Ngự Thuyết: Đà Lạt (2)

Chủ Nhật, ngày 16 tháng 10 năm 2016


Nhưng mùa gì cũng không bằng mùa đá dế. Mùa dế đến, theo chân dế, theo tiếng dế gáy thiết tha, giục giã, nó đi nhiều nơi. Đi tới cuối đường Cầu Quẹo, đi lên Cây Số Bốn, Cây Số Sáu, đi xuống dốc Nhà Làng, đi qua xóm Nhà Bò, đi lại phía Nhà Đèn, đi lên đồi Cù, đi xuống cầu Ông Đạo, đi về cầu bà Cửu Huờn v.v... Có khi đi thật xa, gần tới Bơ-tí Lít-xê (Petit Lycée). Nhiều hôm vào thứ năm, chủ nhật, hồi đó là những ngày nghỉ học, dậy thật sớm, nắng vừa lên trời còn lạnh, tụi nó đã rủ nhau đi bắt dế
. Đi trễ bọn khác bắt hết dế sao.
Muốn bắt được nhiều dế cứ việc đến các vườn la-ghim (légumes) của các ấp Hà Đông, ấp Nghệ Tịnh gần Mả Thánh. Dế vùng này to, mập, chậm, đá dở. Tụi nhỏ cho rằng những con dế làm hang trong đất xốp, đất dùng để trồng trọt, ăn toàn “đồ bổ”, cô giáo nói la-ghim bổ lắm, là loại dế bở, đá vài phút te cò chạy.  Ăn cực đá hay hơn. Còn loại dế thấy ánh đèn đường ban đêm bay sà tới lại càng tệ, bắt đem về nuôi thêm chật hộp. Thà bắt dế chó nhốt chơi vài ngày rồi dụt đi còn hơn. Dế chó nhỏ con, có vạch màu vàng hình chữ V trên đầu, không biết đá, tiếng gáy nghe như tiếng rên dài dài từng chuỗi, không nhịp nhàng từng hồi ngắn như dế than, dế lửa.

Phải tìm cho được những con dế ở các hang thật sâu đào xuyên qua rễ cây lớn, hoặc xuyên qua hốc đá. Hang càng khó đào, dế càng đá hay. Tụi nó không có cuốc, xẻng, mỗi đứa chỉ đem theo một khúc cây ngắn, vót nhọn, dùng để đào hang, mấy cái hộp quẹt hoặc lon sữa bò dùng đựng dế. Đào thật cẩn thận, bằng không đâm chết dế. Có hang sâu quá đào không nổi, tụi nó hè nhau đi kiếm vũng nước, dòng suối, lấy nước đổ vào hang cho dế ngộp phải trồi đầu lên. Một gia đình dế nộp mạng "đầu hàng" theo thứ tự như sau: dế con bò lên trước, rồi đến dế mái, dế mẹ. Có nhiều con dế mẹ vì một con dế trống đầu đàn có nhiều vợ, sinh ra nhiều đàn con. Sau một lúc lâu mới đến phiên con dế trống, chịu ngộp giỏi nhất, nhưng cuối cùng cũng phải bò lên. Cánh nó dợn sóng, hai chấm vàng tươi ở gốc cánh nằm kế cái đầu tròn vo hiện lên rực rỡ dưới ánh mặt trời. Lúc này thì cặp râu dài của con dế đã ướt mèm dính bùn, mấy cái chân trước bước lê lết, mệt  nhọc, hai cái chân sau duỗi thẳng. Đó là con dế trống đầu đàn. Nó lấy lại sức rất mau. Chỉ mấy phút sau nếu tụi nhỏ không kịp bắt nó nhốt vào hộp, nó phóng đi cái vèo mất tiêu. Khi tìm không ra vũng nước, tụi nhỏ họp nhau đái vào hang. Một đứa đái không đủ nước! Có khi chúng mạo hiểm phá hang rắn để bắt dế. Dế ở chung với rắn con nào con nấy dài thòong, dế mà dài như thế tức là bị lai với rắn chăng, tụi nhỏ nghĩ như thế, đá hay lắm, nhưng tiếng gáy dở ẹc, là vì cánh của loại dế này thường bị rách hoặc lũng lỗ. Nó gáy lên nghe thua vịt đực kêu.
Kinh nghiệm của tụi nhỏ cho thấy rằng dế than “đen thùi lui như cục than" thúc  giỏi, thúc có nghĩa là đẩy, nhờ có cặp giò sau rất cứng, trong khi dế lửa đỏ hồng như ngọn lửa” nghiến đau nhờ có cái càng rất mạnh. Nó nghiệm ra điều đó chưa chắc đúng, sau này nó sẽ có bằng cớ. Nhưng dế than phải thật đen, dế lửa phải thật đỏ. Loại dế lai màu nâu nâu đá không hay. Tụi nhỏ được cho biết, ai là người đầu tiên nói điều đó nhỉ, dế than dế lửa lấy nhau đẻ ra dế nâu.
Con dế là người bạn thân yêu của tuổi thơ ấu. Lần đầu gặp nhau, nó là kẻ đi ruồng bắt, con dế là kẻ trốn tránh, nhưng một khi đã sống chung với nhau một thời gian ngắn độ vài giờ, dế và nó thương yêu nhau, quấn quýt bên nhau. Nó lấy cái hộp thật tốt, hộp đựng bánh bích-quy chẳng hạn, cho đất vào, moi sẵn hang cho dế chui vô, trồng một ít cỏ thật xanh, kiếm rễ cỏ non cho dế ăn, thay vì cho ăn hạt cơm hoặc cọng giá, những thứ đó chỉ làm cho dế mập phì, chậm chạp.
Rồi nó bỏ ra rất nhiều công sức để làm cái “nhử”. Đó là một cục "dầu hắc" nhựa đen vo tròn to bằng đầu con dế gắn vào một đầu cây nhang dài khoảng nửa gang tay, đầu kia làm cán, rồi xin chị một sợi tóc gấp làm đôi cột vào cục nhựa cho thật khéo, thật thẳng, giả làm cặp râu dế. Thế là xong cái nhử.  Hai ngón tay cầm cán nhử xe xe cho tóc của đầu nhử ngoáy vào dế.  Những thằng lười và ác chỉ việc ngứt đầu một con dế dở, có sẵn râu, rồi lấy cây nhang đâm vào làm cán thành một cái nhử gọn gàng.  Nhưng loại nhử này bết lắm, đầu dế không dính chặt vào đầu nhang, xài năm bảy lần là sút.  Những thằng lười và ác đó nhiều lúc thấy dế dở bị ngoáy mãi mà không chịu hăng lên, bèn cầm hai con lên dí càng vào nhau cho chúng nó cạp nhau cho đến chết. 
Nhưng dầu hắc đâu mà có? Rất dễ kiếm. Chỉ việc lấy mũi dao nạy vài cục nhựa trải đường lên đem về hơ lửa là xong ngay. Còn tóc phải năn nỉ xin chị, tóc nó cụt ngủn, không làm râu được. Đừng lấy ngón tay hoặc cái que lùa dế xáp vào nhau, dế đâm hoảng bỏ chạy. Cũng đừng xách mép dế lên rồi thổi vào bụng dế cho nó nhột, nó đập cánh rồi nó "hăng" lên; lỡ đứt mép, con dế rớt xuống cái bịch, hoảng, bỏ chạy. Những đứa "ba trợn" nắm cặp râu dế xách con dế lên quay tròn cho dế chóng mặt nổi khùng lên đá. Cũng không được. Râu bị cong queo hoặc bị đứt, con dế không râu kể như mù, bò loạng quạng, ngẩn ngơ như người mất vía.   
Phải dùng nhử để chọc tức con dế, dụ con dế đuổi theo. Chẳng hạn con dế đang nằm trong cái hang nhỏ trong hộp bích quy, lấy nhử ngoáy ngoáy thế nào cho hai đầu sợi tóc chạm nhẹ vào nó, thế là nó sẽ vừa gáy vừa đuổi theo nhử. Đừng ngoáy mạnh quá, gặp dế nhát gan là hỏng, nó sợ bỏ chạy luôn. Hoặc là khi con dế đang đứng ở một góc hộp, nhử vào đuôi nó nó sẽ xoay người lại ngay, há rộng cái càng sẵn sàng "xáp trận".
Thằng bé cứ thế nhìn con dế một cách say sưa. Ngồi một mình chơi với con dế cả tiếng đồng hồ, chốc chốc lấy nhử ngoáy để lại được thấy con dế hăng máu lên, mở rộng hai càng trông như hai lưỡi mác, hai cánh phồng lên cọ sát vào nhau phát ra tiếng gáy reng reng trong khi thân hình rùng rùng chồm chồm như ngọn lửa đang bốc, hay như chiếc khăn voan màu đen nhỏ xíu no gió, nếu là dế than, rùng rùng chồm chồm theo điệu nhún của cặp giò sau thật cao và thật dài. Trông oai ghê! Và đẹp hơn tất cả mọi thứ trên cõi đời này. Con dế ý chừng biết thằng bé đang ngây dại nhìn càng cao hứng chạy quanh trong lòng chiếc hộp sắt sục sạo tìm kiếm xem thử có một tên dế nào khác dám mò vào “giang sơn đất  nước này”.
Lẽ dĩ nhiên mỗi chiếc hộp là của riêng của một con dế trống. Nhốt chung những con dế với nhau, chúng đá loạn xạ vài trận rồi sẽ làm quen với nhau, tử tế với nhau, thế là hết đá. Cũng không cho dế mái vào ở chung, nó “phá đám”, làm hư con dế trống.  Dế nhất được ở trong hộp bích quy, dế nhì hộp bằng bìa cứng, dế ba, dế tư đựng trong lon sữa bò hoặc hộp quẹt cũng được. Mỗi khi đi học về thằng bé mang dế đi đá với dế hàng xóm. Ít khi nó mang dế nhất ra đá với những con dế bậy bạ. Đá bừa bãi dế sẽ "hết hăng".  Muốn dế đá hay, phải biết để dành “sức khỏe” và “sức hăng” của dế.  Ai bày cho nó mánh lới đó hè, nó quên mất.
Năm nó lên bảy, nó không bao giờ quên năm đó, đầu mùa mưa, từ ngôi nhà đang ở trên  đường Rue d'Annam nó đi theo cậu lên Cây Số Sáu thăm ngôi nhà tranh bố vừa mới cất xong, ngôi nhà thứ nhì của bố mẹ.  Đi bộ xa, dưới bầu trời trăng trắng, đục đục, mưa lâm râm, đường đất đỏ lầy lội, đôi dép của nó bị tuột hoài cậu phải xách giùm. Chỉ còn một đoạn đường ngắn nữa là đến nơi, cái mặt đang xụ của nó bỗng sáng rực lên khi nó nghe tiếng dế. Chỉ một con dế đang gáy mà thôi, tiếng gáy reng reng, ròn rã, vang dội cả một vùng. Có đứa bảo dế trống gáy như thế để dụ dế mái tới. Sai! Tiếng gáy dụ dế mái tới nghe khác hẳn, không đều đều nỉ non như khi dế kêu trong giấc ngủ ngày hoặc ngủ đêm, không oai hùng rổn rảng như khi dế khoái chí vì chuyện gì đó nhất là sau khi thắng trận. Trái lại dụ dế mái tới thì nghe chắc chắc, chập chập, chọt chọt như khi ngươì ta chắc lưỡi làm thân với con chó lạ.
Nó biết rằng vùng này không chỉ có con dế ấy mà thôi. Những con dế khác sợ tiếng gáy đó nên đều nín khe, không dám hó hé. Nó lắng nghe, tìm quanh một hồi, thì biết được con dế nằm trong hang bên dưới một tảng đá lớn cạnh cây thông già đứng ngay gần lối ra vào cái sân trước mặt nhà. Nó ráng sức vầng tảng đá đi nơi khác, không nổi. Thấy nó loay hoay mãi, cậu ra tay. Cậu vào nhà xách cái cuốc chỉa ba đào một đường rảnh nhỏ quanh tảng đá. Chỉ thoáng một cái cậu đã nạy được tảng đá lên, một cái hang sâu hiện ra. Tiếng gáy đã ngưng từ lúc nhát cuốc đầu tiên bổ xuống, nhưng nó biết con dế vẫn còn nằm dưới hang. Cậu định đào tiếp, nó bảo để nó làm, nó sợ cậu vô ý cuốc trúng con dế. Nó ngồi chồm hổm, ì ạch xoay người quanh cái hang nhiều lần, cúi đầu mắt dí vào hang  tìm kiếm. Hang sâu, chẳng thấy được gì. Nó ngồi ngay người lại, định đi kiếm nước đổ vào hang, bỗng nghe vù một tiếng: con dế từ trong hang phóng mạnh ra chạm ngay vào bụng nó. Nó giật mình đưa tay vào bụng đỡ thì may thay cái vạt áo trước của nó vướng vào tay trùm lên con dế. Nó không mang theo hộp, nó đâu định đi bắt dế, thế là hai bàn tay của nó bụm vạt áo thật kỹ. Cứ thế, tay giữ vạt áo cho đến khi cậu coi xong nhà cửa trở về ngôi nhà  dưới phố, nó vừa đi theo cậu vừa vui sướng trong lòng.  Nó biết rằng đây là  một con dế trống thứ xịn.
Đó là con dế lửa đỏ rực, cánh dợn sóng lằn sâu, hai chấm nhỏ ở gốc cánh vàng tươi, thân hình dài bằng nhưng bề ngang lớn hơn ngón tay trỏ của nó, hai sợi râu dài hơn cả thân hình, nguyên vẹn, đều đặn, có lúc trông như hai thanh kiếm tuốt trần vung vẩy, có lúc trông như hai cái lông đuôi chim trĩ đính trên chiếc mão của ông tướng hát bội, cái đầu to, tròn, lồi lên hai con mắt như hai hột cườm đen, và sáu cái chân cũng đen nhánh, những cọng gai nhỏ, những răng cưa, những móc câu trên chân còn mới tinh khôi, nhọn hoắc, cặp giò sau bặm xị, dài thoòng, xếp lại thành góc rất nhọn chứ không phải duỗi ra bè bè như những con dế oải. Nó nuôi con dế ấy trong chiếc hộp sắt chứa đầy đủ đất, cỏ non, và một cái hang cạn làm mồi cho con dế đào tiếp.
Hôm sau, nó nhử con dế lửa xịn ấy vào một cái hộp các-tông trống trơn làm đấu trường - hộp bích quy bằng sắt không xài được, đáy nó cứng và trơn không có chỗ cho gai chân dế bám, dế dễ bị trượt khi bị “thúc” - cho đá thử với con dế ba của thằng hàng xóm. Con dế lửa của nó chỉ cần chỉa hai cái râu chiếu vào đầu con dế kia, con kia đã khiếp sợ bỏ chạy. Đá với con dế nhì cũng chỉ cần một cú "thúc" là thắng. Đúng vậy, dế lửa hay thúc vẫn giỏi, cần gì phải dế than mới thúc!
Cuối cùng thằng hàng xóm phải đem dế nhất ra, một con dế than đen thui, bự sư, to hơn con dế lửa của nó, hung hăng vô lối, chưa đá, chưa thắng đã chạy lui chạy tới, xoay người qua trái, qua phải, gáy ỏm tỏi. Con dế nhất đó cũng biết đem tiếng gáy và cặp râu ra dọa nạt con dế lửa của nó, nhưng chẳng "ăn thua" gì. Sau khi phồng cánh lên gáy reng reng và đấu nhau bằng cặp râu như Zorro đấu kiếm, vâng, nó đã được coi phim Zorro tại rạp Lang Biang, hai con dế mới kéo giạt hai cặp râu dài ra hai bên cho đỡ vướng, và há rộng càng đo xem ai khủng khiếp hơn ai. Nhiều con nhát gan, vừa đo càng xong là quay người co giò chạy re.  Cặp dế này khác, đo càng xong, từ từ xáp trận. Con dế lửa của nó mạnh quá, lấy càng, lấy đôi chân sau làm trụ đẩy mạnh con kia lùi một quãng dài đến cuối chiếc hộp rồi ép vào thành hộp. Con kia bị kẹt, thân hình cong vòng như con tôm, may sao, sau một hồi vùng vẫy, nó bật người ra khỏi cặp càng siết chặt của con dế lửa và văng mình ra xa. Nó không chịu nổi cái nghiến ghê gớm của con dế lửa, quả có thế. Con dế lửa đứng yên một chỗ rùng mình lui lui tới tới, phồng đôi cánh đỏ rực gáy dòn, rồi xoay mình hai ba vòng mà không hề bị chóng mặt hay lảo đảo, rồi nhập cặp râu lại cho giống đôi song kiếm chiếu thẳng vung về phía trước, xong xuôi đâu đấy khua chân chạy rần rần quanh chiếc hộp tìm kiếm quân thù. Không có một ông tướng cải lương hay hát bội nào trên sân khấu "diệu võ dương oai" đẹp bằng con dế lửa của nó. Lẽ dĩ nhiên những chữ "diệu võ dương oai", "đôi song kiếm", sau này nó mới biết; ngoài ra hồi đó nó chưa coi Phùng Há hay Bích Thuận đóng vai Lã Bố nên không chắc mình so sánh có đúng hay không.
Con dế than kia quả không phải đồ bỏ, dù đang đứng khờ khờ, lạc lõng giữa lòng chiếc hộp. Nếu còn tỉnh táo nó không bao giờ đứng vớ vẩn giữa lòng cái hộp như thế, trái lại luôn luôn đứng xuôi người sát thành hộp hoặc ngay tại góc hộp. Bỗng nó sực tỉnh trước tiếng gáy của con dế lửa. Nó lập tức sửa cách đứng cho có thế, hai càng mở ra rồi khép lại đến mấy lần chừng như đang phân vân nói năng lẩm bẩm một mình, hoặc tính toán điều gì, hay cũng có thể nó muốn gò lại cặp càng bị sai khớp trước khi xáp trận. Cuối cùng nó há càng ra thật to, rồi hạ càng xuống sát đáy hộp, lừ lừ tiến tới phía con dế lửa. Có khi càng nhọn vướng vào đáy hộp làm cho cái đầu của nó giật giật. Thằng nhỏ hồi hộp. Tụi nhỏ kia đang châu đầu quanh cái hộp bỗng nhao nhao, coi kìa, coi kìa, nó bị thương, con dế than bị thương, cái giò sau bên trái xuội lơ kéo lê trên đáy hộp. Nhưng con dế lì lợm đó vẫn lừ lừ bò tới. Con dế ấy đi "bộ hạ", nguy hiểm lắm đó. Những con dế lắc xắc ra trận mà cứ ngớp ngớp cái đầu lên cao khỏi mặt hộp thì chỉ bị một cái thúc của con kia cũng đủ văng lộn mèo. Con dế bị thương vẫn bộ hạ lừ lừ tiến.
Thằng nhỏ hàng xóm bỗng la lên, thôi, thôi, huề, không thèm đá nữa đâu, rồi thò tay vào chiếc hộp định bắt con dế của nó ra. Nó và bọn trẻ ngồi xem cũng hét, không được, không được, đừng ăn gian, bắt nó ra là chịu thua. Cho nên trận chiến lại tiếp diễn. Lần này lẹ, chưa đá đã xong. Sau khi cho giạt hai cặp râu ra hai phía, hai cặp càng mở rộng so lại, chuẩn bị xáp trận, con dế than bị thương đột ngột quay đầu bỏ chạy. Con dế lửa rượt theo. Thằng bé hàng xóm vội vàng đưa cái nhử cản đường con dế lửa, bằng không con dế nhất của thằng hàng xóm có thể "tử trận". Vâng, tử trận, không biết đã nghe ai, chúng nó đều hiểu nghĩa hai chữ đó.
Chú bé quý con dế vô cùng, quý hơn tất cả những gì nó có. Quý hơn sách vở nhà trường, trái banh, cái ná bắn chim, con diều giấy, mấy hòn bi chai, con vụ v.v... Quý hơn  cả con Ba Tô sau này. Trời Đà Lạt buổi sáng lạnh, thằng bé chỉ muốn nằm hoài trong chăn ấm, thế mà từ khi có con dế lửa, nó chịu khó dậy sớm một chút để trước khi đi học, lúc nào cũng thế, nó dành mấy phút mở hộp dế lửa ra ngắm nghía một hồi rồi lấy nhử ngoáy vài cái, tức thì con dế từ trong hang nhỏ chui ra, vung hai thanh kiếm râu, há càng, gáy ròn rã như nói vài lời tạm biệt, rồi chui vào hang. Đi học về, vừa vứt cái cặp lên góc bàn, nó đến ngay hộp dế lửa mở ra coi, rồi ngoáy ngoáy, sung sướng. Nó khéo tay, hiểu được ý dế, khéo cư xử, dần dần nhử được con dế lửa bò lên bàn tay trái của nó. Thế là bàn tay trái nhỏ xíu để ngửa trên đó con dế đỏ như cục than hồng an tâm bước tới bước lui, không đủ chỗ bước ngang, bàn tay phải của thằng nhỏ cầm nhử chốc chốc ngoáy. 
Thằng bé đi khắp khu phố với con dế trên bàn tay, tìm địch thủ, những hôm nghỉ học. Bọn nhỏ khác nhìn theo thèm thuồng. Mỗi khi có người lớn để ý đến, nó lịt lịt lẩn tránh, rồi chạy về nhà cho dế vào hộp cất kỹ. Nó nhớ trái banh bị đá mất.
Bố một hôm rầy nó:
            “Cái thằng N., con dế cưng của con ban đêm gáy to quá. Không ai ngủ được!”
Đó là bố nói, riêng nó, tiếng gáy nghe trong trẻo và êm ái hơn tiếng chuông đồng trên bàn thờ Phật, đưa nó vào giấc ngủ lúc nào không hay, đưa nó đi đến những giấc mơ đẹp. Nó mơ con dế lửa sẽ ở suốt đời với nó như đôi bạn thân, dần dần trước sự cưng chiều và hiểu biết của nó, con dế sẽ thương nó hơn nữa, như nó đã thương con dế vậy, bảo đừng gáy là không gáy để bố khỏi la, bảo lên bàn tay là từ cái hang nhỏ trong hộp bích quy bò ra rồi bò lên bàn tay liền, không cần phải ngoáy, phải nhử, lỡ gặp người lớn, chưa kịp bảo là nhảy tọt vào túi áo của nó ngay. Nhưng nó rất sợ cái đầu, cái cổ, cái mỏ quá lẹ của con gà trống. Có một lần nó đem một hộp dế để cạnh lồng gà định ngoáy ngoáy cho con dế gáy xem thử con gà có hoảng không. Phặp một cái, con dế lai đó đã nằm quay đơ trong mỏ con gà trống. Cho nên nó không bao giờ dám đem con dế lửa tới gần lồng gà, dù nó cũng khoái ngắm nghía gà.
Mẹ nó đưa ý kiến:
            “Để mẹ đem hộp dế ra để sau hè là yên chuyện. Đỡ ồn nhà.”
Nó không chịu. Lỡ bị ăn cắp. Lỡ gặp kiến đùn. Cuối cùng mẹ nó để hộp dế lên trên gác lửng gần mái nhà. Tiếng gáy nghe xa hơn.
Một hôm khác bố gọi nó đến:
            “N.! Con chơi dế sa đà. Bỏ cả học hành.”
Vì con dế, nó cố gắng để ý đến bài vở hơn để khỏi bị la là bỏ cả học hành. Nó cảm thấy học hành có "tấn tới" nhiều, chỉ tiếc rằng cô Lộc và bố chưa nhận ra cái giỏi kín đáo ấy của nó.  
            Một buổi chiều đi học về, như mọi khi, nó bắc ghế trèo lên gác lửng lấy hộp dế xuống, lòng hân hoan sắp gặp lại người bạn thân. Mở hộp ra, nó lấy nhử ngoáy vào miệng hang. Con dế hôm nay lì, nó ngẫm nghĩ, chưa chịu thò đầu ra. Nó ngoáy ngoáy tiếp, thọc cái nhử vào sâu hơn. Vẫn im hơi. Tim nó đập mạnh. Nhử một hồi lâu vẫn không ăn thua. Nó muốn khóc. Con dế đã chết?  Nó lấy mũi dao cẩn thận nạy ra từng cục đất nhỏ ở miệng hang. Dần dần phá hết cái hang vẫn không thấy tăm hơi con dế. Nó khóc oà, chạy xuống nhà bếp. Mẹ đang làm cơm tối.
            “Mẹ, mẹ. Con dế của con đâu?”
            “Chắc nó bay rồi.”
Nó khóc to:
            “Không, không, không phải.”
Bố từ nhà trên nghe ồn đi xuống. Mẹ thở dài. Bố nhìn nó, nó cúi mặt. Bố nghiêm giọng:
            “N., chuyện chi đó nữa?”
Mẹ đỡ lời:
            “Con dế của con nó bay rồi.”
Nó ấm ức:
            “Không, nó không bay. Dế hay không bay. Dế dở ngoài cột đèn đường mới ưng bay.”
Bố bật cười. Ít khi bố cười:
            “Thì nó không bay. Nó nhảy, nó phóng đi mất.”
Thằng bé nấc lên một tiếng, tránh cái nhìn của bố, nước mắt chảy xuống ròng ròng. Bố gắt:
            “Cái thằng này...”
Bỗng, thật bất ngờ, bố dịu giọng:
            “Bố không ưng con chơi dế đâu. Chiếm hết cả ngày giờ của con. Nhưng, thôi được, mất con này đi bắt con khác. Kiếm không ra con đỏ đỏ như vậy thì cứ việc ra ngoài chợ mua, thiếu giống gì cái thứ đó. Đây, bố cho mấy xu... Ra chợ mua con khác về chơi, nhưng chơi bớt bớt đi nghe! Để ngày giờ học hành.”
Nó cố nén tiếng nấc mà nén không nổi. Sức mấy có con dế nào bằng con dế đó. Nước mắt càng ràn rụa, mũi chảy thò lò. Nó đưa cánh tay định quẹt mũi, sực nhớ, khựng lại. Mẹ vội lấy khăn lau mũi cho nó. Nó cảm thấy lòng căm ghét dâng lên. Ghét ai đây? Ghét bố hay ghét mẹ?  Hình như nó ghét mẹ nhiều hơn. Ghét mẹ dễ. Ghét mẹ mấy ngày cũng không sao. Bố thì khác.
Mùa dế rồi cũng qua đi, và chú bé không bao giờ tìm được chú dế lửa thân yêu. Nó ủ rũ nhiều ngày, nhiều tháng.  Mãi về sau khi nó đã lớn khôn nhiều, con dế lửa mất đi vẫn để lại trong lòng nó một vết thương chưa thành sẹo, một nhớ tiếc không nguôi.

           


                                                                        *

Những con dế than, dế lửa quả là những hình ảnh hết sức rực rỡ nổi lên trên khung cảnh quá êm đềm của Đà Lạt thời thơ ấu. Đà Lạt thơ ấu! Đúng thế, thời thơ ấu của chính Đà Lạt và cũng là thời thơ ấu của nó. Đà Lạt còn nhiều thứ khác nữa, như nó đã nói và nó sắp nói thêm, và lần nói thêm này nó xin được tóm tắt, “nó sợ làm nhàm tai người khác.”
Những con vụ bay vèo vèo trên các lề đường. Con vụ được đẽo từ sọot chỉ máy may, đẽo đi một vành thôi, một cây đinh giày "săng-đá" đóng vào chân vụ. Quay vụ. Khi con vụ sắp hết đà quay, dùng cây roi cán là chiếc đũa, phần dưới là sợi dây vải, quất mạnh vào vụ, phải biết cách quất, thế là con vụ lại quay xoắn tít, lại tiếp tục bay. Cũng trên những lề đường đó, tụi nhỏ chúng nó tụm năm tụm ba lấy đất sét hòa với nước nhồi nặn thành những cái cốc đáy mỏng nhưng thành dày, và vừa nặn xong, cốc đang còn ướt dẻo, trở úp miệng cốc nện mạnh xuống đất, tạo nên tiếng nổ chát chúa. Đó là trò chơi "đốt pháo đất sét". Đất sét còn thừa chúng trộn muối vào nặn thành những hòn bi tròn lùi vào bếp tro hồng mai đem ra chơi, chơi bi đất sét tự làm lấy vui hơn bi chai mẹ mua.  Hoặc nặn ống điếu, gắn cọng đu đủ tía làm cần, bắt chước ống điếu của "mọi cà răng căng tai". Có đứa nghịch ngợm ăn cắp thuốc lá thiệt nhét vào điếu đất sét hút. Ho sặc sụa. Trên nhiều đường phố, hồi đó ít xe cộ, ít người, tụi nhỏ tay cầm cán là chiếc đũa hoặc khúc cây ngắn, vừa chạy theo vừa đánh vào vành bánh xe đạp, hoặc vành thúng vành rổ, giữ sao cho nó lăn hoài.
Có lúc đang vui chơi bỗng thấy voi, thế là bọn chúng bỏ cả cuộc chơi để đi xem voi. Lâu lâu, chuyện này rất hiếm, thấy con voi đứng lại giữa đường iả một đống to tướng. Tụi nhỏ cho là gặp được điều may lớn. Mấy đứa lì lợm liền chạy đến giật lông đuôi voi. Voi đau quay người lại gầm lên, mọi trên bành voi la hét rùm beng, tụi nhỏ chạy té re.  Nghe nói dùng lông đuôi voi xỉa răng, răng hết sâu. Đó là những con voi của người thượng đem dâng cho nhà vua trên đường đi qua khu phố của chú bé. Chúng chạy theo voi nửa đường rồi quay về tiếc rẻ, nhưng không đứa nào dám mạo hiểm chạy theo voi lên tận "ba-le" (Palais impérial, dinh vua Bảo Đại). Thằng bé lại càng không dám. Ham đi lêu lổng xa quá lỡ quên đường về sao! Chính bản thân của nó đã một lần khổ sở vì chuyện đó.
Một chủ nhật, như mọi chủ nhật khác, chị nó đi "bà xơ" cùng với tất cả học trò con gái khác trong lớp dù có "theo đạo" hay không. Đó là chuyện bắt buộc. "Theo đạo” có nghĩa là theo đạo Thiên Chúa, và "đi bà xơ" là đi đến một ngôi nhà thờ nào đó để được các bà xơ (soeurs) dạy bảo nhiều thứ như thêu thùa, nấu ăn, trồng rau, trồng hoa, ca hát, các môn thể thao, các bài giảng trong Kinh Thánh v.v... Học trò con trai thì đi “lu-vờ-tô” (louveteau, sói con).  Học trò con gái khoảng ba mươi đứa sắp hàng hai đi bộ từ nhà trường qua nhiều dãy phố để đến nhà thờ. Sáng hôm ấy, chưa biết sẽ chơi món nào, nó bỗng nẩy ra cái ý chạy theo đuôi đoàn học trò con gái, có chị nó trong đó, xem họ làm gì. Lẽ dĩ nhiên nó chạy theo xa xa đằng sau, khỏi bị ai để ý. Đoàn học trò ra khỏi cổng trường quẹo trái đi một quãng ngắn trên con đường nhỏ lát đá, rồi quẹo phải đi trên con đường nhựa tiến về phía ngôi chợ to lớn của thành phố, tháp ngôi chợ có chạm hình mọi cà răng căng tai, rồi lại quẹo trái xuống một con đường vừa rất dốc vừa cong queo hai bên là các dãy phố để đến khu Cầu Quẹo. Những nơi này nó đều biết. Đoàn người tiếp tục đi, lách theo một con đường mòn nhỏ, băng ngang qua một khu vườn trồng la-ghim, tiến đến một con suối. Một chiếc cầu gỗ cong cong bắc ngang qua dòng nước chảy khá mạnh. Cầu nhỏ, bọn con gái phải từng đứa một đi qua. Nó đứng chờ khuất sau hàng cây "bông trắng" xanh tươi. Nó thầm nhủ hôm nào mình sẽ trở lại đây chặt cây bông trắng đem về làm nạng ná bắn chim. Nạng bông trắng không bền bằng nạng cành ổi nhưng cân đối và dễ uốn. Khi mọi người đã qua hết cầu, sắp hàng hai trở lại, tiếp tục đi khá xa, nó chạy nhanh qua cầu rồi lẽo đẽo đi theo.
Nó bắt đầu chột dạ. Liệu chốc nữa có nhớ đường về hay không? Cảnh vật chung quanh lạ lùng, ghê ghê. Đoàn người đi băng ngang một con đường cái trải đá, lại theo một con đường mòn hai bên cây cối rậm rạp, lên một con dốc khá cao để đến một con đường cái khác chắn ngang. Về sau lớn lên, nó biết đó là đường Thi Sách gần cư xá Đờ-Cu (Cité Decoux). Rồi họ rẽ sang phải. Nó đi đằng sau xa, lòng hồi hộp, ngớp ngớp nhìn theo đoàn người rồi vô tình nhìn chệch qua phía trái. Sau mấy rặng thông rậm rì, xanh ngắt, là những tòa nhà ngang dọc tường trắng xóa, mái ngói đỏ loét, không một bóng người, hiện lên chấp chới trong ánh nắng sớm. Nó thấy cái dáng lạ lạ, quen quen. Bỗng nó rụng rời. Đúng là nhà thương và nhà xác mà tụi nhỏ thường thì thầm nhắc đến. Nó quay người định chạy lui nhưng sợ lạc đường. Nó không dám nhìn qua phía trái nữa, cúi gầm đầu đi theo đoàn con gái. Đi thêm một quãng đường, họ rẽ sang trái, đi vào cổng một khu nhà thờ rộng lớn. Sau này nó biết đó là khu nhà thờ Saint Domaine de Marie. Nó cũng len lén đi vào cổng. Đoàn con gái cứ thế đi xuống tận dưới thung lũng vui chơi, múa hát, học hành cạnh một ngôi nhà thật dài có mái che nhưng không có vách, giống như cái prề-ô (préau), còn nó đứng lấp ló sau các gốc cây. Nó chờ mãi. Sao chị lâu về thế. Trời bỗng tối sầm, rồi mưa. Bọn con gái đi vào nhà. Nó tìm cách ẩn mưa dưới những cành cây lớn. Trận mưa không lâu nhưng nó cũng bị ướt như chuột lột và lạnh run. Nó khóc tấm tức. Sao mãi chị vẫn không chịu về. Nó đói meo. Cuối cùng, chắc là đã chiều rồi, mọi người sắp hàng hai ra về, nó lại chạy theo đằng sau xa, lòng lo lắng nghĩ đến trận đòn đang chờ nó. Chắc chắn bố không thể nào tha thứ cho nó cái tội đi lêu lổng suốt ngày. Từ đó nó không bao giờ dám đi đâu xa một mình.
Nhưng coi voi vẫn không thú bằng coi "mọi về". Lâu lâu, nó không nhớ trong bao bao lâu, người Thượng không biết từ những ngọn núi nào kéo nhau về rần rần. Một đoàn người thật dài đi tỉnh bơ ngay trên đường cái chứ khỏi cần phải đi trên lề đường để tránh xe kéo, xe ngựa, hoặc xe hơi. Hồi đó ít xe hơi lắm. Đoàn người đông hơn toán con gái "đi bà xơ" nhiều, già trẻ lớn bé đều có đủ, đúng là mọi "cà răng căng tai", răng cà sún sát nớu, trái tai đàn bà con gái căng to bằng miếng gỗ dẹp tròn lớn bằng miệng ly uống nước, lủng la lủng lẳng. Lại có cả heo, chó, gà mang theo, ốm nhom. Đàn ông chỉ đóng chiếc khố, da của họ trông dày cộm và đen thui, lưng mang gùi, tay cầm roi mây, xà gạc. Tụi nhỏ bảo nhau trong rừng cây cối rậm rạp không thể nào đi được một bước nếu không dùng xà gạc dọn đường, còn roi mây là để đánh cọp. Cọp không biết đau nhưng sợ tiếng gió phát ra từ cái roi, "ông anh" bảo thế. Đàn bà thì ở trần, mặc váy đen vằn trắng, cũng mang gùi hoặc mang em bé sau lưng. Oai hơn cả vẫn là những người lè kè trên vai chiếc nỏ, để ló ra sau gùi cái ống tre đựng tên nhọn. Tụi nhỏ lại bàn bạc rằng nỏ và tên để săn voi, tức là con thú rừng to nhất, mạnh nhất, khôn nhất và dữ nhất, khác hẳn những con voi tuy cũng mạnh nhưng rất hiền của nhà vua. Mũi tên tuy nhỏ nhưng rất "lợi hại", rất độc, trúng voi voi chết, vì được ngâm trong "nước miếng buổi sáng" để lâu ngày. Cô giáo bảo nước miếng buổi sáng độc lắm, mỗi sáng phải đánh răng để tẩy độc đi.
Tụi nhỏ trố mắt nhìn đoàn mọi đi qua cho hết rồi đi theo xem thử họ sẽ đi đâu. Thì ra mọi đi chợ. Họ bán heo, gà, bắp, kê, mật ong, thịt rừng, móng cọp, nanh heo rừng v.v...và mua gạo, muối. Họ biết xài tiền nhưng không biết đếm. Chẳng hạn họ bán ba cắc một con gà thì họ nói con gà này giá một cắc, một cắc, một cắc, vừa nói vừa chìa một ngón tay thôi, chìa ra làm ba lần. Họ không chịu bán chó. Xong họ ngồi chiếm hết những bậc tam cấp của chợ, mỗi người lấy từ trong gùi một cái đãy dài làm bằng lát cuốn tròn đựng cơm nguội và mắm, lắc lắc đổ ra bàn tay vắt lại thành cục cho vào miệng ăn ngon lành. Ăn xong, họ đến những vòi nước máy công cọng kê miệng uống, rồi lấy ống điếu cần thật dài mồi lửa hút thuốc. Có người mua chai nước ngọt uống một ngụm, rồi tới vòi nước máy châm thêm cho đầy đưa cho người khác uống, người đó cũng uống một ngụm lại đi lấy nước máy châm thêm, cứ thế uống mãi không hết một chai.  Không đầy một tiếng sau đó họ đã lục tục kéo nhau đi cùng những con chó ốm nhom. Bọn nhỏ đi theo. Chúng nó rất lấy làm lạ khi thấy đoàn mọi không trở về con đường cũ. Hình như họ đã bỏ rừng cũ, định đi đến một vùng núi rừng huyền bí nào khác nữa. Bọn chúng chỉ đi theo vài chặng đường rồi đành đứng lại nhìn theo tiếc ngẩn ngơ. Quay trở về chúng tha hồ vẽ ra trong đầu không biết bao nhiêu là cảnh  rừng rú núi non âm u ghê gớm.  
Những ngày sau đó, mỗi lần nhớ đoàn mọi, tụi nhỏ lại đi lên mấy cái gò cây cỏ mọc hoang rậm rạp cầm ná cao su làm bộ đuổi theo heo rừng tưởng tượng, gặp chim sâu nhỏ xíu bằng ngón chân cái là cùng nhau chỉa ná bắn, trúng, không biết ai bắn trúng, tranh nhau nhổ lông, xẻ bụng kiếm lửa nướng lên chia nhau ăn, đứa cái cánh, đứa cái đùi, đứa cái đầu, đứa cái lưng, nhai ngang xương, không bỏ một chút nào. Ăn xong đi kiếm trái mác mác làm món tráng miệng, bóp nhẹ đủ bể làm hai làm ba kêu rốp rốp để lòi cái ruột màu tím gồm một lớp hột trong trong như hột é ngâm nước, ngọt, chua, hăng hăng mùi rừng. Có khi hái được những trái mâm xôi đỏ thắm nằm từng cụm trong đám lá nhám xanh dày cộm to bản. Hoa dại thơm mọc rất nhiều, và cũng có nhiều bướm cánh đủ màu rực rỡ, nhưng chúng nó thích cỏ gà hơn. Trên gò cỏ gà tươi tốt, bặm xị, chúng tha hồ nhổ từng nạm thắt thành nút đá nhau. Chơi trên gò chán lại kéo nhau lên một con dốc gần nhà bưu điện trèo lên mấy cây to mọc hai bên đường hái những trái màu trắng ngà nhỏ như đầu ngón tay mà người ta gọi là trái xa lị, ăn thấy vừa ngọt, vừa chua, vừa chát. Xong rủ nhau đến trước mặt nhà của cái thằng ở cuối phố bẻ đọt hoa hồng bụ bẫm tướt lớp vỏ xanh bên ngoài, ăn cái thân non mềm mại ngọt lợ lợ. Hoặc đến nhà một thằng khác có mở quán bán đường đen coi ong ruồi bay rà rà trên mặt cửa kính thỉnh thoảng nhểu ra giọt mật. Tụi nhỏ ngồi chờ ong bay qua khung cửa kính khác, rồi tranh nhau thò ngón tay quẹt mật ong cho vào mồm mút.
Ăn gì cũng thấy ngon, nhưng cái ao ước tha thiết nhất vẫn là cơm nguội với mắm cá mòi đựng trong cái đãy làm bằng lát lấy ra vắt trong nắm tay cho vào miệng nhai ngon lành.  Phải chi mình là mọi để được ăn như thế! 

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)