Tìm kiếm Blog này

ĐÀM TRUNG PHÁP: THỬ LÝ-GIẢI VÀI ĐẶC-TRƯNG TRONG CÚ-PHÁP TIẾNG VIỆT *

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

 (Mến gửi đồng môn Lưu Văn Vịnh)

Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) thì như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Tứ đưa ra thí dụ dưới đây:
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,    
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.  
Người quốc sắc kẻ thiên tài,       
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.    
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,       
Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.  
Bóng tà như giục cơn buồn,    
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo. 
Dưới cầu nước chảy trong veo,  
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.


Rồi ông Tứ đặt câu hỏi và tự trả lời, để chứng minh cho “cái lợi của tính chất thiếu minh xác trong ngôn ngữ văn chương của ta”:
“Ai nhác thấy? Đành là Kim Trọng, nhưng không nói rõ, thì sao lại không có thể là cả chàng độc giả thư sinh nọ, cảm thông với chàng Kim một cái liếc nhìn? Chập chờn cơn tỉnh cơn mê là ai? Là người quốc sắc hay kẻ thiên tài? Hay cả hai? Luận ra thì biết, song trước khi lý luận, tại sao ta không có quyền nghĩ đến cả hai người? Bóng tà như giục cơn buồn: Nỗi buồn của ai vậy? Của Kim Trọng hay của Thúy Kiều, hay của hai người? Hay cũng là nỗi buồn của ta chăng? Và hai câu cuối: Dưới cầu … thướt tha có phải chỉ là cái tình của Thúy Kiều gửi vào trong cảnh ấy, hay còn phảng phất cả cái tình của người đọc sách nữa?”

Nhưng tôi nhận thấy khi được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh thì các chủ ngữ vô hình bắt buộc phải xuất hiện. Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) trong tác phẩm Kim-Vân-Kiều -Traduction en francais xuất bản năm 1942 (sau khi ông mất) thì cho rằng chủ ngữ của chập chờn cơn tỉnh cơn mê chính là nàng Kiều cho nên đã dịch câu ấy sang Pháp văn thành Kiều flottait entre le rêve et la réalité” và cũng cho rằng bóng tà như giục cơn buồn chỉ áp dụng cho nàng mà thôi, qua câu dịch “La descente du soleil vers l’horizon semblait provoquer chez elle un accès de mélancolie.”

Bốn mươi mốt năm sau (1983), tôi nhận thấy Huỳnh Sanh Thông (1926-2008) trong bản dịch sang tiếng Anh mang tên The Tale of Kiều đã nghĩ khác ông Vĩnh trong hai ngữ cảnh nêu trên. Ông Thông dùng chủ ngữ số nhiều để gồm cả nàng Kiều và chàng Kim vào trong cơn tỉnh cơn mê ấy: They hovered, rapture-bound, ‘tween wake and dream” và không cho nàng Kiều độc quyền thấy cơn buồn đang bị bóng tà giục giã: “The dusk of sunset prompted thoughts of gloom.”  Tôi đoán ông Tứ dưới suối vàng chắc tâm đắc lối dịch của ông Thông hơn lối dịch của ông Vĩnh, vì ông Tứ cho rằng ông Vĩnh “đã hiểu vội vàng, và cũng bị lầm vì cái thiếu minh xác của ngôn ngữ.”


Đó là chuyện cũ. Hôm nay, tôi cũng xin chia sẻ cùng quý vị một chút văn chương của người bạn đồng môn tài hoa của tôi, nhà thơ Lưu Văn Vịnh, cũng là một diễn giả cho hội thảo hôm nay. (Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong lớp Đệ Tam C suốt niên học 1957-1958 tại Trung Học Chu Văn An Saigon). Văn chương bạn tôi cũng cho phép khá nhiều chủ ngữ vắng mặt, nhưng tôi vẫn hiểu rất rõ, vì bạn tôi và tôi đều là người Việt. Thử hỏi trong hai câu lục-bát êm tai được trình bầy thành ba dòng sau đây trích từ thi tập Oang Oang Lòng Chén Rỗng (2007): “Kề vai ở chốn phong sương | Nhìn nhau đáy mắt | đoạn trường hiện ra” thì ai và ai kề vainhìn nhau đáy mắt? Và trong tuyển tập Bốn Lần Leo Núi Tản (2000), có câu bạn tôi viết về chuyến thăm Bích Câu lưu loát trong sáng mà chẳng cần đến một đại từ nhân xưng (personal pronoun) đóng vai chủ ngữ nào cả: “Cuối thế kỷ, một ngày cuối năm, viếng Bích Câu như tới thăm giấc mơ của người xưa, tuy chẳng là cánh bướm, nhưng cứ bay vào những giấc mộng lớn giấc mộng nhỏ, thì giấc mộng lũy thừa nhân lên sẽ mông lung bằng cả cõi tiên vô tận …”  Khi đọc đoạn này tôi thấy như tôi đang được cùng nhà văn họ Lưu viếng Bích Câu, như thể chính bạn tôi và tôi đóng vai chủ ngữ cho các động từ “là”, “viếng”, và “bay” vậy.

Nói một cách chung chung, chủ ngữ tiếng Việt thường vắng mặt trong các trường hợp dưới đây:

Khi câu bắt đầu bằng một động từ hiện hữu như hoặc còn:
vấn đề rồi!
Còn nước còn tát.
người khách ở viễn phương. (Truyện Kiều)
Còn về còn nhớ đến người hôm nay. (Truyện Kiều) 


Khi câu là một tục ngữ :

Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Khi câu là một độc thoại :

Mệt quá rồi, nghỉ một chút. Lát nữa làm tiếp.

Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân mà chỉ ngữ cảnh mới có thể xác định ai là ai :

Đang làm gì đấy?    -  Đọc sách.
Lãnh lương chưa?   -  Lãnh sáng nay rồi.

Khi câu là một trao đổi giữa hai cá nhân chưa xác định được mối liên hệ xưng hô phù hợp :

Đi đâu đấy mà đẹp thế? Đứng lại cho hỏi thăm một chút được không?

Khi câu là một trả lời cho một câu hỏi thuộc dạng có / không (yes / no question) :

Anh có muốn nghỉ không?   -  Muốn!
Bạn đã hiểu chưa?   -  Hiểu rồi.
Ông Nam có chịu điều kiện đó không?  -  Chịu mạnh đi chứ!

Khi câu là một lời ra lệnh :
Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa (Nguyên Sa)

Liên hệ lỏng lẻo giữa các mệnh đề

Một số mệnh đề độc lập có thể được viết kề cận nhau mà không thấy có những liên từ nối những mệnh đề ấy cho thêm rõ nghĩa, như trong các thí dụ sau đây :
Trời mưa to quá, vùng đất thấp dưới kia có thể bị ngập lụt, cư dân lo lắm.
Chúng tôi đến nơi, họ đang cãi nhau to tiếng, chúng tôi hết sức can ngăn nhưng chẳng ăn thua gì, đành phải bỏ về, lòng buồn vô cùng.

 [Viết tiếng Anh theo kiểu Việt như trên thì chúng sẽ bị các giáo sư người Anh người Mỹ sổ toẹt, vì phạm lỗi run-on sentences. Tất cả là do có sự khác biệt tu từ (rhetorical difference) giữa tiếng Việt và tiếng Anh].

Tiếng Việt có đầy đủ các liên từ diễn tả các mối liên hệ giữa mệnh đề chính và phụ, như vì, bởi vì để chỉ lý do ; để, để cho để chỉ mục đích ; giá, giá mà để chỉ giả thiết ; nếu, nếu như để chỉ điều kiện, vân vân. Khác chăng thì tiếng Việt có khuynh hướng ít dùng liên từ hơn là các ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh. Nhưng, đây mới là một nghịch lý thú vị của tiếng Việt : Khi một liên từ được dùng cho mệnh đề phụ thì mệnh đề chính cũng có khuynh hướng sử dụng một tiểu từ để giữ quân bình cho cấu trúc -- tức là còn kỹ lưỡng hơn tiếng Pháp, tiếng Anh. Quả vậy, khi một câu phức tạp tiếng Việt bắt đầu bằng mệnh đề phụ sử dụng một trong các liên từ vì /tuy/ nếu thì mệnh đề chính thường bắt đầu bằng một trong các “từ quân bình” (balance words) nên / nhưng/ thì, như trong các thí dụ sau đây: (1a) nó kiêu ngạo, nên nó không có bạn. (2a) Tuy họ nghèo, nhưng họ rất hạnh phúc. (3a) Nếu anh yêu em thực lòng, thì anh phải cưới em ngay đi chứ !

Khuynh hướng kỹ lưỡng nêu trên cũng thấy trong văn chương bác học :
Dẫu chẳng phải ngọc ngà kỳ dị, 
Nhưng cũng trong ý nhị thanh tân. (Bần Nữ Thán)
Nếu thi gan với anh hùng thì thua. (Phan Trần)

[Nếu vô tình để khía cạnh cú pháp này của tiếng Việt ảnh hưởng lối viết tiếng Anh, người Việt chúng ta có khuynh hướng viết ra các câu bất cập sau đây: (1b) Because he is arrogant, so he has no friends. (2b) Although they are poor, but they are very happy. (3b) If you love me, then you must marry me at once!].

Tới đây tôi xin nói lên nhận xét là những người Việt thông thạo tiếng Pháp hoặc tiếng Anh có khuynh hướng cho ảnh hưởng văn pháp hai thứ tiếng ấy vào tiếng Việt khiến cho câu văn tiếng Việt của họ đỡ bị chê là không có chủ từ, hoặc chủ từ mù mờ, hoặc thiếu phần mạch lạc vì tránh dùng liên từ trong câu phức tạp. Vì vậy, họ có thể chuyển câu “Trời mưa to quá, chúng tôi quyết định ở nhà” thành ra “Vì trời mưa to quá, (cho nên) chúng tôi quyết định ở nhà” và câu “Các anh cười khúc khích làm em ngượng quá đi” thành ra “Cái cười khúc khích của các anh làm em ngượng quá đi.”

Cấu trúc đề / thuyết
Cấu trúc của một câu tối thiểu trong ngôn ngữ nào cũng gồm hai yếu tố là chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate). Chủ ngữ thông báo một đề (topic) và vị ngữ cung cấp một thuyết (comment) tức là một nhận định về đề ấy. Mối liên hệ chủ ngữ / vị ngữ và đề / thuyết được thấy rõ rệt trong các câu “Trời / mưa” và “Anh Tám / mới lấy vợ hôm qua.” Nhưng không phải lúc nào chủ ngữ cũng trùng hợp với đề đâu. Chẳng hạn trong câu (1) “Chiếc xe này / chạy ngon lắm” và (2) “Chiếc xe này / tôi mua lâu rồi” thì “Chiếc xe này” vừa là chủ ngữ vừa là đề trong câu (1), nhưng chỉ là đề và đóng vai túc từ cho động từ mua trong yếu tố thuyết của câu (2). Hơn nữa, đề luôn luôn xuất hiện ở đầu câu, trong khi chủ ngữ có thể xuất hiện ở đầu hoặc cuối câu (thí dụ, trong câu này thì chủ ngữ nằm ở cuối câu: “Giữa phòng khách lù lù một dương cầm”).

Đề cũng có thể được coi như một “chủ ngữ tâm lý” trong câu vì nó sửa soạn trí tuệ cho sự đón nhận thông điệp của phần thuyết. Tiếng Nhật luôn luôn đánh dấu chủ ngữ và đề bằng các tiểu từ (particles) gawa, thí dụ:
Neko ga sakana o tabemashita.    
[Mèo (chủ ngữ) cá (túc từ) đã ăn = Mèo đã ăn cá].
John wa san-nen-sei desu.         
[John (đề) tam-niên-sinh là = Còn về John, thì anh ta là sinh viên năm thứ ba].
Tiếng Việt cũng có khuynh hướng dùng cấu trúc đề / thuyết, với tiểu từ thì đánh dấu cấu trúc này, như thí dụ dưới đây:
Chuyện ấy / thì sáng mai ta sẽ bàn lại với nhau.
Ngoài ra cũng có các cách giới thiệu cấu trúc đề / thuyết sử dụng các phương tiện từ vựng và cú pháp đặc thù như trong các thí dụ sau đây:
Cái anh chàng ấy hả / trời ơi, keo kiệt lắm đấy!
Tám Mập và Út Sẹo có lấy nhau không / xin xem hồi sau sẽ rõ.
Riêng tôi / tôi rất mê những bài ca vọng cổ.
Nỗi nàng / tai nạn đã đầy   
Nỗi chàng Kim Trọng / bấy chầy mới thương (Truyện Kiều)
Áo nàng vàng / tôi về yêu hoa cúc   
Áo nàng xanh / tôi mến lá sân trường (Nguyên Sa)


Có lẽ vai trò “chủ ngữ tâm lý” của yếu tố đề trong cấu trúc đề / thuyết đã giúp tiếng Việt vẫn dễ hiểu bất kể các nhược điểm như chủ ngữ thiếu vắng hoặc mù mờ và sự lỏng lẻo trong mối liên hệ giữa các mệnh đề như đã giải thích ở trên. Riêng trong thể lục-bát của thi ca Việt Nam, câu lục thường đóng vai đề và câu bát đóng vai thuyết, như trong các câu thơ sau đây:
Trăm năm trong cõi người ta (đề)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (thuyết) (Truyện Kiều)
Trước đèn xem truyện Tây Minh (đề)      
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le (thuyết)     
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe (đề) 
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau (thuyết) (Lục Vân Tiên)

Như vậy, qua nhận định này, đồng môn Lưu Văn Vịnh của tôi cũng đã sử dụng cú pháp đề / thuyết khi viết câu hai câu lục-bát êm tai nhưng cũng đượm mầu bi quan của anh:
Kề vai ở chốn phong sương (đề)         
Nhìn nhau đáy mắt đoạn trường hiện ra (thuyết)
Kính chào quý vị và cảm ơn quý vị đã lắng nghe.


Tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Vĩnh (1942). Kim-Vân-Kiều – Traduction en francais. Éditions Alexandre de Rhodes, Hà Nội (346 trang). Phổ biến trên Internet [www.ndclnh-mytho-usa.org].                                             Đoàn Phú Tứ (1949). “Đi Tìm Chủ Từ Trong Vài Đoạn Văn Đoạn Trường Tân Thanh.” In trong sách Nguyễn Du: Về Tác Giả Và Tác Phẩm (1999). Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Việt Nam.
Hà Như Chi (1970). Việt Nam Thi Văn Giảng Luận. Nhà Xuất Bản Sống Mới, Saigon.
Huỳnh Sanh Thông (1983). The Tale of Kiều. Yale University Press, New Haven and London.
Nguyễn Đình Hòa (1997). Vietnamese – Tiếng Việt Không Son Phấn. John Benjamins Publishing Company, Amsterdam and Philadelphia.
Nguyên Sa (2000). Thơ Nguyên Sa Toàn Tập. Nhà Xuất Bản Đời, Irvine, California.
Lưu Văn Vịnh (2000). Bốn Lần Leo Núi Tản. Hạ Long Thư Các, Elridge, California.
Lưu Văn Vịnh (2007). Oang Oang Lòng Chén Rỗng. Ổ Văn Hạ Long, Elridge, California.

* Thuyết trình tại Hội ThảoVăn Hóa Việt Nam 10 tháng 9, 2010 tại San José State University.                                                                                                        

ĐÀM TRUNG PHÁP

1 nhận xét

  1. Cám ơn bạn- Thoắt đã 6 năm từ khi Hội Thảo VH ở SJ. Đề nghị bạn viết một bài về chuyện học chữ Nho từ tiểu học đang tranh cãi ở VN hiện tại. Nếu từ Hán đã Viết hoá rồi thì có cần phải học chữ Hán không hay nên dành cho chuyên gia khảo cứu như người Anh, Pháp học khảo tử ngữ Hy La.

    Trả lờiXóa

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)