Ngự Thuyết: Ðà Lạt

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 10 năm 2016


Thương nhớ Ôn
Tôi sẽ đi, thôi Đà Lạt  nhé!Dấu chân son, mắt biếc, nhớ thương.Môi hồng héo nụ em hờn dỗiTà áo tìm tôi trong gió ngoan ...NT. 
I     
Một câu ca, một bài hát, trong một hoàn cảnh nào đó, có khi gieo vào tôi những ấn tượng rất mạnh và tạo nên những liên tưởng rất chủ quan. Thơ cũng thế. Bài Silent Night (Đêm Thánh Vô Cùng) thường được hát vào dịp lễ Giáng Sinh là một thí dụ. Mỗi khi nghe bài hát đó, tôi nghĩ ngay đến Đà Lạt, một Đà Lạt tang tóc trong đó ngôi nhà thờ Con Gà đứng co ro, lạnh lẽo, không đèn sao, không cờ đuôi nheo nửa trắng nửa vàng, không có cả những bài thánh ca "tiếng kinh muôn lời" trong đêm Giáng Sinh.                                                                                         
Có lẽ tôi phải nói rõ thêm một chút về trường hợp này. Một buổi chiều cuối năm trời lành lạnh sau cơn mưa hiếm hoi trên một cánh rừng thuộc tỉnh Tây Ninh, quần cụt, áo cánh may bằng bao cát và tóc tai ướt mem, đói, run, và mệt, ngồi gập ghềnh trên cán cuốc gác ngang qua hai vồng khoai lang vừa mới cắm hom để nghỉ giải lao mười phút, tôi bỗng nghe tiếng huýt sáo miệng bài Silent Night. Tôi sững sờ. Suốt mấy năm trời ở trong rừng, tai toàn nghe những âm thanh thịnh nộ, hoặc những điệu tuyên truyền nhạt nhẽo, rẻ tiền, nay tiếng nhạc êm ái của ngày cũ bỗng trổi lên. Điệu nhạc đang dìu dặt, bỗng một giọng nói gầm gừ, gắt gỏng gào to: "Anh kia! Lại nhạc vàng! Lại nhạc vàng hử!"

Tôi quay nhìn. Vài ba người tù của một đội khác đang được nghỉ ngơi gần đó cũng quay nhìn. Người huýt sáo miệng cao, gầy, đeo kính cận thị dày cộm. Tiếng sáo đứt ngang. Anh ta cũng đang ngồi trên một cán cuốc gác ngang, sau lưng là mấy hàng cây sắn lâu ngày hạn hán thân khúc khuỷu đầy mắt bạc trắng, lá vàng nhiều hơn lá xanh, trông giống như những lá cờ đuôi nheo tí hon. Anh giật mình đứng thẳng người lên rồi lính quýnh cúi xuống cầm cuốc định đi lảng nơi khác. Cái kính cận thị chỉ còn một gọng tuột khỏi vành tai của anh rớt xuống vũng bùn. Anh một tay giụi mắt, tay kia quơ quơ mò tìm. Bỗng anh ối lên một tiếng, bàn chân anh đã đạp lên một cái gì đó. Cặp mắt anh dại hẳn đi, mái tóc cũn cỡn lam nham không đi đôi với khuôn mặt khôi ngô, thông minh.  Anh nhìn quanh ngơ ngác, rồi  ngồi phịch xuống đất duỗi thẳng hai chân, nước bùn đỏ ối làm ướt đẫm cái quần xà-loõng, mấy sợi lông trên hai cẳng chân khẳng kheo nổi lên lờ vờ.  Anh đưa hai bàn tay sờ soạn dưới vũng nước bùn. Cuối cùng anh lôi lên được cái kính cận một gọng nay chỉ còn lại một tròng đã bị nứt rạn, tròng kia sút mất. Ngay lúc đó tiếng người quản giáo của đội tôi gọi thật to, "Khẩn trương! Khẩn trương tập họp!" Anh chàng đó và tôi đứng dậy, vác cuốc bước đi cùng với những ngươì tù khác.
Khi đã ra tù, cứ mỗi cuối mùa đông có dịp nghe lại điệu nhạc cũ ấy, lần nào cũng vậy, tôi nghĩ ngay đến anh chàng cận thị mất kính trong vườn sắn lá vàng nhiều hơn lá xanh, và không hiểu vì sao, ngôi nhà thờ Đà Lạt lại hiện rõ lên cùng một lúc, ủ rũ, ngơ ngác sau những hàng thông già.  Bài hát thì nghe chìm chìm, rầu rầu, cái nhịp mạnh trong điệu luân vũ xưa kia đệm cho những bước nhịp nhàng trên sàn khiêu vũ nay trở thành tiếng dội nhói vào tim. Bài thánh ca quen thuộc vẫn như xưa chăng, không buồn hơn, không vui hơn, Đà Lạt muôn vàn thương nhớ vẫn thơ mộng chăng? Chỉ có lòng tôi đổi khác?  Không, không phải chỉ có thế, tôi biết chắc như vậy.     
Cũng thế, ấn tượng tạo nên bởi câu thơ mạnh không kém, có thể còn mạnh hơn, trong tôi. Mấy câu thơ sau đây của Thanh Tâm Tuyền muốn nói đến miền đất nào trên quê hương, tôi không biết, nhưng mỗi khi đọc lên, tôi nhớ Đà Lạt quay quắt: 
"Nắng hớn hở nắng trong veo như mắtMỉm cười xa, phố thấp vẫy chàng." 
hoặc: 
"Cây biếc lục. Trời tím than. Núi sửng.Phố tuôn vàng huyên náo dưới triền sâu." 
Đà Lạt! Đà lạt! Tôi gọi thầm Đà Lạt không biết bao nhiêu lần để vơi bớt nỗi nhớ.  Hay để nhớ thêm!                                                     
II 
Tôi không sinh ra tại Đà Lạt, nhưng thời thơ ấu của tôi đã trải qua trên thành phố cao nguyên này. Đường sá, địa danh hồi đó hầu hết đều mang tên bằng tiếng Pháp, chẳng hạn đường Rue d'Annam, đường Maréchal Foch, đường La Rose, hồ Lac des Soupirs, trường Petit Lycée, trường Yersin, rừng Bois d'Amour, nhà thờ Saint Domaine de Marie, khách sạn Sans Soucis, rạp chiếu bóng Lang Biang v.v...Lẽ dĩ nhiên những tên vừa nói sau này tôi mới biết, còn hồi bé, trừ cái tên của ngôi trường mà tôi đã đến học được mấy năm là trường École Primaire de Dalat, những danh xưng khác bằng tiếng Pháp tôi chỉ nhớ lạng quạng. Sân Bờ-Noa (Saint Benoit) nghe nói hình như ở đâu xa tít, xa hơn cả nhà ga thì phải, khách sạn Ba-Láp (Palace) nghe nói Tây Đầm mới được tới ở, chị Thu bảo đã đi thăm Ba-Le (Palais Impérial) đẹp lộng lẫy. Nhưng những thứ đó tôi không để ý đến.  
Chú bé loắt choắt đã có những bận tâm khác. Từ thuở lên ba cho đến khi gần mười tuổi, sau này nhớ lại, hình như chú chỉ quan tâm đến những chuyện sau đây.
Trước hết là chuyện học hành. Chuyện này không thể nào bỏ qua được vì bố rất nghiêm nhặt, luôn luôn lo lắng cho nó nên người. Nó không bao giờ quên được những kỷ niệm của ngày khai trường đầu tiên trong đời. Buổi sáng hôm ấy, lá ngoài đường không rụng nhiều và trên không cũng không có những đám mây bàng bạc, nó líu ríu đi theo chân bố, mặc cái áo xuyến đen dài, quần trắng dài, đầu đội nón cối, chân mang guốc gỗ, hay giày xăng-đan, nó không nhớ rõ, tay ôm cái cặp da to tướng do người cậu họ cho cách đó mấy hôm, trong đó có một tập vở mới tinh, bìa sau có in bản cửu chương và hình cái thước đo "đúp đề-xi-mét " (double décimètre), một lọ mực tím đậy nút chặt cứng, một cây bút mực ngòi hình lá tre, quản bút bằng gỗ quá lớn đối với những ngón tay nhỏ xíu của nó, một cây bút chì đen và một cây bút chì cu-lơ (couleur)  một đầu xanh, một đầu đỏ, đã được mẹ gọt nhọn sẵn, một cục tẩy có hai phần dán dính cứng lấy nhau, phần màu đỏ để tẩy chì, phần màu xám để tẩy mực, và một tấm bảng đá màu đen một mặt kẻ ô vuông, mặt kia trơn, buộc vào góc bảng đá là chiếc giẻ lau nhỏ bằng bàn tay. Đặc biệt, ở đáy một ngăn nhỏ của chiếc cặp là hai cục kẹo có cán cầm, có giấy trong bọc lại.
Nó nhớ mãi buổi sáng sớm hôm ấy. Phố xá vắng và lạnh. Nắng đã lên. Biết nó phải đi học, những đứa bạn cùng dãy phố thò đầu ra khỏi cửa sổ nhìn theo. Lại có ba bốn đứa chịu khó dậy sớm rủ nhau đứng thành một hàng nơi có nắng dọi xuyên kẽ hở của hai ngôi nhà lầu. Chúng đứng chờ nơi đó để có nắng sưởi ấm và đồng thời để vẫy tay ghẹo nó. Nó cảm thấy tủi thân. Bọn kia là những đứa cùng lứa tuổi nó nhưng không bị bắt đi học. Nó không thể nào hiểu tại sao trời lại sinh ra trường học để nhốt tuổi thơ dại của nó lại.
Về sau nó được cô giáo cho biết ngày đi học đầu tiên đáng nhớ lắm, nhớ là vì ngày khai trường luôn luôn có nhiều kỷ niệm đẹp đẽ vô cùng ... lúc đó bầu trời mới chuyển động vào thu, lá vàng đi trong đám cây run rẩy,...cảnh vật buồn buồn một chút nhưng đẹp hơn bao giờ cả, có chú bé vừa đi vừa nhảy cà tưng như con chim sẻ... Nhưng nó lại nghĩ rằng đó là chú bé ở đâu đâu chứ không phải nó. Cái cặp to tướng ôm chưa quen tay rớt tuột xuống đường mấy lần làm bố cau mày, cái nón đội trên đầu rộng rinh và nặng như đá đeo chốc chốc sụp mũi xuống che kín mắt, hoặc xoay ngang trông kỳ cục, khiến bố phải vừa đi vừa chỉnh cho hoài, cái áo xuyến mới khua rọt rẹt khó chịu. Đó là ngày đầu tiên.
Còn những ngày kế tiếp thì sao? Những buổi sáng trời lạnh quá nếu không có cặp mắt còn lạnh hơn của bố nhìn trừng trừng nó đã nhõng nhẽo với mẹ đòi "nghỉ học một buổi thôi". Cho nên kết quả là nó đi học đều đặn. Nhưng hoặc là vì bài vở nhiều quá, tiếng Việt, tiếng Tây, và có cả một giờ chữ Hán mỗi tuần nữa; hoặc là vì nó tối dạ; hoặc là vì nó nhỏ xíu trong lớp học gồm hầu hết các anh các chị lớn sầm sầm, có người hơn nó đến chín mười tuổi; hoặc là vì tất cả những lý do nó vừa nêu lên gộp lại, kết quả là chuyện đi học của nó trở thành một hình phạt trong thời thơ ấu.
Hình như nó không học được gì mấy. Nó làm được vài phép toán cọng trừ; nó phải viết chữ cho ngay ngắn, rõ ràng, chữ nào ra chữ nấy, chữ u phải khác chữ n, số 4 không được viết giống số 6, khó quá; phải viết ám tả đừng quá mười lỗi, vẽ bản đồ rồi tô màu làm sao cho phân biệt được nước này với nước khác, đừng để màu vàng của nước mình lem qua màu nâu của Cao Mên hoặc màu xanh của biển Nam Hải; và cuối cùng là phải giữ tập vở cho thẳng thớm, tươm tất, các góc trang giấy không được cuốn lại như lỗ tai chó. Học hành sao khổ thế! Chỉ có một trường hợp ngoại lệ, nó thích cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư và cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư. Những bài học và hình vẽ trong đó luôn luôn đưa trí tưởng tượng của nó đi mông lung và và gieo vào lòng nó những tình cảm êm đềm.  
Một lần, cô Lộc gọi chú bé lên bảng:
“Trò N.! Bản đồ Âu Châu lần này coi cũng được được. Nhưng có đúng trò vẽ và tô màu lấy hay không?  Hay là trò nhờ người khác?”
Nó trả lời lí nhí những gì mà chính nó cũng không hiểu.
“Trò phải nói thiệt. Nói láo cô cho zéro. Trò nhờ ai vẽ?”
Nó càng lúng túng, sợ hãi, nước mắt muốn chảy. Thấy tội nghiệp, chị Phụng, người học trò lớn tuổi, nói giúp:
“Dạ thưa cô, trò N. không nhờ ai vẽ giùm cả. Trò Lan vẽ xong chê xấu liệng vô sọt rác, trò N. lượm đem đi nộp cô, thưa cô.”
Một lần khác, cô bắt viết vài dòng tả cây lúa. Nó nộp giấy trắng bị zéro, bị cô la rầy. Cô hỏi tại sao trò làm biếng không chịu "tập làm văn", nhưng nó có bao giờ thấy cây lúa đâu! Một lần khác nữa, nó chép bài từ bảng đen vào tập vở gần xong thì hết trang giấy. Lật qua trang mới, thấy sạch sẽ và thơm tho, mà chỉ còn có mấy dòng là hết bài, cho nên nó ráng nắn nót viết cho đẹp. Nếu bài còn dài phải viết nhiều, thế nào  nó cũng viết nguyệch ngoạc như gà bới. Về nhà bố xem lại vở, giận dữ:
“Cái thằng này hư đốn! Lại nhờ người khác chép bài hả?  N.!”
Nó ngạc nhiên không hiểu đâu vào đâu. Bố mắng tiếp: 
“Bài vở phải tự chép lấy. Lần sau mà còn làm biếng sẽ ăn roi. Nghe chưa?”
Nó nhìn bố không tìm được lời giải thích. Nó vốn "mũ mít", ai nói đến nó là nó trít miệng. Hơn nữa quả thật lần đầu tiên nó viết được mấy hàng chữ trông đẹp đẽ. Những trang trước chữ nó viết trông như con trùn bò, chị nó bảo như thế. Nó lại lí nhí trả lời bố những gì chính nó cũng không hiểu.
“Hả?  Lại còn muốn nói gì nữa?  Có nghe lời bố dặn không?”
“Dạ. Con nghe.”
Đại khái chú bé học hành như thế, nhưng không hiểu sao năm nào nó cũng được lên lớp. Có lẽ nó được vớt.
Đến lớp ba, nó bắt đầu lơ mơ cảm thấy vài điều vui vui trong việc học, nhưng lúc đó nó phải xa Đà Lạt. Đó là chuyện về sau.
Học đường cũng có mấy thứ khác đáng nhớ. Chẳng hạn vào giờ thủ công, học trò được phép ra khỏi lớp, tới hai hàng cây keo giữa sân trường gỡ những cục nhựa đọng trên thân cây vo tròn lại bằng hòn bi chai đem vào lớp làm keo dán, tốt và sạch hơn hồ chị nó nấu từ bột gạo. Siêng thì đi kiếm cái "nắp keng" cho chút nước vào hòa với cục keo, làm biếng thì chỉ cần thè lưỡi liếm cục keo cho ướt ướt là dán được ngay. Làm xong bài thủ công đôi khi hai cái môi của nó dính trít, mấy ngón tay dày cộm lên, cả keo là keo. Sung sướng nhất là đến giờ tập thể thao được "lên gò” phía sau trường. “Lên gò!” Lòng nao nức, tay chân ngứa ngáy. Đó là một một ngọn đồi nhỏ và thấp thiết trí mấy dụng cụ dùng để tập thể thao, một giải đất cát để tập nhảy cao, nhảy dài, một cuộn dây dừa to để “leo dây” và chơi trò "kéo co".  Và hấp dẫn hơn cả là cái cầu tập thể dục. Cầu là một thanh gỗ chiều dài khoảng sáu thước, bề ngang khoảng hơn một gang tay, bắc ngang trên hai cây cột cao khoảng bốn thước, bên dưới cầu lủng lẳng hai cái xích đu. Đi lên từ một phía của cầu có cái thang nghiêng, nhưng một khi qua được bên kia cầu, phải ôm cây cột tròn tuột xuống. Ai muốn đi qua cầu phải được anh moniteur nắm tay dẫn đi. Con nít đi một mình không quen, ngợp, té, cho nên bị cấm. Nó bị phạt quỳ mấy lần vì lén đi qua cầu một mình để nhìn xuống mái trường ngói nâu nối đuôi nhau có lá thông khô phủ từng vạt, có những tổ chim sẻ, chim én nhỏ xíu.   
Nhưng đáng nhớ hơn cả vẫn là Đà Lạt của những ngày nghỉ học. Những ngày đó chú bé như con chim sổ lồng.
                                                                       * 
Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, như được học tại lớp?  Không, các mùa của chú bé khác hẳn. Khi gió ẩm ướt, trời thỉnh thoảng gầm gừ, mây xám có hôm kéo về đầy trời, và nghe sướng tai làm sao, những tiếng reng réc đầu tiên rụt rè, lẻ tẻ, thân yêu, quen thuộc phát ra từ một vài kẽ đá, gốc cỏ, bụi cây, cột đèn đường v.v... nó vui mừng biết rằng mùa đá dế lại về.
Có những tuần lễ trời trong, gió cao, nắng ấm, ấy là mùa thả diều. Nó còn bé tí, không biết làm diều. Bắt chước người ta nó làm đại, cũng khung tre, cũng phất giấy mỏng, cũng hai cái đuôi diều dài như nhau làm bằng những dung giấy hẹp dán nối lên nhau, và cũng đi theo tụi nhỏ khác mang diều tới thả nơi khoảnh đất rộng trống gió cuối đường Rue d'Annam. Nhưng diều của nó không biết bay dù nhiều lần nó bắt  chước cầm diều chạy một đoạn ngắn và buông dây ra từ từ, thì chiếc diều đâm sầm xuống đất.  Đó cũng là nơi tụi nhỏ tụ tập chơi nhiều trò nhất.
Từ khoảnh đất đó nhìn thẳng phía trước xuống lòng thung lũng, nó thấy được con đường cong cong hai bên phố xá thưa thớt mà người ta gọi là đường Cầu Quẹo.  Nhìn xa hơn nữa, trên sườn chênh chếch từ lòng thung lũng đi lên, tầm mắt nó chạm phải những hàng thông chạy dài theo một con đường vắng. Nó đã theo bố đi trên con đường đó mấy lần nhưng nó không biết tên đường. Về sau nó biết đó là đường Pasteur, sau đổi thành đường Hai Bà Trưng. Nhích lên một chút nữa là những dãy nhà tường trắng, mái đỏ trông rất ma quái, dễ sợ. Bọn trẻ cùng khu phố thường bảo nhau đó là vùng nhà thương, nhà xác, nhà mồ, lẽ dĩ nhiên có nhiều ma. Thỉnh thoảng bọn chúng  nghe tiếng kèn lính từ một phía núi nào đó vọng đến, lại kháo nhau rằng Tây sai những toán lính tới vùng nhà xác thổi kèn để đuổi ma quỷ.  Ngay phía trước khu thả diều trên một đỉnh đồi là nhà thờ Tin Lành mới xây xong. Bên mặt nhà thờ, trên một đỉnh đồi khác, một ngôi chùa cũng đang được xây nửa chừng. Sau này đó là chùa Linh Sơn. Còn phía ngược lại là phố xá, là cái chợ có cái tháp cao còi hụ vào lúc đúng ngọ trên đó có chạm hình nổi “Mọi Cà Răng Căng Tai", đàn ông răng cà sát nớu, đóng khố, tay cầm xà gạc, đàn bà mặc váy, ở trần, trái tai đeo “thứ gì không biết” căng tròn lên to đùng. 
Vào dịp nghỉ hè của thầy Khoái, ông thầy giáo trẻ tuổi ở trọ tại nhà của nó, thỉnh thoảng thầy lấy xe đạp chở nó xuống hồ Đà Lạt câu "cá trắng". Nó nghĩ thầm mùa câu cá lại về, chứ không phải mùa hè. Nó được giao phó việc cầm lon trùn và xách chiếc giỏ mây đựng cá. Không bao giờ nó đủ kiên nhẫn ngồi lâu với thầy. Câu một con cá sao mà khổ thế, ngồi chờ mãi. Thế mà thầy vẫn tỉnh bơ.  Nó đòi về hoài làm thầy bực mình dọa lần sau không cho nó đi câu nữa. Thật ra nó đâu muốn đi câu cá, nó chỉ muốn được thầy chở xe đạp chạy qua những đoạn đường dài, nhất là khi xuống dốc chiếc xe đạp lao như bay như biến.  Đà Lạt có nhiều dốc mà!
Mùa gì nữa? Còn nhiều mùa lắm, chán chơi trò này đổi qua trò khác cũng được kể như sang mùa. Chẳng hạn sau mấy tuần đá banh xoay qua đánh bi đánh đáo, thế là mùa đánh bi đánh đáo bắt đầu. Nó không biết tại sao mùa bắn chim đang vui bỗng nhảy qua mùa đá kiện. Mọi đứa trẻ không ai bảo ai đều chuyển mùa. Có lẽ có một đứa chơi mau chán thứ gì đó nên đổi môn, tụi khác “nhắm mắt” làm theo.
Đá kiện thì chắc đứa trẻ nào cũng biết. Hai "đồng xu nửa" có lỗ đặt chồng lên nhau, một rẻo vải nhỏ luồn qua lỗ thắt lại thành kiện. Rồi chia phe nhau đá, đá tay đôi tay ba tay bốn gọi là "đá kiện giao", đứa nào đá hụt là thua, bị loại; hoặc đá một mình tính điểm, ai tới trước 50 điểm chẳng hạn là thắng cuộc. Có hai kiểu đá: “đá bàn”  bằng lòng bàn chân, “đá chó”, bằng mu bàn chân. Đứa thua phải cõng đứa thắng đi quanh vài vòng, hoặc bị "ăn đột", nghĩa là bị đứa thắng dùng nắm tay nện vào vai, vào lưng, nhiều ít tùy giao hẹn trước, nhưng nặng nhẹ là do lòng tốt của đứa thắng. Thường thì nhẹ vì tuy là con nít, tụi nó cũng biết dễ gì mình thắng mãi, nếu cứ lên gân nện đứa thua, lỡ tới phiên mình thua, lãnh đủ. Có lúc nó bị nện đau đến méo mặt. Đến khi nó thắng, trước khi ra tay trả thù, nó đọc lên một câu "thiệu" mà tụi con nít vẫn nói trong những dịp như vậy, "Dễ người dễ ta, khó người khó ta".      
Đá banh thích hơn đá kiện nhiều. Banh càng to càng thích. Tụi nó thường chỉ đá banh ta-nít (tennis) đã trụi hết lông xin được của ai đó không biết, đá chân không, đá trên sân trường, trên vỉa hè, trên góc phố vắng người đi, ngoài cổng chùa v.v...Đông thì mỗi phe dăm ba đứa, ít thì mỗi phe một đứa, có hoặc không có trọng tài cũng không sao, lấy sách vở, hoặc guốc giép, hoặc cục đá cục gạch, hoặc bất cứ cái gì vớ được, chất thành hai tụ nhỏ cách nhau để làm gôn. Đấu một chốc phải đo lại gôn, bằng không cái gôn "tự nhiên" hẹp lại lúc nào không ai hay. Chiều cao của gôn được xác định bằng cú nhảy cao thẳng người hai tay đưa lên trời của thằng giữ gôn. Nếu muốn ăn gian, lúc banh bắn vào gôn không lấy gì làm cao lắm mà thằng giữ gôn vẫn bắt không được, thì chỉ có việc đứng chùn người lại một chút, hai cánh tay dạng ngang thay vì đưa thẳng lên trời, thế là banh được coi như đã vượt quá sà ngang tưởng tượng.
Một hôm, thằng "Ông Anh" ở cùng phố cho tụi nó biết đã tìm được một chỗ đá banh mới trên một ngọn đồi phẳng nơi đó nay mai sẽ dựng lên một ngôi trường học. Sau này đó là trường nữ trung học Quang Trung, rồi đổi tên thành trường Bùi thị Xuân. Chỗ đá banh đó  rộng lắm, tha hồ đá thẳng cẳng, mỗi phe phải có ít nhất là bốn năm đứa, chưa kể hai thằng giữ gôn. Muốn được "ông anh" kêu đi chơi, nó phải mang theo một trái banh lớn để đá trên sân rộng, không được xài banh ta-nít. Nó không hiểu tại sao ông anh không đặt điều kiện như vậy đối với tụi nhỏ khác. Có lẽ vì nó nhỏ nhất trong bọn chăng?  Nó năn nỉ mẹ mua cho một quả banh cao-su to có khứa trông giống trái "ba-lông" của người lớn chơi dưới "xẹc" (Cercle sportif). Gọi là "dưới xẹc" vì xẹc nằm trên vùng đất thấp bên cạnh bờ hồ, nay có tên là Hồ Xuân Hương. Mẹ bằng lòng với điều kiện nó đừng làm bể, làm mất trái banh. Nó đi theo "Ông anh", ôm quả banh vào lòng đầy cả hai cánh tay, sung sướng. Đem banh lên đồi chia phe đá với nhau một hồi mệt toát cả mồ hôi, thì ạc-bít (arbitre) cho nghỉ đờ-mi-tăng (mi-temps). Bỗng có một người lớn lạ mặt đạp xe đạp từ ngoài đường nhựa tạt vào xem tụi nó chơi. Nó không thể đoán ra tuổi của người lớn, 20 tuổi hoặc 30 tuổi đều là lớn như nhau, và đều đáng kính, đáng sợ.  Người lớn bảo thằng "Ông anh":
“Ê! Đưa trái banh tao coi.”
Đối với tụi nó, "ông anh" quyền uy là thế, nhưng trước người lớn, thằng này hết sức ngoan ngoãn hai tay mang banh đến.
“Tụi mày tiền đâu mua trái banh này?”
“Dạ, không phải của tụi tui. Của thằng N.”
“Thằng N. là thằng nào?”                
"Ông anh" chỉ nó. Người lớn ra lệnh:
“Ê, tới đây mau!”
Nó riu ríu tới. Người lớn véo tai nó rồi xoay xoay trái banh trong tay hai ba vòng, ngắm nghía, lại quay nhìn nó, rồi đứng dậy thủng thẳng đi đến cuối bãi, cầm trái banh tung nhẹ lên trước mặt cho vừa tầm rồi lấy sức đá mạnh quả banh xuống thung lũng dưới xa. Xong đâu đấy người lớn cười khoái trá, leo lên xe đạp đạp một lèo mất dạng. Tụi nó nhìn nhau ngơ ngác. Một chốc sau "ông anh" ra lệnh bò xuống thung lũng tìm banh. Cây cỏ cao và rậm, lại sợ rắn, sợ chó, sợ banh đã lọt qua phía bên kia hàng rào của khu vườn trồng cà phê của "thằng Tây", cuối cùng tụi nó bỏ cuộc. Buổi chiều về nhà trễ sợ mẹ hỏi banh đâu. Mẹ không hỏi liền nhưng mấy ngày sau mẹ có hỏi, nó tìm cách nói quanh, cho người này mượn, cho người kia mượn, giấu giếm chuyện mất banh được cả tháng trời. Thế là hết mùa đá banh. Từ đó, hễ gặp người lớn lạ mặt, nó né né, gờm gờm.    
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)