Đàm luận giữa Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng: họp tan, tan họp

Chủ Nhật, ngày 25 tháng 9 năm 2016

NGUYỄN XUÂN HOÀNG (N.X.H.): Kỳ trước nói xấu ti-vi đã đời, kỳ này chúng ta nói về cái gì nhỉ?
VÕ PHIẾN (V.P.): Về những chuyện ông Quayle viết chính tả, chuyện ông Đỗ Quí Toàn lấn đất giành dân v.v... Được không?
N.X.H.: Ủa, Đỗ Quí Toàn hiền khô, ngày ngày ngồi thiền ở làng Cây Phong; ổng lấn đất giành dân hồi nào? ai loan tin đồn nhảm vậy cà?
V.P.: Không có gì để la hoảng lên như thế. Ổng muốn dạy con nên người Việt, tốt thôi. Ổng dặn con đừng mở ti-vi trong giờ ăn. Giờ ăn thì “mời anh ti-vi đi chỗ khác chơi”, kẻo mất cha mất mẹ. Mở ti-vi lên, trẻ con bị cuốn hút vào đám nhân vật nhốn nháo trên màn ảnh, còn mắt đâu trông thấy cha mẹ ngồi cạnh bên mình nữa? (Và các bậc cha mẹ e cũng có khi bị cuốn luôn vào ti-vi, mà quên mất con.) Cha mẹ muốn giữ con cái, con cái muốn giữ lấy cha mẹ, thì phải tranh nhau với kẻ cướp, là cái ti-vi. Gian nan đa. Một cuộc thăm dò năm 1991 cho biết nửa số người Mỹ xem ti-vi vào bữa ăn chiều. Bên ti-vi chiếm một nửa, bên ông Đỗ chiếm một nửa: Hiện thời đôi bên tạm ngừng lại ở bờ sông Bến Hải. Không khéo lấn e có ngày bị đẩy xuống tận mũi Cà Mau, rồi di tản luôn; ai nỡ trách ông Đỗ hung hăng trong sự giành lấn?

N.X.H.: À!
V.P.: Còn ông Quayle. Ông ta nổi danh đột ngột vào cuối nhiệm kỳ nhân một củ khoai tây. Cả nước cười rộ lên một cách nông nổi. Tôi chịu những suy tưởng thâm trầm của một ký giả lão thành, ông cụ Jack Smith, báo Los Angeles Times. Viết báo từ buổi thanh xuân cho đến tận cuối đời, ông cụ nhận thấy ngày nay trên mặt báo có nhiều lầm lộn về những tiếng đồng âm hơn xưa. Bèn ngẫm nghĩ và tìm ra ba nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu, trước tiên là: cái học ngày nay chuyên về tai nghe hơn mắt đọc. Trên trang sách, chữ sea khác hẳn chữ see, chữ piece trông khác hẳn chữ peace; nhưng đối với lỗ tai thì tiếng nọ nghe cũng tựa như tiếng kia thôi. Nghe riết rồi lẫn lộn là phải, nếu không có dịp thường xuyên đối chiếu với chữ viết.
Chuyện gì xảy đến cho kẻ phạm lỗi chính tả cũng tương tự như chuyện xảy đến cho người lẫn lộn chữ đồng âm. Lâu ngày không nhìn đến, củ potato nó có mọc thêm ra một cái mụt e, cũng dễ hiểu thôi.
Trong vòng hăm lăm năm nay ở Mỹ ngôn ngữ nó chịu nhiều nỗi thiệt hại, chứ không phải chỉ có những vụ lẻ tẻ như viết sai viết lộn mà thôi. Ngữ pháp, cú pháp lỏng lẻo dần, cách diễn đạt của giới trẻ có vẻ khó khăn dần. Năm 1968 điểm trung bình của kỳ thi SAT về Anh văn cho học sinh trung học là 466; năm 1991, trụt xuống 422. Thành tích của thế hệ trẻ ti-vi yếu thấy rõ...
N.X.H.: Ơ kìa! Thì ra đâu phải chuyện ông nọ ông kia? Ông lại tiếp tục chỉa mũi dùi vào cái ti-vi nữa rồi.
V.P.: Vào gã mặt vuông, chính gã! Ngoài ra, việc gì tôi đi gây sự với ông nọ ông kia?
N.X.H.: Mối ác cảm dai dẳng của ông đối với máy truyền hình e bất công.
V.P.: “Ác cảm”, “chỉa mũi dùi”: ông bất công đối với tôi nhé. Tôi không kết tội ti-vi, tôi không nghĩ sự xuất hiện của nó là một báo hiệu trời sập v.v... Ông đã biết mà, có những tên tuổi lớn từng lên án nó nặng nề chứ, từng tiên đoán nó sẽ gây sụp đổ cả một nền văn minh. Nhưng tôi là thứ gì mà dám hùng hổ như thế? Nó tốt hay xấu, tương lai văn minh ra sao? tôi không dám nói đến. Chẳng qua chỉ thấy rằng gã mặt vuông là một yếu tố hướng quần chúng thưởng ngoạn vào một chiều hướng khác, tạo một tâm lý, một thái độ thưởng ngoạn khác, hoàn toàn không thuận lợi cho sự thưởng thức tác phẩm văn nghệ dưới dạng thức hiện nay.
N.X.H.: Cái đó, chúng ta đã nói rồi, trong kỳ trước...
V.P.: Tất nhiên cái gì đã nói rồi không nên nói lại. Thời này vội vàng mà ông. Nhưng hôm trước chúng ta nói về một khía cạnh, hôm nay xin nêu lên một khía cạnh khác của vấn đề.
Tức vấn đề nhập bọn với nhân vật ti-vi.
Ông Đỗ Quí Toàn lo lắng là phải. Nhân vật ti-vi không như nhân vật tiểu thuyết. Nhân vật tiểu thuyết bị nhốt kỹ trong tiểu thuyết; còn nhân vật ti-vi họ tràn cả ra ngoài đời, họ đánh bè đánh bạn với khán giả, với người ngoài đời. Vào những giờ nhất định, những ngày nhất định, họ gặp nhau: khán giả và nhân vật. Họ gặp nhau đều đều, sai một cái hẹn là tiếc hùi hụi, họ chia xẻ những giờ phút thích thú với nhau, tháng này sang tháng kia, suốt năm này sang năm nọ. Nhân vật của những chương trình nổi tiếng Dallas, The Fugitive, MASH, Cheers, Murphy Brown v.v... họ thành quen thuộc, rồi thành bạn keo sơn của khán giả. Ngày chia tay vĩnh biệt, họ xót xa đau đớn: đêm cuối cùng của Cheers, người xem chừng 120 triệu. Nửa nước, còn gì!
Những chương trình như MASH, như Cheers, thọ tới mười một năm, nhân vật và khán giả sống quấn quít với nhau trong một thời gian dài. Trong thời gian ấy có thể có những vai nam lúc đầu trẻ trung về sau đã bắt đầu rụng tóc, những vai nữ mới độ nào thon thả giờ đã có mòi nặng nề v.v... Người ngồi xem có thể trao đổi với nhau:
— Nè, coi con bé X. kìa. Độ này năm ngoái nó còn mỏng dính; nó dậy mẩy hồi nào, bây giờ lớn xộ...
— Ờ, con nhỏ càng lớn càng... coi được. Chừng vài năm nữa, phải biết...
Nói không giống như nói về một “nhân vật” giả tưởng, mà như thể là nói về một con cháu trong gia đình đi học xa lâu ngày vừa gặp lại.
N.X.H.: Nhân đây cũng nên để ý là cái khung cảnh xem ti-vi nó cũng làm cho mọi người gần gũi nhau. Ý tôi muốn nói giữa khán giả với khán giả, chứ không phải giữa nhân vật với khán giả. Nằm đọc truyện, mỗi người một mình, cười thầm hay lặng lẽ khóc một mình. Còn xem ti-vi, có khi cả gia đình cùng xem, cùng phản ứng tập thể.
V.P.: Đấy, đấy. Cả nhà thôi à? Cả xóm chứ lại. Tôi còn nhớ hồi trước 1975 ở Sài Gòn, có những đêm đi dạo trong xóm thỉnh thoảng nghe cả xóm cười rộ lên. Đó là những đêm trên ti-vi có các màn hài kịch. Nhà ở ta vẫn mở cửa, xóm lao động nhà nhà sát nhau, đến chỗ cười cả xóm cùng cười, nghe như trong một rạp hát. Sang Mỹ, cửa đóng nhà cách, không có sự hòa đồng liên gia, thì mỗi khi đáng cười tiếng cười được phát động trước tiên ngay từ chiếc ti-vi, rồi khán giả hùa theo. Thành ra ở đây có sự hoà đồng từ trong ra ngoài màn ảnh.
N.X.H.: Tóm lại, cái ti-vi nó qui tụ người, nó tạo khung cảnh thưởng thức văn nghệ tập thể, một khung cảnh đầy âm thanh...
V.P.: Này, ông nghĩ xem. Có phải như vậy quần chúng văn nghệ ngày nay trở lại gần gũi với tổ tiên xa xưa hơn chúng ta không? Chúng ta là ông với tôi, là phái “đàng cựu”. Chúng ta rút vào phòng, đọc một mình. Trong khi ấy khán giả ti-vi khiến tôi nghĩ tới những đám đông tụ họp nghe một kẻ tốt giọng “nói” Kiều, “nói” Thạch Sanh, “nói” Vân Tiên, nghe anh chàng hát rong (troubadour) thời trung cổ cao giọng hát chuyện hiệp sĩ Roland, trường ca Béowulf, trường ca Đam San..., nghe kể chuyện Tam quốc, Thủy hử v.v...
Tất nhiên mỗi nơi và mỗi thời có một lối hát, lối kể, lối trình diễn khác nhau. Nhưng vẫn có vài nét chung giống nhau: kẻ thưởng ngoạn tụ lại cùng nghe, kẻ thưởng ngoạn không nhìn đến chữ viết.
A, trốn chữ viết, một nhu cầu mới. Xưa chưa có chữ, nay lo trốn chữ: họ gặp nhau. Quần chúng bây giờ họ xa phái “đàng cựu”, mà gần phái “đàng cổ”. Thời văn học truyền khẩu họ họp lại cùng nghe, thời vàng son của cuốn sách họ tản ra mà đọc, bây giờ họ họp nhau trở lại.
Mới đây, hồi tháng 5-93, hội họp đồng nghiệp ở Miami (Florida), ông chủ tịch Hiệp hội các thư quán Hoa Kỳ đã bày tỏ nỗi lo lắng về sự phát triển của các hình thức xuất bản điện tử (electronic publishing): sách thu băng, máy đọc sách v.v... Trong tương lai, sự đọc sách mỗi lúc một “thoải mái” thêm, và một khác với cách đọc của chúng ta thêm.
N.X.H.: Sách báo mỗi ngày mỗi nhiều, phải tìm ra những cách mới để “tiêu thụ” sách cho nhanh. Cách nào thì cách, miễn sách của chúng ta được chiếu cố tới là quí rồi. Còn than vãn nỗi gì?
V.P.: Đọc cách nào, viết cách nấy. Cách thưởng thức ảnh hưởng đến cách sáng tạo. Một thời là cá nhân lặng lẽ thưởng thức bằng mắt những trang chữ viết. Một thời khác lại là đám đông, miệng nói tai nghe, là môi trường của văn học truyền khẩu. Không phải sách nào cũng sách như nhau, sách nào muốn xem thì xem, muốn đọc lớn cho bà con xúm xít nghe thì cứ đọc cũng được đâu. Truyện viết cho mắt đọc và truyện kể cho tai nghe, mỗi bên có cái đặc điểm của nó, dùng khác đi mất hay. Phú Xích Bích của Tô Đông Pha, văn khóc chồng của bà Tương Phố, truyện Tam quốc, truyện Đông Chu liệt quốc v.v... bảo người tốt giọng đọc lớn nghe chơi rất sướng tai. Nhưng truyện Lạnh lùng, truyện Bướm trắng của Nhất Linh có ông cụ bà cụ nào bảo con cháu nó đọc cho mình nằm nghe không? Về phần ông Nhất Linh, ông ấy từng nói cuốn Hồng Nương của ông, chính ông đọc lớn nghe “hay” lắm; nhưng cuốn Giòng sông Thanh thủy thì ai mà chơi ác đọc to lên ổng sẽ độn thổ đằng vân. Nhân tiện tôi nhớ lại câu chuyện bà Ann Landers gỡ mối tơ lòng. Tháng trước đây, một thiếu phụ than với bà rằng vợ chồng nàng mới cưới nhau có một năm mà chồng lại ham món lương cao, bỏ nàng ở nhà săn sóc bà mẹ bệnh hoạn, để chàng đi Alaska làm ăn tạm một thời gian. Ông tưởng tượng coi: chàng ở Alaska cô quạnh lạnh lẽo mà nàng ở nhà cũng lạnh lẽo tợn, thư từ họ trao đổi cho nhau phải nóng hôi hổi. Vậy mà bà mẹ cứ đòi xem thư con, xem kỹ từng chữ. Cô dâu bối rối. Bà Ann Landers dạy nàng trình thẳng với mẹ chồng rằng: “Những lá thư này anh ấy chỉ viết cho mắt con xem thôi, mẹ ạ.” (“These letters are for my eyes only.”) Trong trường hợp này, nên câu nệ một chút. Cứ hiểu sát từng chữ càng hay: Ngay cô dâu, cô cũng chỉ nên xem bằng mắt, chứ đọc lớn e cũng... khó đọc lắm.
N.X.H.: Ha ha... Tôi cũng nhân tiện, từ chuyện bà Ann Landers nhớ đến Nhất Linh: E cũng vì một lý do tương tự mà ông cụ không muốn người ta đọc lớn các cuốn tiểu thuyết sau này. Trong Hồng Nương là tình cảm cao khiết, nhưng trong Bướm trắng có những... rạo rực dục tình khó... đọc lớn lắm...
V.P.: Chết, chết! Lỗi ở tôi, ở cả tôi. Chính tại tôi nói đùa về bà Ann Landers mà ông cụ Nhất Linh mang họa. Vậy ông cho phép tôi bênh vực ông cụ.
Tôi nghĩ không phải vì những rạo rực nọ mà các tác phẩm về sau của Nhất Linh không tiện đọc lên để nghe chung đâu. Chuyện tiếu lâm tục tĩu vẫn được kể oang oang cho mọi người xúm xít “thưởng thức”. Thơ Hồ Xuân Hương ... mặn mà nhiều chứ, thế mà ai nấy đều có thể đọc thơ bà giữa đám đông, cùng nhau cười hô hố râm ran. Và chắc chắn những đoạn đối thoại ác liệt nhất trong tiểu thuyết Lê Xuyên vẫn đọc được để nghe chung mà tác giả không việc gì phải ngượng ngùng. “Rạo rực” thì có gì mà quan trọng hoá nó.
Mặt khác, chắc ông cũng phải chịu rằng Nguyễn Tuân chưa viết cái gì gọi được là khiêu dâm, phải không? rằng đọc Nguyễn Tuân thì chẳng ai thấy rạo rực, phải không? Vậy mà thử hỏi có ai vác những thiên tùy bút của Nguyễn Tuân ra chỗ đám bà con nam phụ lão ấu xúm xít đông đảo hắng giọng đọc nghe chơi không? đọc những bài ‘Gió đã lên’, ‘Một cái tết vô duyên’, ‘Được ốm’ v.v... đám đông có thèm nghe không? Đọc như thế, cả tác giả lẫn thính giả đều cảm thấy là họ bị mình “chơi” một vố đau điếng.
Và hôm nọ tôi có nói về chi tiết con nhặng xanh đâm đầu liên tiếp vào cửa kính giữa cái chết của mục sư Carey, trong cuốn tiểu thuyết của Somerset Maugham. Thử tưởng tượng nếu Kiếp người không phải là cuốn truyện viết để xem mà là chương hồi tiểu thuyết đem ra kể từng đêm cho cử tọa nghe thì liệu có một chi tiết như thế không? Trong Tam quốc chí không biết bao nhiêu là chết chóc, có ai trông thấy hay nghe thấy con nhặng, con bò cạp, con thằn lằn, con cóc tía nào... hoặc bay, hoặc quẫy, hoặc kêu thét bên cạnh đâu?
Viết để xem và viết để đọc nó khác nhau; viết cho tai nghe và viết để mắt đọc nó khác nhau đấy.
N.X.H.: Vâng, tôi biết. Thấy ông đùa về Ann Landers, tôi cũng đùa về Nhất Linh cho vui thôi. Ông không phải bênh vực. Vả lại chuyện văn chương cho lỗ tai và văn chương cho con mắt, ông đã có đề cập trong cuốn Chúng ta qua cách viết rồi.
V.P.: Phải. Thôi, xin bỏ qua chuyện ấy. Nhưng, này: Nãy giờ chúng ta nói hoài tới truyện, tới tiểu thuyết, mà chưa động tới thơ, vậy có thiên lệch không? Thật ra, thơ cũng như văn thôi. Nhớ hồi Tản Đà qua đời, ông Ngô Bằng Dực có bài ‘Khóc bạn Tản Đà’. Vừa khóc vừa khen. Khen rằng:
                “Văn chương đâu khéo ly kỳ!
                Đọc lên sướng miệng, nghe thì sướng tai.”
Thơ Tản Đà và các bậc tiền bối là thế; nhưng các bài thơ sau này trong Xuân thu nhã tập, thơ của Thanh Tâm Tuyền v.v... có còn sướng miệng sướng tai nữa đâu.
N.X.H.: Chuyện thiên lệch cũng khỏi lo luôn. Nhưng như vậy có phải ông cho rằng chúng ta đang trở về với văn chương truyền khẩu chăng?
V.P.: Nào tôi dám nói thế.
N.X.H.: Ơ! Thế văn nghệ nó đi về đâu? Ông bảo quần chúng đang yêu chuộng thưởng thức cách này kiểu nọ, thế thì phải hiểu mai kia văn nghệ hướng về phía nào chứ.
V.P.: Tôi nào dám nói chuyện mai kia. Chỉ dám lẹt đẹt theo sau thực tại, theo sau những cái đã xảy ra rồi. Đâu dám suy đoán tương lai này nọ. Nói thiên hạ chán sách, thì sự chán sách đã hiển hiện ra đấy từ khuya. Nói thiên hạ ham nghe, thì đã có sách nghe từ khuya. Nói đời nay thích thưởng thức tập thể, thì cái đó cũng chẳng phải tiên đoán nữa...
Vừa rồi, hồi tháng 5-93, ở San Francisco đã xảy ra một cuộc đụng độ giữa cảnh sát và thi sĩ, rốt cuộc thi sĩ thắng lớn. Ở miền Tây xưa nay Los Angeles vẫn thu hút giới sân khấu và San Francisco thu hút giới cầm bút. Tại các quán cà-phê San Francisco thường có những tài năng nam nữ về thi ca tự dưng nhảy ra đọc thơ mình cho khách trong quán vừa nhai pizza nhắp cà-phê vừa thưởng thức nghệ thuật và vỗ tay chơi. Gần đây, theo cái chiều hướng chúng ta vừa nói, số đệ tử của Lý Bạch ở San Francisco tăng lên dữ dội, đông đến hàng nghìn vị, mỗi tuần bảy ngày mỗi ngày cứ chiều xuống là đều đều kéo nhau đến các tiệm trổ tài. Họ tự xưng là những thi sĩ trình diễn (performance poets). Lawrence Ferlinghetti, chủ nhân thư quán City Lights, vốn đã có thời là một thi sĩ như thế, nhận xét rằng: “Chưa bao giờ đọc thơ nhiều quá xá như bây giờ.” Sở Cảnh sát chú ý đến hiện tượng ấy, mở luật ra xem, và đến các cửa tiệm có “trình diễn” thơ, đòi coi lai-xăng và thu một ngân khoản thuế tám trăm đồng mỗi năm. Chủ quán la ơi ới. Thi sĩ phản đối bằng cách dựng ngay bục trình diễn tại cửa toà thị sảnh! Thế là Thị trưởng đầu hàng.
N.X.H.: Cách nhau chẳng bao xa mà trên San Francisco nhộn nhịp thơ phú dữ quá, còn dưới mình...
V.P.: Mình kém thua à? Eo Ê mà, thua sao được? Eo Ê có lối của Eo Ê. Ở đây, giới trình diễn, giới sân khấu, ca nhạc đông đảo. Thơ in gặp bế tắc, bèn cặp kè với ca nhạc, với ti-vi..., quậy mạnh dữ dội. Kể từ những năm cuối thập kỷ 80 hoạt động trình diễn thơ phát triển rất mạnh. Lễ hội Thi ca Los Angeles (Los Angeles Poetry Festival), năm 1989, tổ chức cùng lúc 50 địa điểm trình diễn thơ. Từ đó phong trào lên vùn vụt. Mở tờ tạp chí Out Loud số tháng 1-93 xem qua đã thấy hơn trăm cuộc đọc thơ: đọc trong các đại học, đọc ở... tiệm giặt, và đọc thơ luôn trên xe buýt Blue Line ở Long Beach mỗi tháng một kỳ vào ngày chủ nhật! Thơ bế tắc là bế tắc trên giấy: thơ in thành sách không ai mua. Nhưng nó dàn ngay mặt trận khác chứ: nó xông tới trực diện với người thử xem người có trốn được mãi không nào (poetry in your face), nó bỏ trang giấy vọt lên sân khấu (from the page to the stage). Thơ trình diễn từ ngày thành bộ môn quan trọng đã có những công trình nghiên cứu về nó. Có người chia nó ra làm một loại thơ được trình diễn (performed poetry), và một loại thơ để trình diễn (performance poetry). Loại thứ nhất là những bài thơ vốn viết ra để đăng báo, in sách, nhưng rồi được mang ra ngâm trên sân khấu. Loại thứ hai là những bài thơ ngay từ khi sáng tác đã có chủ ý để dùng được cả vào việc xuất bản lẫn trình diễn.
Thơ đã bắt cặp với ca nhạc, với diễn viên sân khấu, thôi thì tha hồ lắm chuyện: nào băng nhạc thơ trình diễn, băng hình thơ trình diễn, dĩa compact, dĩa laser về thơ, phim trình diễn thi ca đại qui mô v.v... Ai biết rồi thơ ở Los Angles nó sẽ quậy mạnh tới đâu?
N.X.H.: Thơ đọc, thơ kể, thơ “nói”, thơ trực diện người nghe, hôm nay bắt gần kịp cổ đại xa xưa rồi. Khác gì thời anh hùng ca, thời những sử thi trường thiên?
V.P.: Kịp rồi, còn gần gì nữa. Giáo sư Robert Peters ở U.C.Irvine, cũng là một thi sĩ, cũng rành vụ cặp kè giới sân khấu. Ông ta đã hoàn thành một thiên sử thi dựa theo một cốt chuyện ly kỳ ở Hung-gia-lợi thế kỷ XVII, về sự tích một người đẹp quí tộc giết nhiều cô gái đồng trinh, vì tin rằng tắm vào máu đồng trinh thì mình giữ mãi được màu trẻ trung. Đây đó đã có những thi sĩ “cấp tiến” thấy rõ, lo gì không bắt kịp cổ thời?
Gã mặt vuông và đồng bọn xúm nhau thay đổi tâm lý quần chúng thưởng ngoạn văn nghệ một cách sâu xa; chúng ta cứng đầu, cứ “bất động như sơn” sao được, ông? 
8 - 1993

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)