Phan Huy Lê: Cuốn sách ẩn mình một trăm năm

Chủ Nhật, ngày 11 tháng 9 năm 2016

Chúng tôi nghĩ không ai trong chúng ta, qua suốt ba bốn thế hệ từ cuối thế kỷ thứ 19 đến nay đã một lần nhìn thấy cuốn sách này. Dù tên cuốn sách đó thì đối với bất cứ người Việt Nam nào cũng rất đỗi quen thuộc: Lục Vân Tiên. Tất cả như là một sự bí ẩn lạ lùng, giống như những trang sách vừa chữ nôm, vừa chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Anh và những minh họa màu sắc huyền ảo như trong cổ tích, được làm ra chỉ một bản duy nhất và được gửi gắm vào thư viện của Institut de France từ năm 1899. Để biết rõ sự tình, kính mời độc giả xem Lời Nói Đầu của học giả Phan Huy Lê sau đây, khi cuốn sách được đem ra khỏi bóng tối và được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2015. - DĐTK


Lời nói đầu
Phan Huy Lê
Tôi nhớ mãi ngày 30 tháng 9 năm 2011, tôi và vợ tôi được mời vào thăm Thư viện của Viện Pháp (Institut de France) tại Paris cùng với một số bạn đồng nghiệp Pháp trong đó có các học giả Philippe Papin, Pascal Bourdeaux, Andrew Hardy, Marcus Durand. Giám đốc Thư viện là bà Pastoureau đón tiếp rất niềm nở và đặc biệt biết tôi là nhà sử học Việt Nam, bà đã giới thiệu kỹ những kho sách có giá trị về Viễn đông và chọn một số sách, bản đ cổ có liên quan đến Việt Nam bày sẵn trên bàn cho tôi xem. Trong số những sách quý này tôi hết sức ngạc nhiên có cuốn sách dày, ngoài bìa ghi dòng chữ Pháp viết tay: « Histoire de Luc Vân Tien illustrée par Lê Dui Trach, par les soins de E. Gibert, Capitaine dartillerie de marine, sous-directeur dartillerie à Hué (Annam), offert à  l’Académie dans la séance du 26 Mai 1899 », bên trái là ba dòng chữ Hán : “  ...“   (Đồng Khánh nguyên niên xuân, tân san Vân Tiên cổ tích tân truyện, Lăng Vân Đường..., nghĩa là: Mùa xuân năm Đồng Khánh thứ nhất [1886] khắc in lại Vân Tiên cổ tích tân truyện, Lăng Vân Đường...). Bên trong là những trang sách của truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, trên mỗi trang, khối giữa là những dòng chữ Nôm viết từ phải sang trái, từ trên xuống dưới những câu thơ lục bát của tác phẩm và xung quanh là những tranh minh họa nhiều màu sắc. Chỉ lật qua thì tôi đã nhận thấy đây là một văn bản quý của truyện Lục Vân Tiên do một người Việt Nam tên là Lê Đức Trạch (phiên âm sang tiếng Pháp viết không dấu là “Lê Dui Trach”) minh họa và do một sĩ quan người Pháp là Đại úy Gibert tổ chức bản thảo và trao tặng cho Viện Hàn Lâm Văn khắc và Văn chương (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, AIBL) từ ngày 26-5-1899. Cuốn sách đã nằm im trong Thư viện nổi tiếng này của Viện Pháp từ năm 1899, đến nay đã 112 năm, mới có một nhóm học giả Việt-Pháp đến đánh thức. Nhận ra giá trị trên nhiều phương diện của bản thảo này, tôi phát biểu vắn tắt với các đồng nghiệp Pháp về truyện Lục Vân Tiên, giá trị của bản thảo này và hy vọng các học giả Pháp sẽ sớm tổ chức nghiên cứu và công bố bản thảo quý giá này.

Minh họa trang bìa, trang nhan đề và trang đầu của phần chữ nôm

Tôi rất vui mừng khi biết Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (École francaise d’Extrême-Orient, EFEO) đã làm việc với Thư viện Viện Pháp và tổ chức một Dự án nghiên cứu và công bố bản thảo minh họa truyện Lục Vân Tiên của Gibert, do PGS Pascal Bourdeaux phụ trách. Như vậy là sau hơn một thế kỷ được bảo quản rất tốt trong Thư viện Viện Pháp, một bản thảo có minh họa màu truyện Lục Vân Tiên sắp được công bố với những bổ sung mới gồm bài nghiên cứu rất công phu về bản truyện thơ Lục Vân Tiên kèm tranh minh họa chưa từng được xuất bản của Pascal Bourdeaux, bản chữ quốc ngữ, bản dịch tiếng Pháp, tiếng Anh truyện Lục Vân Tiên và những ghi chú (annotations) chọn lọc của hai nhà biên tập, sắp được xuất bản.

Riêng công việc tổ chức bản thảo truyện Lục Vân Tiên từ cuối thế kỷ XIX rồi việc bảo quản tại Thư viện Viện Pháp và việc phát hiện, công bố hiện nay đã là sự hội tụ của nhiều ý tưởng hay, sự gặp gỡ lý thú của nhiều học giả Pháp-Việt hàm chứa nhiều ý nghĩa rất đáng trân trọng. Trước hết là một Đại úy, một kỹ sư trong quân đội Pháp là Eugène Gibert, trong thời gian ngắn ở Huế (từ 15-6-1895 đến 27-9-1897) đã cảm nhận được giá trị của truyện Lục Vân Tiên (có thể qua bản dịch tiếng Pháp của Abel des Michels) rồi đứng ra tổ chức một bản thảo với sự tham gia của Lê Đức Trạch là “thư lại chế họa đồ thức”. Ông này là một nho sĩ, một viên chức làm việc trong một cơ quan chuyên vẽ đồ bản trong cung đình nhà Nguyễn. Đây có thể là một cơ quan trong đội Giám Thành của kinh thành Huế. Dĩ nhiên cùng với Lê Đức Trạch còn có sự tham gia của một số nho sĩ, nghệ nhân viết chữ Nôm và vẽ tranh minh họa. Bản thảo ra đời là xuất phát từ ý tưởng đẹp của Gibert, một sĩ quan, một trí thức Pháp có hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là tấm lòng trân trọng di sản văn hóa Việt Nam và có quan hệ cộng tác với nhiều trí thức, nghệ nhân tại kinh đô Huế. Bản thảo là sản phẩm tổng hợp của những ý tưởng, tình cảm và sự cộng tác thành công đó. Không rõ vì hoàn cảnh và lý do nào (vấn đề cần nghiên cứu thêm), Gibert không thể xuất bản và đã tìm đến Thư viện của Viện Pháp để gửi gắm đứa con tinh thần của mình. Hơn một thế kỷ bảo quản bản thảo cuốn sách, Thư viện đã xứng đáng với niềm tin cậy của tác giả và tạo cơ hội để từ năm 2011 đến nay, một số học giả Pháp-Việt lại chung sức nghiên cứu và công bố bản thảo với những bổ sung và nâng cao về chất lượng.
Truyện Lục Vân Tiên do nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt. Nhà thơ đã bị mù hai mắt từ năm 1849 khi 27 tuổi, gia đình sa sút, phải vừa dạy học vừa làm thuốc để kiếm sống và sáng tác. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Truyện Lục Văn Tiên trong khoảng thời gian từ sau năm 1851 cho đến trước năm 1859. Tác giả không thể chép lại tác phẩm của mình mà chỉ đọc cho học trò và bạn bè, bà con nghe rồi truyền tụng trong cộng đổng và một số người ưa chuộng đã chép lại, mỗi người chép một đoạn theo sở thích và không tránh khỏi cả sự thêm bớt, chỉnh sửa của mình. Truyện Lục Vân Tiên tuy có tác giả nhưng ra đời và lưu truyền qua truyền miệng gần như văn học dân gian. Bản chữ Nôm đầu tiên do Duy Minh Thị thu thập, đính chính và khắc in tại Bảo Hoa Các tàng bản ở Nam Hải, Quảng Đông (Trung Quốc)[1] khoảng năm 1864 và năm 1865 in lại ở Chợ Lớn do hiệu sách Quảng Thạnh Nam xuất bản[2]. Bản phiên âm sang chữ Quốc ngữ đầu tiên của Gustave Ịanneau in tại Sài Gòn năm 1867 rồi in lại ở Paris năm 1873[3]. Năm 1883 Abel des Michels cho xuất bản Lục Vân Tiên ca diễn bằng ba thứ tiếng: chữ Nôm, phiên âm quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp[4]. Một năm sau khi Nguyễn Đình Chiểu mất, năm 1889 Trương Vĩnh Ký đã thu thập, tham khảo các bản và chỉnh lý công phu, cho xuất bản tại Sài Gòn Lục Vân Tiên truyện được coi là văn bản chữ quốc ngữ có giá trị nhất[5]. Sau đó, Truyện Lục Vân Tiên, bản chữ Nôm và quốc ngữ được xuất bản nhiều lần ở trong Nam và ngoài Bắc mà hai trung tâm lớn nhất là Sài Gòn và Hà Nội.
Minh họa trang bìa, trang nhan đề và trang đầu của phần chữ nôm

Giữa các văn bản
Truyện Lục Vân Tiên tuy qua nhiều lần khảo dị, hiệu chỉnh của nhiều học giả, vẫn còn những khác biệt, những vấn đề cẩn nghiên cứu và thảo luận. Một mục tiêu chung được đặt ra cho các học giả nghiên cứu về Truyện Lục Vân Tiên là qua nghiên cứu các văn bản làm sao cố gắng khôi phục một văn bản gắn nhất với nguyên tác của tác giả. Chính trong mục tiêu khoa học đó, bản thảo của Gibert đã cung cấp một văn bản chữ Nôm mang tên “Lăng Vân Đường” mà Lê Đức Trạch đã sử dụng. Tôi chưa rõ nguồn gốc của bản Lăng Vân Đường, nhưng đây là một dị bản Truyện Lục Vân Tiên đóng góp vào công việc nghiên cứu văn bản học của tác phẩm.
Mỗi trang sách được minh họa bằng một số tranh vẽ nhiều màu sắc khá sinh động và gợi cảm. Đây là truyện Nôm đầu tiên của Việt Nam được minh họa đầy đủ như vậy. Rất tiếc tôi chưa có điều kiện xem kỹ và xem toàn bộ bản thảo nên chưa thể phát biểu ý kiến vế nghệ thuật minh họa của bản thảo do Lê Đức Trạch tổ chức theo ý tưởng của Gibert. Tôi có cảm nhận bước đẩu, những tranh vẽ này mang ảnh hưởng hay có nguồn gốc từ tranh dân gian Việt Nam, nhất là dòng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Vấn đề cần nghiên cứu so sánh cụ thể nhưng rõ ràng đây là một nguồn tư liệu quý mở ra khả năng nghiên cứu nghệ thuật minh họa sách với nguồn gốc và phong cách nghệ thuật của nó
Truyện Lục Vân Tiên từ khi mới ra đời đã được nhân dân Nam Bộ đón nhận với tinh thần hết sức say mê và nhanh chóng được truyền bá rộng rãi. Trong lịch sử văn học Việt Nam, khởi đầu từ thế kỷ XVII và phát triển mạnh trong thế kỷ XVIII-XIX là các truyện thơ Nôm dài mang tính chất của một loại hình tiểu thuyết bằng thơ, nhất là thể thơ lục bát truyền thống. Trong các tác phẩm truyện thơ Nôm dài này, Truyện Kiều của Nguyễn Du và Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là hai tác phẩm phổ biến sâu rộng nhất trong nước. Truyện Kiều từ min Bắc lan rộng vào miền Nam. Truyện Lục Vân Tiên từ trong Nam phổ biến dần ra Bắc. Người dân miền Nam, trước hết là Nam Bộ tìm thấy trong Truyện Lục Vân Tiên những nhân vật đại diện gn như đủ các hạng người trong xã hội hiện thực của mình và trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái tốt và cái xấu, cái hay và cái dở, cái nhân nghĩa và cái tàn bạo, cuối cùng đạo lý và nhân phẩm đã thắng. Những nhân vật tiêu biểu của truyện cũng là những mẫu người lý tưởng mà nhân dân miến Nam ngưỡng mộ, tôn thờ trong một cuộc sống chất phác, trung thực, trọng nghĩa khinh tài, trong một xã hội mà giáo lý của Nho giáo chưa thấm sâu và tập tục, truyền thống dân dã vẫn giữ vai trò chi phối. Cư dân Nam Bộ, ngoài một bộ phận người Xtiêng, người Chu Ru, người Mạ, người Khmer, người Chăm có mặt từ trước, đại bộ phận là người Việt di từ miền Trung vào khai phá, biến những vùng sình ly đất hoang thành đng ruộng, thôn ấp. Một bộ phận người Hoa không phục tùng nền thống trị nhà Thanh cũng di cư từ Trung Quốc vào đây, góp phn vào sự nghiệp khai phá vùng đất phương Nam này. Ri một bộ phận quân đội được tổ chức khai phá đồn đin, rồi tội nhân bị đày vào đây. Nguồn gốc dân, công cuộc khai phá đất hoang và cảnh quan sông nước mênh mông vùng đất phương Nam tạo nên lối sống, nếp nghĩ và phong cách, cá tính riêng của người dân Nam Bộ. Họ sống phóng khoáng, tự do, cởi mở, không bị gò bó trong những khuôn mẫu xã hội hay đạo lý đúc sẵn. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho trung thành với những nguyên lý đạo đức Nho giáo, nhưng là một trí thức Nam Bộ, ông kết hợp Nho giáo với Phật giáo, Đạo giáo và đại diện cho những tính cách, truyn thống của người dân Nam Bộ. Khi Nam Bộ bước vào cuộc đấu tranh chống xâm lược của thực dân Pháp, Nguyễn Đình Chiểu dù bị mù, vẫn tham gia bàn mưu cơ với một số thủ lĩnh nghĩa quân và đã dùng thơ văn làm vũ khí chiến đấu rất kiên cường, vừa ngợi ca các nghĩa sĩ chống ngoại xâm, vừa phê phán gay gắt những kẻ phản bội. Tinh thn yêu nước, ý chí chống ngoại xâm được tích hợp và phát huy cao độ trong con người và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Đó là những cơ sở và lý do sâu xa cắt nghĩa tấm lòng của nhân dân Nam Bộ và nhân dân Việt Nam giành cho nhà thơ mù, đng thời cũng lý giải tính phổ biến của Truyện Lục Vân Tiên trong nhân dân Nam Bộ.
Nhân dịp xuất bản công trình Truyện Lục Vân Tiên do Gibert đã chuẩn bị từ cuối thế kỷ XIX, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thư viện Viện Pháp đã giữ gìn một di sản văn hóa quý giá của Việt Nam, bày tỏ sự hoan nghênh nhiệt liệt nhất đến Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) cùng các học giả Pháp, Việt đã tham gia vào việc nghiên cứu và công bố bản thảo Truyện Lục Vân Tiên minh họa quý giá này. Cuối cùng tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS TS Pascal Bourdeaux và PGS TS Olivier Tessier đã có nhã ý mời tôi viết Lời nói đầu này.
Hà Nội ngày đu thu năm 2015GS Sử học Phan Huy Lê
Chủ tịch Hội 
Khoa Học Lịch sử Việt Nam

[1] Nguyễn Quảng Tuân, Lục Vân Tiên. Bản Nôm và bản chữ quốc ngữ cổ nhất (So sánh hai văn bản Lục Vân Tiên cổ nhất là bản Duy Minh Thị, Bảo Hoa các tàng bản và bản Trương Vĩnh Ký năm 1889), Hà Nội, Nxb Văn học, 2008.
[2] Lục Vân Tiên. Bản in chữ Nôm do Duy Minh Thị sao lục, Tôn Thọ Tường trông nom in, Chợ Lởn, hiệu sách Quảng Thạnh Nam, 1865.
[3] Janneau, Gustave, Lục Vân Tiên : poème populaire annamite transcrit pour la première fois en caractères latins avec de nombreuses notes explicatives par G. Janneau, Paris, Challamel ainé, 1873.
[4] Des Michels, Abel, Lục Vân Tiên ca diễn. Texte en caractères figuratifs, transcription en caractères latins et traduction par Abel des Michels, Paris, E. Leroux, 1883.
[5] Trương Vĩnh Ký, P.J.B., Lục Vân Tiên truyện : poèmes populaires annamites transcrits en quốc-ngữ, précédés d’un résumé analytique du sujet de chacun par P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, Claude et Ce, 1889.
***

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)