Thiện Hỷ - Làng Trà Ôn Nảy Sanh Út Trà Ôn

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 7 năm 2016

Út Trà Ôn 
Tôi lớn lên tại Xóm Chiếu, Khánh Hội, Sài Gòn nhưng quê nội của tôi tại làng Tường Lộc thuộc quận Tam Bình tỉnh Vĩnh Long.
Vào giữa thập niên năm mươi lúc tôi vừa mười lăm tuổi tôi mới được phép của cha mẹ tôi cho tôi về làng Tường Lộc. Người em họ chú bác của tôi đưa tôi đi. Từ Sài Gòn về thị xã Vĩnh Long bằng xe đò lớn. Từ thị Xã Vĩnh Long chúng tôi được di chuyển bằng xe đò loại nhỏ. Xe đò ngừng lại, chúng tôi đi bộ nhắm hướng làng Tường Lộc. Cảnh trí nơi làng mạc nhà quê nơi đây thật lạ đối với tôi. Rải rác mới có căn nhà lá đơn sơ mà chung quanh đều được bao bọc bằng những ruộng lúa xanh mướt. Vừa đi bộ, người em họ tôi vừa nói với tôi:
“Đây là làng Trà Ôn. Qua khỏi làng này thì đến làng Tường Lộc.”

Nhưng không phải tiếp tục đi bộ thì đến làng Tường Lộc. Trước mắt chúng tôi bỗng có một nhánh sông nhỏ chắn ngang. Nơi đây có bến đò và chúng tôi phải xuống đò để sang sông. Lúc bấy giờ đã gần trưa nhưng gió sông thổi lành lạnh. Tôi được người em họ chỉ cách xuống đò. Phải khom người xuống, gần như bò chầm chậm xuống chiếc xuồng tam bản rồi từ từ ngồi xuống be xuồng. Nếu cứ đứng xổng lưng bước xuống đò, đò chòng chành mất thăng bằng dễ té xuống sông. Bên kia sông là làng Tường Lộc, nhà của chú tôi (em ruột của Ba tôi) sát khúc quanh của mé sông. Lúc xuống đò cũng phải thủ tư thế bò mới an toàn. Cũng như làng Trà Ôn, nhà cửa nơi làng Tường Lộc rất thưa thớt, lâu lâu mới có một mái nhà tranh được bao quanh bằng đám ruộng xanh mướt. Sau khi chào hỏi chú thím tôi và tất cả những người trong nhà, tôi được một bữa cơm nhà quê thanh đạm nhưng ngon miệng. Nơi nhà quê mọi người ngủ rất sớm. Khoảng sáu, bảy giờ chiều tất cả đều đã chui vào mùng rồi.
Qua ngày hôm sau, gà vừa cất tiếng gáy, cả nhà đều thức dậy, tôi theo thím tôi đi chợ. Lúc bấy giờ trời hãy còn tối, ánh sáng chỉ lờ mờ nhưng thím tôi rất rành đường đi, đó là con đường mòn ngoằn ngoèo trong làng. Chập sau cũng có vài người đi chợ như thím cháu chúng tôi. Chợ nhóm rất sớm. Chợ chỉ gồm trên mười người buôn, mỗi người để thực phẩm vào trong thúng, thúng được đặt dưới đất, không có sạp cũng không có mái che. Chỉ là rau cải, trái cây và thịt heo. Những bạn hàng đều ngồi chồm hổm dưới đất cho nên chợ này được gọi là “chợ chồm hổm.” (Tại Sài Gòn cũng có “chợ chồm hổm” này, trong Sài Gòn Năm Xưa, Vương Hồng Sển có nhắc đến). Họ không bán thịt gà, thịt vịt, cá, tép, tôm, cua vì những thứ này nhà nào cũng có, hoặc nuôi sau nhà hoặc đặt nò, đặt nôm mỗi ngày. Thím tôi chỉ mua rau cải và thịt heo. Chợ chồm hổm nhóm rất sớm để rồi cũng tan rất sớm, lúc mặt trời vừa ló dạng. Cũng buổi sáng hôm ấy tôi được người em họ đưa đi viếng mộ của ông nội tôi, của bà nội tôi... được xây ngay làng Tường Lộc.
Ngày thứ, sau khi xong bữa cơm chiều tôi hỏi chú tôi:
“Có phải làng Trà Ôn là quê quán của danh ca Út Trà Ôn không, thưa chú?”
Nhấp xong một hớp trà, chú tôi nói:
“Phải, cháu nói đúng. Út Trà Ôn xuất thân từ làng Trà Ôn mà hôm qua cháu đã đi qua. Chú kể chuyện Út Trà Ôn cho cháu nghe. Cách nay khoảng hơn mười năm (tức vào giữa thập niên bốn mươi) tại làng Trà Ôn, làng Tường Lộc, làng Long Hồ... thuộc quận Tam Bình của mình đây thường luân phiên nhau cứ mỗi tháng tổ chức vài đêm ca vọng cổ. Ban nhạc đã sẵn, di động từ làng này qua làng khác. Vào đêm mát mẻ trời không mưa, một nhà nào đó trong làng tổ chức ca vọng cổ. Khoảng bốn giờ chiều trong nhà đốt nhiều ngọn đèn, chung quanh nhà chủ nhà đốt vỏ dừa khô, khói bay mù mịt khiến muỗi và bù mắc không bu tới được. Khoảng năm giờ chiều tiếng đàn trổi dậy. Dân làng gồm đủ hạng người từ lớn đến bé đều bu quanh căn nhà ấy, trong nhà cũng chật ních khán thính giả. Ban nhạc gồm những tay đờn kìm, đờn cò, đờn gáo, đờn độc huyền, nhạc cụ nhịp song long... Khoảng sáu giờ chiều thì buổi ca vọng cổ bắt đầu. Thường thường có ba hay bốn người thay phiên nhau ca. Mỗi người ca một hay hai bài cho đến mười hoặc mười một giờ thì vãng.
Tôi hỏi chú tôi:
“Có giọng nữ không, thưa chú?”
Chú tôi đáp:
“Không. Lúc bấy giờ không thấy có cô nào cất tiếng hát. Có lẽ có nhưng vào dịp khác và nơi khác.”
Chú tôi nói tiếp:
“Tại làng Trà Ôn có bốn, năm chàng trai ca vọng cổ. Nhưng nổi bật nhất là anh Út, người con trai út của một gia đình. Chú Út có biệt tài là trước khi xuống “xề” chú lên cao vút rồi liền sau đó có những tiếng nho nhỏ ư, ứ, ư... như nằm tròn trong cổ họng của chú.”
Tôi nói:
“Những tiếng ư, ư, ứ, ư... này giống như của hát bội.”
“Có thể chỉ chịu ảnh hưởng thôi chứ không giống hệt. Những chữ ứ, ư, ứ, ư... của hát bội được phát ra thành tiếng rõ ràng còn trong vọng cổ những tiếng ấy quyện nho nhỏ trong cổ họng. Thí dụ: thất ư, ư, ứ, ư, ứ, ư... tình. Chữ 'tình' là chữ xuống 'xề' nghe rất mùi. Chữ 'thất' được lên cao vút.”
“Những người khác cũng hát được như chú Út?”
“Không. Những người khác cũng hát y như vậy nhưng không thể nào bằng chú Út. Chú tuy nhỏ người, ốm, nhưng tiếng hát thật trong và cao. Giọng ca, tiếng ca của chú Út ăn đứt tất cả những người khác vì vừa khéo vừa truyền cảm cho nên thấu đến tai một ông bầu cải lương. Ông bầu ấy về tận làng bên để điều đình, thương lượng, để mời, để rước cho được chú Út đi theo đoàn hát.”
“Chú còn nhớ tên đoàn hát ấy?”
“À, để chú nhớ lại coi, hình như là Tiến Hóa. Từ đó chú ấy lấy biệt danh là Út Trà Ôn.”
“Thỉnh thoảng chú Út trở về Trà Ôn?”
“Lâu lắm Út Trà Ôn mới về đây một lần nhưng chú không được gặp.”
Như để kết luận, chú tôi nói:
“Đó, cháu thấy không, nhiều người ca vọng cổ nhưng không phải tất cả đều thành công, trong nghệ thuật ca hát còn có thiên tư, vừa diễn vừa ca, vừa ca vừa diễn, diễn và ca, cả hai đều khó như nhau, ngoài tài nghệ riêng, vài người còn được 'tổ đãi'.”
Vài ngày sau trước khi trở lên Sài Gòn tôi được đưa đi viếng mộ ông bà một lần nữa. Bận về, tôi và người em họ tôi lại có dịp lững thững đi bộ ngang qua làng Trà Ôn, không khí thật mát mẻ, trong lành, thoang thoảng ngây ngây mùi lúa mới, lúa vừa mới trổ đòng đòng. Tuy ngang qua làng Trà Ôn nhưng người em họ tôi không biết ngôi nhà của Út Trà Ôn được tọa lạc nơi đâu.
Trở lại Sài Gòn, tôi hỏi Ba tôi:
“Thưa Ba, chữ ư, ư... ứ, ư... trong vọng cổ trước khi xuống xề do đâu mà có vậy Ba?”
Ba tôi trả lời:
“Từ những lối hát của hát bội mà ra. Nghệ sĩ Tám Thưa đưa nó vào vọng cổ biến nó thành chữ ơ, ơ, ớ, ợ, ờ... Về sau không rõ nghệ sĩ nào lại biến nó trở lại thành ư, ư, ứ, ự, ừ... trước khi xuống 'xề.' Khi xuống 'xề' càng trầm càng 'mùi.' Những chữ ư, ư, ứ, ự, ừ... trong cổ họng của người hát như những hạt tròn tròn cho nên tiếng nhà nghề gọi là 'ca có hột.' Nói nghe dễ nhưng tạo được những chữ ấy vừa khéo vừa điêu luyện vừa truyền cảm thiệt là khó. Cô Năm Sa Đéc hát những điệu hát bội với những ư, ư, ứ, ự, ừ... rất khéo, rất tuyệt. Khi xưa Thầy Năm Tú ca vọng cổ tại Mỹ Tho, trước khi xuống 'xề' không có những chữ ư, ư... ấy. Về sau vài nghệ sĩ 'ca có hột' gồm có cô Bảy Phùng Há, cô Năm Phỉ, cô Bích Thuận, Út Trà Ôn, Văn Hường... và những nghệ sĩ trong ban Khuyến Lệ Cổ Ca.”
“Ba đã xem tuồng cải lương nào do Út Trà Ôn đóng?”
“Ba có xem vài tuồng do Út Trà Ôn đóng, phần nhiều là tuồng xã hội. Tiếng hát của Út Trà Ôn thật là mùi khi xuống 'xề,' hết sức điêu luyện khi lên cao thì lồng lộng, lanh lảnh.”
Là kẻ hậu sinh, hay tin trễ Út Trà Ôn đã xuôi miền nước nhược vào năm nay, cách nay chừng vài tháng, tôi vô phép chép vài câu vọng cổ sau đây do Nguyễn Thành Châu tức Năm Châu, vừa là soạn giả, vừa là nghệ sĩ, sáng tác để kính viếng người:
Ánh thái dương đang xán lạn trong veo tưng bừng hoa cỏ... bỗng đâu gặp cơn gió giục, đám mây vần... Mảnh hương nguyền đốt hương thơm, tơ loan chùng phím trúc, thơ ngàn xưa đã lạc mộng ngày xưa... 
Carrollton, TX ngày 5 tháng 11, 2001


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)