có hoa li ti, trông rất thanh cảnh. Bánh đa đi kèm với chè là một phần tư của bánh tráng gạo mè. Đám con của Mạ rất mê vét nồi chè kê. Chờ Mạ múc chè, hai ba kỵ sĩ tay lăm le muỗng hoặc đũa bếp, sẵn sàng xông trận. Vét xong, nồi sạch bách, tưởng như khỏi cần rửa, nồi cũng sáng choang. Năm nọ, gặp anh Nguyễn Ngọc Ánh, anh kể, anh cũng “kết” món chè kê của Café Uyên. Anh Lê Tuấn nghe vậy, bảo, nhớ tới Café Uyên, mà chỉ nhớ tới chè kê thì rất rất ngây thơ, vô tội và... phí quá. Thời ấy công nghiệp thực phẩm chưa tiến bộ. Nấu chè đậu xanh là phải qua công đoạn đãi đậu. Mua đậu xanh cà (bể làm đôi) về, ngâm vài tiếng đồng hồ cho vỏ mềm, tróc khỏi hột lúc đó mới dùng rổ rá đãi đậu. Phải nhặt thật kỹ, nhất thiết không được sót một vỏ đậu nào. Đậu ngự thì phải lột vỏ từng hột. Phải khéo tay, lột xong, hột không bị tách rời ra. Món chè đậu ngự của Mạ cũng rất công phu. Nhiều khi, muốn chỉ dạy cho con cháu, Mạ hay nói: “Nấu dễ không, chơ có chi mô nà.”  Đậu phải luộc sơ cho bớt mùi hăng rồi mới hấp. Hấp như thế nào để hột đậu chín tới, nhưng không bị nát. Ngậm hột đậu ngự trong miệng, vị ngọt và thanh của hột đậu thấm đẫm nước đường trộn lẫn hương thơm khó tả của mùi đậu ngự, ôi chao, ngon không thể tả. 
Café Uyên chỉ mở từ sáu giờ chiều đến tối khuya. Khuya, dọn hàng các bàn xếp lại, ghế chồng lên nhau để một góc. Sáng sớm, Ba đi làm, các con đi học. Mạ, hơi trưa trưa mới ra tiệm sách. Thỉnh thoảng có người bấm chuông, xin uống cà phê. Gặp khách quen, Mạ thoải mái cho mở cửa cho vào “kéo ghế”. Đôi lần, khách lại hỏi món điểm tâm. Nên Mạ chào món bánh mì với “ốp-la”. Nhưng đấy chỉ là ngoại lệ, chứ không phải món thường trực. 
Địa Lý Vườn Uyên 
Ngày trước, sát dàn bông giấy, bên vách nhà Mỹ Đông An là chuồng gà. Ba nuôi gà Mỹ, hay trao đổi giống gà với bạn bè khác. Có lần, ông tỉnh trưởng Lê Bá Khiếu đến chơi, dắt theo con gái, chị Dung, ẵm con gà Mỹ thiệt to, tới biếu. Thỉnh thoảng Thúy Hiền rủ con Nguyệt, con Ba nhà Phạm Ngọc Anh vô chuồng gà làm văn nghệ. Mấy đứa múa hoạt cảnh... có người con gái buông tóc thề... rồi vuốt mái tóc thề... bum bê cụt ngủn, làm mấy con gà hết hồn không biết chuyện gì. Thế gian biến cải vũng nên đồi. Chuồng gà bị dẹp đi. Góc sân vườn đủ để mấy bàn, từ số một đến số bốn, mỗi bàn để được bốn ghế. Nếu bạn bè thích ngồi chung, có thể kèm thêm hai ghế. Bàn số bốn dưới cây ổi. Có lần, anh Đức đang uống cà phê, bị ổi rụng trúng đầu (biết đâu chẳng hên như sung rụng, mà có người phải nằm há mỏ chờ). Anh ôm đầu với mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ có dáng dấp của tổ... phượng hoàng, chạy vào bếp “kêu cứu” với Mạ. Tiếp theo đó là bực thềm cao, để bàn số năm, sáu, bảy. Cây lựu, hoa tử kinh, mai tứ quý để xen kẽ giữa các bàn này. Bàn số năm được xem như bàn “tổ ấm”, băng ghế đá (loại giống ghế đá công viên) nằm thụt sâu vào vách. Bàn này hưởng ké sự ấm cúng của tàn lá cây ổi, cũng như thoang thoảng hương ngọc lan của bàn số mười. Những đôi uyên ương nào đến sớm, thích “xí” ngay bàn này. Dưới tàn lá cây mận là bàn số sáu với xích đu màu xanh lá cây sậm. Bàn này thường do các chàng trai trẻ người (và chắc cũng non dạ) chiếm đóng. Vị trí của bàn này thuộc loại chiến lược. Xích đu nằm bên phải xeo xéo của két cà phê. Đoàn Vị Thượng (thuở ấy hẵng còn là Trần Quang Đoàn), sau mấy chục năm vẫn còn nhớ khoảnh không gian này “...Mình nhớ, từng ngồi đong đưa trên đó, thơ mộng nhâm nhi cà phê và... quan sát Thúy... ”. Một lần, có chàng trai trẻ, hình như là anh Phước hoặc anh Đức đang thả hồn bay bổng theo nhịp xích đu, bất thần vội phóng xuống... tàng hình dưới bàn. Té ra, thân mẫu đi tìm anh. Thế là, anh phải từ từ chui lên khỏi... mặt đất và líu ríu theo hiền mẫu về nhà. Giữa bàn số sáu và số bảy có cây lựu nho nhỏ, hình như chưa đậu trái bao giờ, mặc dầu thỉnh thoảng có điểm vài bông hoa đỏ trên cành. Có lẽ Café Uyên là đất lành, nên có nhiều “nông dân” nhắm nhé để canh tác vườn... si. Lần khác, thân phụ của anh Lê Tuấn đến tận vườn, “kè” nông dân về, đặng còn đi học chữ. Có lẽ vì vậy mà chàng trai xứ Quảng đã chiêm nghiệm thêm phương châm sống, “Trai khôn tìm vợ ở chốn chợ Đông… Ba. Gái khôn tìm chồng ở...  quán cà phê…” 
Bên tay trái, sát vách văn phòng Baha'i, ngoài cùng là bàn số tám. Bàn này chỉ có hai ghế. Hình như góc này anh Dương Quang Hùng mua đứt rồi. Bởi, cứ hễ chiều xuống, tới giờ mở cửa quán, y như rằng thấy bóng anh DQH lững thững bước vào. Nhà anh ở đối diện, mấy bước băng qua đường. Giờ sớm chưa có khách, tha hồ chọn lựa. Vậy mà, hiếm khi thấy anh ngồi góc khác. Anh có dáng vẻ như Chân Dung Chàng Nghệ Sĩ Trẻ trên hình bìa của cuốn sách dịch A portrait of the Artist as a Young Man của James Joyce. Ngoài anh DQH, khách chỉ ngồi bàn này, khi quán không còn chỗ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, còn nhiều bàn, nhưng khách vẫn chọn bàn số tám. Khách gọi trà Lipton, ly soda sữa hột gà và thêm gói thuốc con mèo. Thì y như là sau đó, sẽ có màn chạy làng rất ngoạn mục. Có lần, thấy khách có những dấu hiệu tiêu biểu của bàn số tám, Thúy kể với Ba, vậy là Ba đem radio ra ngồi nghe tin tức ở bàn số chín bên cạnh. Vậy mà, uống xong, khách tuôn chạy, Ba đứng dậy đành ngó theo. Khách đã khuất dạng vào đường chỗ tiệm thuốc bắc Trần Quang. Trên đường còn chơ vơ đôi guốc đàn ông của khách. 
Bàn số chín là bàn đầu tiên khi vào cổng, hai bên bàn có hai chậu kiểng lớn để tạo cho bàn một chút không khí riêng tư. Tiếp theo là bàn số 10, 11, 12, dẫn đến két, chỗ ngồi của cô hàng cà phê. Nơi đây ngày xưa có cây trứng cá xanh um. Sau, Ba quyết định đốn cây, đổ xi măng để làm chỗ đậu xe hơi. Bàn 12 đặc biệt có dùng cái ghế da hai chỗ ngồi của xe hơi. Ghế này có lẽ ngồi cũng thoải mái, cho nên dù quay lưng lại quày, tức là không “nghía” được cô hàng. Nhưng khi ngồi đồng, ghế xe hơi xem ra rất được chuộng. Các bàn này chỗ rộng, có thể để nhiều ghế, thường là gia đình anh chị em đi ăn chè, chứ không ngâm nga ngồi lâu nhâm nhi cà phê. Bên trái của bàn số 10 là bàn 11, chỉ hai chỗ, sát vách tường bên Baha'i vẫn còn hai tổ ong. Hai bàn này có cây che, “ít trăng nhiều gió", nên cũng được đắt khách. Bên cạnh két là bàn 13, bàn này thường là những khách quen, đôi khi gần như con cháu trong nhà. 
Két là cái “táp đờ nuy” nhỏ bằng gỗ. Ngày trước để cạnh giường Ba Mạ. Két thấp chủn. Trên cùng là hộc rất cạn, có tay nắm tròn, để đựng tiền. Ngăn giữa cao hơn, trống, để đựng những bảng thức uống. Dưới cùng là hộc cao hơn, có cánh cửa, đựng giấy viết, vài món lặt vặt khác.
Bên phía phải của két là tủ cao. Phía trên bằng kiếng, giống các xe sinh tố để chưng trái cây. Phía dưới bằng lưới. Trong tủ chứa các loại chai nước ngọt. 
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)