Trùng Dương giới thiệu: Hồi ký “Phóng viên chiến trường – Tình yêu, Ngục tù & Vượt biển” của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy

Thứ Bảy, ngày 17 tháng 9 năm 2016


Tác giả Vũ Thanh Thủy và Dương Phục trả lời khán giả trong buổi ra mắt sách cuốn hồi ký “Phóng Viên Chiến Trường: Tình Yêu, Ngục Tù & Vuợt Biển” tại phòng hội Quận hạt Santa Clara (San Jose), ngày 11 tháng 9, 2016. Buổi ra mắt sách do các ông Vũ Văn Lộc, Huỳnh Lương Thiện và thân hữu tổ chức, và hai MC Nam Lộc và Uyển Diễm điều khiển, với sự tham dự của trên 250 khán giả. Các diễn giả gồm có nhà văn Giao Chỉ, nhà báo Huỳnh Lương Thiện, nhà văn Trùng Dương, phóng viên Thanh Trúc và nhà văn Hà Thúc Sinh. Phần văn nghệ do đoàn Du Ca Bắc Cali đảm trách, và phần ẩm thực do Lee’s Sandwiches cung cấp. Buổi ra mắt sách diễn ra từ 1 đến 4 giờ chiều. (Ảnh Trùng Dương)
Sau đây là bài phát biểu của Ttrùng Dương trong dịp ra mắt cuốn Hồi ký “Phóng Viên Chiến Trường” của cặp ký giả Dương Phục và Vũ Thanh Thủy tại San Jose, ngày 11  tháng 9, 2016.
Xin kính chào quý vị. Xin cám ơn ban tổ chức và hai tác giả đã cho tôi cơ hội góp mặt phát biểu cảm nghĩ hôm nay. Và xin cám ơn hai MC Nam Lộc và Uyển Diễm đã có lời giới thiệu.
Để mở đầu phần giới thiệu hôm nay về cuốn hồi ký như một chứng liệu lịch sử có thể nói là độc đáo này,  tôi xin phép đọc trích đoạn sau đây, một trong những cảnh gây ấn tượng mạnh nhất nơi tôi, và cũng là đầu mối của “đoạn trường” đưa tới tập sách chúng ta đang có trước mặt.


Cảnh này có tựa nhỏ là “Ly Biệt Trên Biển” (trang 97-99):
Ly Biệt Trên Biển
THỦY
Ngay khi nghe Phục xin các ngư phủ cho anh tháp tùng trở về Việt Nam, cha tôi bối rối. Ông cố thuyết phục chúng tôi ở lại, tin là anh sẽ đổi ý khi tàu chúng tôi cập được vào bến tự do.
Nhưng lần này Phục cương quyết nhất định quay về.
Tôi hoảng hốt trước sự đụng độ gay go giữa hai người đàn ông tôi yêu thương nhất. Lòng tôi tan nát rối bời, tôi chỉ biết khóc. Mẹ và anh em tôi cũng vừa sụt sùi vừa khuyên giải mọi người đừng lớn tiếng. Tôi thấy Phục cố tránh không đôi co với cha và anh tôi, nhưng vẫn cương quyết chuẩn bị hành lý để đi về. 
Tôi kinh hoàng hết năn nỉ chồng lại năn nỉ cha mẹ.
Lòng dạ tôi ngổn ngang, đau đớn. 
Mẹ tôi chạy lại ôm lấy Phục, nhất định níu chân không cho anh bước đi. Bà úp khuôn mặt đẫm lệ vào vai Phục. Anh dịu dàng gỡ tay đẩy bà ra, chạy lại ôm lấy bé An khỏi tay tôi và nhảy ngay xuống ghe đánh cá trước khi mọi người trên thuyền cha tôi có thể phản ứng.
Cha tôi quay lại phía tôi, dùng bờ lưng của ông che khuất ánh mắt tôi nhìn về hướng chồng. Ông lớn tiếng:
– Ba không thể để con tự sát bằng cách trở về Việt Nam. Con thường hành xử theo lý trí, đừng làm chuyện rồ dại mà quay về.
Cha tôi ôm hai vai tôi lắc mạnh và nhìn thẳng vào mắt tôi như để cố kéo tôi về với thực tế. Tôi tê dại như người bị thôi miên, nước mắt chảy dài trên má, hoảng hốt hết nhìn theo chồng con lại nhìn cha, tôi vừa gỡ tay cha, miệng vừa van xin:– Ba ơi, cho con về! Ba đừng ép con.  
Mẹ tôi biết không đời nào tôi có thể đi khi chồng con đã rời thuyền. Bà chạy lại, ôm tôi và can thiệp với chồng:
– Thôi, anh để con đi theo chồng con nó. 
Cha tôi quay lưng bỏ đi về phía cuối tàu. Tôi nức nở ôm mẹ từ biệt, rồi chạy lại ôm anh Báu và em Thoa. Ba anh em vừa ôm nhau vừa khóc. Rồi tôi quay nhìn về hướng cha tôi, cúi đầu tạ lỗi qua hàng nước mắt trước khi leo xuống ghe đánh cá đứng bên cạnh chồng.  
Tôi ôm lại bé An từ tay Phục và ôm bé thật chặt trong vòng tay, nước mắt vẫn tuôn tràn. Lòng tôi tan nát như bị dao cắt thành trăm mảnh.
[…]
Và đây là từ góc nhìn của Dương Phục, cũng là lời giải thích cho quyết định ở lại:
PHỤC
Tôi cảm thấy đau lòng, biết vợ tôi rất thân thiết với gia đình, nhất là yêu quý cha. Tôi liếc nhìn Thủy bằng khóe mắt để dò chừng phản ứng của Thủy. Nước mắt vẫn tuôn trào trên má, Thủy đứng thẳng người bên tôi, tay ôm chặt bé An nhưng mắt đăm đăm nhìn về hướng cha mẹ. 
Hai vợ chồng tôi im lặng, không nói một lời nào trên suốt chặng đường trở về Việt Nam. Tôi chỉ có thể đoán là đầu óc Thủy đang tràn ngập những ý nghĩ đau buồn. Lo lắng cho trạng thái tinh thần của Thủy nhưng đồng thời, tôi mong ước vợ tôi chia xẻ nỗi xúc cảm của tôi khi chọn lựa trở về thay vì ra đi.  
Tôi hy vọng vì Thủy cũng là một ký giả, Thủy cũng không ngại làm chứng nhân cho lịch sử và không sợ đương đầu với những thử thách dưới chế độ Cộng Sản. Tôi tin rằng dù gì thì miền Nam và miền Bắc cũng cùng là người Việt Nam, đâu còn lý do gì để hằn thù nhau.  
Mặc dù lý trí tôi biết rằng ra đi để tìm tương lai tốt đẹp hơn cho con tôi tại một thế giới tự do là điều khôn ngoan hơn, nhưng trái tim tôi thuộc về quê hương Việt Nam. Tôi tin rằng chúng tôi cần phải chia xẻ với số phận của đất nước tôi. Hơn nữa, chúng tôi không cô đơn. Hàng triệu người dân miền Nam cũng đang cùng chung số phận. 
Tôi nghĩ tôi đã quyết định đúng. Tôi phải tin như vậy. [Ngưng trích]
Từ ngày bước vào tuổi 70, nhìn lại đời mình, tôi phải chấp nhận là thực sự có một bàn tay vô hình, mà ta gọi là Định Mệnh, sắp sẵn hết cả, có đi đâu chơi lạc thì rồi cũng bị “dẫn độ” trở lại con đường đã vạch sẵn cho mình. Tin vào Định Mệnh song không có nghĩa là phó mặc, là thụ động, để muốn ra sao thì ra. Tôi quan niệm những lần “cãi lại” và đi chệch khỏi con đường đã vạch sẵn đó là những lần cho ta dịp thu góp thêm kinh nghiệm, và đời mình thêm phong phú. Mà đối với người cầm bút, trong văn chương cũng như báo chí, kinh nghiệm nào cũng là những cái vốn liếng quý báu không thể mua được bằng bất cứ giá nào.
Và Định Mệnh đã khiến Phục ôm lấy đứa con nhỏ trên tay Thủy trước khi nhẩy sang thuyền đánh cá sẽ đưa anh trở lại Việt Nam, và có lẽ vì thế khiến Thủy càng dứt khoát theo anh trở về vì hiển nhiên không người mẹ nào nỡ bỏ con để ra đi một mình, mặc những níu kéo, khóc lóc van xin của cha mẹ và anh chị em. Và Thủy ở lại, để trở thành người bảo bọc cho Phục trong suốt mấy năm trời, từ thăm nuôi trong trại tù cộng sản, dàn dựng cho Phục trốn trại, che chở cho Phục những năm trốn chui trốn nhủi ở Sàigòn, cùng dàn xếp những chuyến vượt biên cho cả gia đình, từ ba người đã thành bốn, với thêm một bé gái nữa. Và ngược lại, Phục đã đùm bọc cho Thủy trong khả năng giới hạn của anh những ngày bị hải tặc giam giữ bạo hành trên đảo Koh Kra heo hút trong Vịnh Thái Lan, giữa những nạn nhân hải tặc khác có lẽ không đủ sức, nếu còn tí sức nào, để lo cho ai khác ngoài mình và người thân.
Chuyện của Phục và Thủy, tôi đã được nghe từ những ngày họ còn ở trong trại tị nạn ở Thái Lan, qua những tờ giấy pelure mỏng mầu xanh da trời chữ đánh máy chi chít nhận được qua bưu điện vào cuối thập niên 1970. Qua cơn bĩ cực, rồi cuối cùng họ tới được đất Mỹ. Nhưng không quên lời tự hứa khi còn trên hòn đảo oan nghiệt, là phải tìm cách trở lại vùng biển đã từng chôn vùi hàng trăm ngàn người vượt biển đi tìm tự do. Và anh chị đã thay phiên nhau trở lại vùng biển Đông Nam Á trên những con tầu đi tìm vớt những người vượt biển thời ấy.
Quen biết Phục từ trước 1975, nhưng tôi chỉ thực sự gặp và chuyện trò với Thủy lần đầu khi ghé San Diego thăm gia đình. Tôi dần trở nên gần gũi với Thủy hơn, đặc biệt trong thời gian hè năm 1988 khi tôi xuống tập sự nghề báo tại tờ The San Diego Tribune-Union, nơi Thủy làm việc trong phòng tin tức. Chúng tôi thường gặp nhau ăn trưa ở cafeteria của toà báo. Và trở nên thân thiết từ đó. Ngoài những câu chuyện nghề nghiệp, chúng tôi còn trao đổi nhiều chuyện tâm tình. Tôi được biết tới những phấn đấu của Phục trong cuộc sống ở đây, như nhiều người đàn ông Việt khác ở lứa tuổi tôi hay lớn hơn.
Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để nói lên cảm nghĩ của tôi về những ảnh hưởng đáng kể của xã hội Mỹ trên mỗi đời tị nạn chúng ta, nhất là quý vị thuộc phái nam. Chúng ta tới đây, ngoài cái đau thương bị mất quê hương, xa những người thân yêu và bằng hữu còn kẹt lại, xa lìa cội nguồn đã cưu mang, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của chúng ta. Song có lẽ cái đau xót hơn cả, đó là chúng ta bị mất đi cái căn cước (identity) của mình. Cái đau đớn vì mất căn cước đối với người đàn ông Việt chúng ta có lẽ nặng nề hơn là nơi người phụ nữ.
Đâu đó tôi đã đọc một tài liệu về những người Nam Mỹ di cư sang Tây Ban Nha lánh nạn thời một số nước ở Nam Mỹ bị nạn quân phiệt. Họ tới định cư ở Tây Ban Nha vì nước này cùng ngôn ngữ, bớt đi một khó khăn cho việc hội nhập. Tuy vậy, nhiều người đàn ông Nam Mỹ vẫn khó thích nghi vào xã hội định cư hơn phụ nữ. Một trong những lý do là người phụ nữ tới một nước Tây phương thì như cá gặp nước vì xã hội Tây phương vốn tôn trọng đàn bà, cho họ nhiều cơ hội để phát triển, tiến thân, và đặc biệt tạo được sự tự lập về kinh tế. Trong khi đó đàn ông phần lớn không có được như vậy. Nhiều người trở nên cay đắng, chua chát. Do đấy mà đã có nhiều đổ vỡ gia đình.
Nhiều gia đình Việt Nam tại Mỹ cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Tuy nhiên, và đây là điều tôi muốn nhấn mạnh, tôi thấy ở Thủy một đức tính rất đáng ngưỡng mộ, đó là sự tế nhị, mềm mỏng và kiên trì trong những nỗ lực duy trì, bảo vệ đời sống lứa đôi và gia đình. Được như vậy, tôi nghĩ là nhờ Thủy cũng còn có một hệ thống hỗ trợ vững chắc từ cha mẹ và các anh chị em, bên cạnh một đức tin sâu xa ở đạo Thiên Chúa của chị. Song trên tất cả, có lẽ phải kể tới những kỷ niệm chung mà anh chị đã trải qua với nhau, từ những ngày gặp nhau khi hành nghề phóng viên chiến trường, những ngày khốn khổ vượt ngục, chui trốn, rồi vượt biển và lâm nạn hải tặc. Khối hoài niệm chung ấy làm sao chia sẻ được với ai khác ngoài người đã cùng trải nghiệm với mình. Những suy tư đó chắc phải đã đến với Thủy ở những lần đi tĩnh tâm tìm cho mình một hướng đi.
Rồi tôi được tin Thủy bỏ việc làm tại tờ The Union-Tribune có nhiều bảo đảm, nhất là chương trnh bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình, lúc này đã thêm ba bé gái nữa. Và hai anh chị dọn qua Houston thử thời vận trong ngành phát thanh, nguyên là nghề của cả chàng và nàng. Và họ đã thành công.
Rồi anh chị còn viết chung với nhau một cuốn sách nữa. Với tôi, viết, bất cứ viết gì, là một hành trình đơn độc, không chia sẻ được, hoặc không biết chia sẻ ra sao, nói chi tới viết chung. Nhưng Phục và Thủy lại một lần nữa đã thành công, đó là hoàn tất cuốn hồi ký mà tôi chắc là đã phải “mang nặng đẻ đau” này. Cách thức dùng hai góc nhìn (points of view) để kể lại một giai đoan hay biến cố ít ai xử dụng, nhưng Phục và Thủy đã làm một cách linh động, tạo thích thú cho người đọc.
Viết hồi ký dễ, mà khó. Dễ vì chất liệu, dàn bài theo thứ tự thời gian, tất cả đã sẵn trong đầu trong tim, sôi sục trong huyết quản. Chỉ cần ngồi xuống viết ra. Khó vì, viết về mình trong một bài ngắn độ vài ngày hay một, hai tuần xong thì cũng còn chịu được. Đằng này ngồi đó nhìn đau đáu vào mình cả tháng, cả năm thì làm sao mình không khỏi sẽ… chán ngắt mình. Ít ra đấy là tâm trạng của tôi.
Thế mà anh chị Phục và Thủy đã bỏ ra tới 30 năm viết cuốn hồi ký này. Tôi không khỏi hình dung, dài theo những năm tháng đó, những bàn cãi, tranh biện, có thể cả … giận hờn, về những gì nên hay không nên cho vào cuốn hồi ký. Có thể có cả những lúc muốn bỏ cuộc, không thèm viết nữa, chán lắm rồi. Để rồi, vì con cái khuyến khích, hoặc vì cái gì đó cứ đeo theo tỉ tê, nằn nì, thúc hối. Mình mà không viết, không nói ra thì ai là người sẽ làm cái việc đó đây. Nên lại cầm bút lên tiếp tục.
Xin cám ơn anh chị Phục và Thủy đã cuối cùng hoàn tất cuốn hồi ký ghi lại một giai đọan lịch sử bi thương của đất nước, dân tộc chúng  ta cho các thế hệ con cháu của chúng ta, đặc biệt qua ấn bản tiếng Anh sẽ phát hành trong một tương lai gần.


Xin cám ơn quý vị, ban tổ chức, và hai tác giả.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)