Ngự Thuyết - Dài Thế Kỷ

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 7 năm 2016


Hồi còn cắp sách đến trường, những năm cuối tiểu học và đầu trung học, tôi mê đọc vô cùng.  Mê đọc chứ không phải mê đọc sách - chữ "đọc sách" nghe quá trịnh trọng và lớn lao so với mớ tuổi bé con của tôi.  Thời đó đã có chiến tranh, sách vở thiếu thốn, vồ được cuốn nào là ngốn ngấu cuốn ấy, không phân biệt, không chọn lựa.  Những cuốn sách cũ của ông chú có nhiều cuốn mất khúc đầu thì đọc khúc đuôi, mất khúc đuôi thì đọc khúc đầu, mất cả đầu đuôi thì đọc khúc giữa. Trang mất trang còn cũng không sao, đọc tuốt.  Y như sau này những năm tháng đầu tiên trong tù cải tạo ngày nào cũng bị nhồi nhét lý thuyết với chủ nghĩa lỗi thời, rỗng tuếch, thế là nhặt được một miếng giấy gói muối, gói mắm, hay những mảnh giấy ố vàng rách rưới nhỏ bằng vài ngón tay - xin lỗi - tức là giấy "vệ sinh" sau khi dùng đi cầu đã khô, hễ có vài hàng chữ cũ là phủi phủi rồi banh ra đọc một cách say sưa.  Hàng chữ cũ?  Vâng, tức là từ những tờ báo, những trang sách "Ngụy" bị xé rời làm giấy gói đồ, làm bao bì v.v..., trạm chót là làm giấy “vệ sinh”. Về sau, Cách Mạng biết được điều đó cho nên những thứ giấy ấy cũng không kiếm đâu cho ra.  Thế là những người tù chúng tôi không còn cái hạnh phúc đọc những chữ  “thối" ấy nữa.

Trở lại chuyện hồi bé, tôi đọc những gì nhỉ?  Nào La Bính Hoa ngày nào cũng đi ăn xin về nuôi mẹ già, nhờ thế sau gặp được ân sư mà trở thành tay kiếm sĩ vô địch; nào Hồng Gia Nữ Hiệp võ công đầy mình và đẹp như tiên lại "thầm yêu trộm nhớ" chàng Bách Tường Vân; nào Nhà Sư Thọt ôm kín một cuộc đời bí ẩn một đêm bị bức bách đành phải vượt hàng rào đánh mất chiếc ba-toong, và từ chiếc ba-toong ấy Kỳ Phát tìm ra án mạng; nào chú tiểu Lan, Hồn Bướm Mơ Tiên, trong bộ nâu sồng "dịu dàng bẽn lẽn" ngồi thẫn thờ một mình trong vườn sắn cao quá đầu người nghe tiếng chim gù mà nhớ anh chàng Ngọc đã bỏ về Hà Nội; nào Trọng Khang, Trường Đời, nét mặt "phong trần" có một bè gỗ lớn bị nước lũ cuốn mất bèn đi đánh bạc để gỡ gạc lại xui xẻo thua nhẵn cả túi tiền, làm lại cuộc đời bằng hai bàn tay trắng v.v... Ðó là văn xuôi, tiểu thuyết.
Còn thơ thì may thay một đứa học cùng lớp có cuốn Thi Nhân Việt Nam đã nhàu nát của Hoài Thanh, thế là những đứa khác trong đó có tôi năn nỉ mượn rồi chuyền tay nhau chép lại gần trọn cả cuốn thơ vào những tập giấy học trò, rồi đọc lui đọc tới đến thuộc lòng những bài mình thích.  Lời bình bay bướm, hay ho, và đầy khám phá của Hoài Thanh, Hoài Chân cùng những bài thơ trong cuốn sách sao mà có sức lôi cuốn tôi hồi đó đến thế! 
Nhưng dù văn hay thơ đều nói đến những tình huống kỳ lạ, bay bổng, tha hồ đưa trí tưởng tượng của tôi đi lang thang thật xa, để khi nhìn lại cuộc sống thường ngày của  mình, thấy nó gò bó, nghèo nàn, và chật hẹp quá chừng.  Càng đọc lung tung, càng mơ ước viển vông, càng thất vọng.  Rồi bắt chước buồn cái buồn của các thi sĩ - Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. 
Một lần gặp được mấy câu thơ của Tế Hanh:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Ðón chuyến tàu đi, đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
...
Hồi đó tôi cho những câu thơ ấy hay tuyệt, và nhất là nó đã vẽ ra cái khung cảnh gần gũi nằm trong tầm tay của mình. 
Số là như thế này. Một buổi sáng nghỉ học, thằng bé 12,13 tuổi là tôi đạp xe đạp ra ga xe lửa Huế để thử tìm cái cảm giác được mô tả trong bài thơ.  Xe lửa tới, rồi xe lửa đi, hành khách lên, rồi hành khách xuống, mà thằng bé chỉ có cảm giác hụt hẫng mà thôi.  Nó chẳng kiếm đâu cho ra một thứ gì thơ mộng hoặc buồn khổ cả. Lòng trống rỗng.  Nó ngơ ngáo, ngượng nghịu ngó quanh.  Người ta tò mò nhìn nó.  Nó chột dạ.  Rồi mặt nó đỏ lên như ăn vụng bị bắt gặp. Nó định bụng đứng lì thêm một chốc nữa thôi, để làm gì nó cũng không biết, nhưng rủi thay, người lính gác từ xa đi tới vẻ mặt đầy nghi ngờ, có lẽ nghĩ nó là kẻ gian, cho nên nó vội nhảy lên xe đạp đạp một mạch không quay đầu nhìn lại nhưng cái lưng nó vẫn cảm thấy nhột nhạt vì những cái nhìn đuổi theo chế giễu. Nó chắc mm rằng mọi người đều chú ý đến cái cử chỉ “quái chiêu” của nó. Từ đó, ngoài những lần đi đâu bằng hỏa xa, nó không còn dại dột mò tới những nhà ga để mộng mơ.        
Bây giờ sống trên đất Mỹ này nhiều dịp đến những phi trường, những sân ga, hoặc những bến xe đi xuyên bang, có khi nhớ lại bài thơ ấy của Tế Hanh, lòng chỉ thấy gợn lên một chút cảm giác mơ hồ như mặt nước ao tù phẳng lỳ bỗng chạm phải bởi một chiếc lá tre khô vừa rơi xuống.  Một vòng tròn cảm xúc rất nhỏ lan ra thành vài ba vòng tròn đồng tâm rồi biến đi nhanh trước khi chiếc lá nằm yên trên mặt nước. Và cái bến xe buýt này, bến xe lửa này, cũng đã trở nên khô khan, mệt nhọc, buồn nản như bản thân của tôi khi cánh tay vẫy vẫy của Trang xa dần, rồi bị che khuất sau mấy toà nhà trơ khất. 
* 
Người đàn bà nhìn tôi hỏi:          
“Xin lỗi ông, mấy giờ rồi thưa ông?”
Tôi đeo kính vào.  Người đàn bà vội xua tay:
“Thôi khỏi phiền ông.  Kia kìa, cái đồng hồ treo tường ở cuối hành lang. Nào, xem nào, 10 giờ thiếu 10.  Chết tôi rồi! Xe tôi khởi hành 9 giờ. Chết tôi rồi!”
Tôi kín đáo quan sát người đàn bà. Thiếu phụ khoảng tuổi 40, thân hình cân đối, mặt có nét buồn nhưng thanh tú, giọng nói ấm áp, nụ cười tươi luôn luôn ở cửa miệng. Tóm lại đẹp và có duyên.  Chỉ có đôi mắt là tối sầm. Tôi không hề thấy nụ cười tươi sáng đi theo với cặp mắt tối tăm.  Cũng ít thấy người nào miệng thì cười mà mắt dửng dưng như người đàn bà này. Tôi trấn an:
“Không sao đâu cô. Có nơi mỗi ngày có hai chuyến xe. Trễ chuyến thứ nhất thì đi chuyến thứ nhì.  Vậy cô đi đâu?  Ðể tôi xem thử có chuyến buổi chiều cho cô không nào.”
Thiếu phụ nhìn tôi, thoáng một chút bỡ ngỡ nhưng nỗi lo lắng vẫn hiện rõ trên đôi mắt:
 “Tôi đi Green River. Lần đầu tiên tôi đi xa một mình, tiếng Anh tiếng u tôi không biết.  Phiền ông hỏi hộ cho tôi xem có chuyến buổi chiều không ông nhé.  Hôm nay mà không đi được, tôi sẽ không biết xoay xở ra làm sao cả.  Khổ quá!  Ông giúp hộ tôi nhé, thưa ông.”
Tôi khẽ gật đầu và đến quầy bán vé đứng nối đuôi chờ.  Hành khách đông đảo, phần lớn nói tiếng Tây Ban Nha.  Tôi phải chờ đến hơn 15 phút mới sắp đến phiên mình được tiếp.  Tôi vừa quay người lại đã thấy thiếu phụ đứng ngay sau lưng tôi, nét lo lắng hiện rõ trên đôi mắt đen và u ám.  Thiếu phụ ấp úng:
"Ông Mễ bán vé đó nói tiếng Mễ phải không ông?  Ông biết tiếng Mễ hay không? Làm sao bây giờ!"
"Không sao cả. Thấy cái mặt cuả tôi là họ chuyển qua nói tiếng Anh ngay.  Tiếc là họ không nói được tiếng Việt.  Những người làm việc ở đây nói thạo cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha."
Tôi quay qua hỏi người bán vé, được biết không có chuyến xe đi Green River.  Rời khỏi quầy bán vé, tôi ái ngại nhìn người đàn bà và cho cô ta biết điều đó. Thiếu phụ vội vã tiếp lời:
"Khổ thân tôi quá!  Lúc nẫy tôi không chịu nói cho rõ ràng, thưa ông.  Xin lỗi ông.  Tôi cũng biết rằng không có xe đi Green River, nhưng người nhà có dặn cứ đến Salt Lake City rồi xe nhà sẽ đến đón về.  Vậy phiền ông một lần nữa nhé.  Nhờ ông hỏi xem còn chuyến đi Salt Lake City vào buổi chiều hay không.  Làm phiền ông nhiều quá, tôi vô cùng áy náy, thưa ông."
A, cái cô này ăn nói lễ phép một cách quá đáng, nhưng bù lại, giọng nói nghe hay quá, khiến tôi cũng muốn bắt chuyện để được nghe thêm. Tôi vốn thích nghe giọng nói của phái nữ.
Salt Lake City tôi có đến một lần.  Ðó là thành phố thủ phủ của tiểu bang Utah, nằm gần cái hồ rộng mênh mông, hơn 500 ngàn mẫu tây, cao hơn một cây số so với mực nước biển, nước hồ mặn chát, mặn gấp ba, gấp bốn lần nước biển, mặn đến nỗi cá không sinh sống nổi.  Chỉ có một loại tôm vỏ cứng nhỏ tí tẹo, màu đỏ hồng, nhỏ bằng đầu cây tăm xỉa răng và dài cũng chỉ bằng một lóng tay thôi, là có thể tồn tại nơi đó.  Nhờ có loại tôm ấy mà bầu trời của vùng hồ nước mặn và những thành phố lân cận sinh động hẳn lên vào mùa xuân và mùa thu.  Tôi nói cái chi tiết đó, người đàn bà trố mắt nhìn có lẽ nghĩ tôi có tính ưa đùa cợt: 
"Tôm sống dưới nước mà làm vui cho bầu trời!  Sao có chuyện lạ thế, thưa ông."
"Nhưng tôi chưa nói hết mà. Vâng, những loài chim di điểu ở miền bắc nước Mỹ, ở Canada, ở gần miền Bắc cực, từ mùa thu đã lo bay về nam tránh cái rét của mùa đông trên đó. Bay xa lắm, hàng ngàn dặm, hàng chục ngàn con, thường ghé lại vùng hồ ấy cho đôi cánh được nghỉ ngơi năm bảy tiếng đồng hồ. Rồi bay tiếp. Trước khi dừng cánh, chúng sà xuống mặt hồ săn đuổi những con tôm bé nhỏ đó đang lặn lội nhởn nhơ, gọi là kiếm chút thức ăn độ đường.  Ðến mùa xuân ấm áp năm sau lại bay về tổ cũ -- vâng có nhiều con chim bay về đúng tổ cũ của nó – lại ghé xuống mặt hồ.  Cả một vùng sinh động hẳn lên. Năm nào cũng thế, từ  xa xưa cho đến bây giờ". 
Nói xong, tôi cười thầm.  Thế ra mình đã bị lây cái lối nói kiểu cách của thiếu phụ.  Con gái Bắc kiểu cách một cách thật duyên dáng, mình đâu bắt chước nổi! 
Cái thành phố Salt Lake City khá lớn này hẳn nhiên được vài ba chuyến xe buýt xuyên bang phục vụ mỗi ngày, tôi nghĩ thế, nhưng tôi cũng đến người bán vé hỏi lại cho chắc.  Ðúng thế, có hai chuyến xe buýt Grey Hound đi từ  Santa Ana đến Salt Lake City, một sáng một chiều. Thật ra, hai chuyến đó đi từ cực nam của Cali, thành phố San Diego, rồi ghé lấy thêm khách từ Santa Ana. Lỡ mua vé sáng chỉ việc đóng thêm tiền phạt mười phần trăm để đi chuyến chiều.  Ðược biết như thế, thiếu phụ mừng rối rít:
"Thật là may mắn cho tôi! Nhất là may mắn đã gặp được ông nơi đây. Nếu không, tôi chết mất."
Giọng Bắc du dương, người đàn bà lại cười nói một cách hồn nhiên, khiến tôi thấy vui vui.  Tôi gợi chuyện:
“Mà này cô, Green River?  Nghe hay quá.  Green Field, Cánh Ðồng Xanh, thì tôi biết, đó là tên một bài hát nổi tiếng một thời.  Nhưng thị trấn ấy tên Green River? Hẳn là có một dòng sông xanh trôi qua?  Cô khéo chọn chỗ ở nhỉ?”
 Thiếu phụ mở to mắt nhìn tôi:
“Tôi có kén chọn gì đâu!  Nếu tôi được quyền chọn, chắc chắn tôi sẽ xin định cư miền nam Cali.  Ông mới là người khéo chọn!”
Tôi ậm à:
"Thế sao?  Sao cô biết? Mà tôi chọn nơi nào nhỉ?"
“Tôi đoán ông người  vùng này. Ở đây ấm áp, vui quá, nhiều người mình quá, ông nhỉ?  Ði trên các đường phố Nam Cali mà cứ ngỡ đang đi bát phố Sài Gòn những chiều cuối tuần.  Ông có cảm thấy như thế không, thưa ông.”
“Tôi cũng chỉ là người tị nạn mới đến định cư nơi đây thôi ... cho nên cô bảo tôi người vùng này e không đúng lắm. Nhưng thật ra ở đâu quen đấy,vui buồn còn tùy. Này cô, ta hãy trở lại câu tôi hỏi cô lúc nãy nhé. Vùng cô ở chắc có con sông xanh, Green River?"
Người đàn bà chau mày:
“Ông nói làm tôi phải cố nhớ lại xem dòng sông ấy có xanh hay không.  Và con sông vùng tôi ở có phải là sông Green  River hay không, tôi cũng không biết nữa. Ðường sá, xóm giềng, trường học, vườn hoa, chợ búa, tôi còn không biết tên huống là tên một dòng sông.  Nhưng hình như con sông nào cũng thế thôi, lúc đầy lúc vơi, lúc vui lúc buồn, lúc trong lúc đục.  Làm gì có con sông xanh mãi!”
Tôi định nói có chứ, sông Hương đấy, nhưng nghĩ không phải lúc để tranh luận dài dòng.  Mà cũng không hẳn đúng. Sông Hương mùa lụt nước bạc trắng chứ đâu còn trong, “Nước lạnh như đồng, khổ lắm chồng tui”.  Hai ba người đàn bà Mễ Tây Cơ hay Nam Mỹ con cái đùm đề ì à ì ạch khiêng những cái túi nặng nề đến để ngay trước mặt chúng tôi rồi quày quả chạy tới quầy bán vé. Tôi đề nghị:
“Ði chuyến buổi chiều, bốn giờ chiều, nên cô còn nhiều thì giờ lắm.  Hay là ta hãy dời hành lý đến hàng ghế cuối ngồi cho rộng rãi, yên tĩnh?  Lúc nào ở quầy bán vé thấy bớt người ta hãy trở lại đổi vé cô nhé.”    
Thiếu phụ vui vẻ gật đầu. Tôi khệ nệ, khập khiễng, chân tôi bị tật, xách giùm một cái túi của thiếu phụ, còn thiếu phụ thì tay xách cái bị nhỏ lẳng lặng theo sau.  Ðến hàng ghế cuối, trước khi đặt túi xách xuống đất, tôi đứng chờ xem thiếu phụ muốn ngồi băng nào.  Bắt gặp thiếu phụ cười lặng lẽ, đôi mắt là lạ như có pha chút giễu cợt. Tôi thầm nghĩ có lẽ cô này thấy mình đi khập khiễng mà còn ra tay hào hiệp nịnh đầm xách giùm cái túi khá nặng.  Thiếu phụ đổi sắc mặt, vội nói:
“Cám ơn ông.  Ông còn phải trở lui mang hành lý của ông đến đây nữa chứ.  Ông mải lo giúp tôi lại quên cả hành lý của ông rồi!”
Tôi cười, đáp:
“Tôi không có hành lý. Sáng nay tôi đi tiễn đưa.  Xe chạy rồi.  Người ta đã đi rồi.  Tôi định ngồi đây nghỉ ngơi một chốc thì ... gặp cô.”
Thiếu phụ cúi mặt cười tủm tỉm:
“À ra thế.  Thế mà tôi cứ tưởng ... tôi cứ nghĩ ông cũng sắp đi xuyên bang ... như tôi.  Vâng, đúng thế, sau khi tiễn đưa, ta nên ngồi nán lại một chốc.”    
"Ðể làm gì vậy?"
Thiếu phụ nở một nụ cười duyên:
"Ðể giữ một chút dư vang." 
Lúc còn nhỏ, chưa xong trung học đệ nhất cấp, tôi đã yêu. Tôi giấu kín chuyện lòng của mình, không dám san sẻ với ai một lời kể cả người tôi yêu. Trẻ  con mà bày đặt yêu với thương, nghe chướng tai quá!  Nhưng tôi cứ yêu, biết làm sao được.  Một mùa hè, tôi đến nhà em học.  Em?  Bây giờ nhớ lại, hồi đó tôi đâu dám gọi em là em.  Anh cả của em đi học xa, Sài Gòn Hà Nội gì đó, người anh thứ hai học trên tôi nhiều lớp, mở lớp dạy kèm môn toán và tiếng Pháp.  Em thỉnh thỏang ghé tạt qua lớp học mang nước trà cho anh của em, có khi mang đến nào đào tiên, nào ổi, nào khế ngọt, nào dâu vừa mới hái ngoài vườn đem vào cho đám học sinh háu ăn háu đói là chúng tôi. Chưa bao giờ tôi nghe em nói một lời; em chỉ nhìn chúng tôi, con mắt to, sáng long lanh, nhìn mà có lẽ không thấy ai, nhìn chung chung chứ không nhìn hẳn vào một ngươi nào. Và cuối cùng cười chung với mọi người để giã từ, nụ cười không phát ra thành tiếng, chúm chím như đóa hoa hồng mới nụ trên khuôn mặt trắng xanh, gầy gầy, xinh đẹp quá
Vâng, nước da em trắng xanh, có lẽ em biết thế, cho nên em thường mặc chiếc quần dài đen, áo bà ba đen ngắn tay, làm nổi lên khuôn mặt và hai cánh tay trần. Em rất đơn sơ những năm đói khổ, loạn lạc ấy.  Em của màu đen và màu trắng.  Tóc đen mượt, mắt đen nhánh, quần áo đen dịu dàng, chỉ để lộ khuôn mặt trắng và hai cánh tay trần như hai cành non. Và hàm răng nữa chứ, những chiếc răng trắng như hạt bắp nếp sắp đều đặn cạnh nhau. Vào lớp học em mang vào tất cả ánh sáng của trời đất bên ngoài. Rồi em quay người lặng lẽ đi không nói một lời. Phòng học bỗng hoang vắng.  Trong lòng lũ bạn học trẻ con của tôi có nhen nhúm một thứ tình cảm nào đối với cô bé hay không, có lẽ không, nhưng riêng tôi thì khác hẳn.  Lòng tôi cứ vấn vương mãi.  Rồi một hôm tôi như người bị hút hồn khi em vô tình hay cố ý nhìn tôi và chỉ cho tôi một trái ổi có dấu chim mổ mà em bảo thế là ngọt lắm. Ðúng thế, em chỉ nhìn tôi thôi, tôi thầm nhắc đi nhắc lại.  Từ đó tôi không thể nào tập trung tâm trí vào bài vở, nhưng cũng không bao giờ vắng mặt một buổi học nào. Mùa hè cứ thế trôi qua như giấc mơ.
Hết hè, mọi người nao nức trở lại trường cũ lòng không chút vướng bận hình ảnh của em. Nhưng riêng tôi, cứ mỗi buổi chiều đi học về, tôi kiếm một cái cớ nào đó để đi qua nhà em. Mình đi đến xóm em xem thử cái tổ chim ròng rọc nằm vắt vẻo trên cây tre lá ngà cao nhất có còn đó không.  Xem mấy đoá hoa dâm bụt lấp ló trong hàng dậu trước nhà em hôm qua còn búp nay đã nở chưa.  Xem con đường xóm hôm nay có vắng teo như mọi hôm hay không; may quá, lối xóm cuả em bao giờ cũng vắng người đi. Tôi khỏi sợ ai bắt gặp.  Xem thử từ trong ngôi nhà cổ kính ấy có ai đi ra không. Ít khi thấy em ra khỏi nhà. 
Cứ thế tôi đi lên đi xuống lối xóm đó nhiều lần mỗi chiều, nghe tiếng chó sủa nối đuôi nhau từ nhà này qua nhà khác theo bước chân của tôi, nghe quả tim mình xôn xao, bồi hồi. Họa hoằn lắm mới được gặp em một lần. Thế mà khi gặp, tôi làm ra vẻ lơ đễnh, thờ ơ. Tình cờ đi qua đây. Nhìn em cười ngượng ngập, không biết nói gì, không dám nói gì.  Em ngạc nhiên, có pha chút vui mừng thì phải, cười lại, hai con mắt  trong veo, đen nhánh nhìn theo tôi khi tôi nói lúm úm vài lời và vội đi nhanh.  Chừng đó thôi, nụ cười và cái nhìn. Tôi về nhà ngẩn ngơ suốt buổi tối hôm đó và nhiều ngày sau, và bắt đầu biết buồn là gì.  Tôi thầm nghĩ phải chăng tình yêu có nghĩa là buồn, là khổ?   
Một loạt bảy tám người đẩy cửa kính đi vào, kẻ ba lô, người kéo theo va-li có bánh xe lăn.  Thiếu phụ thì thầm hỏi:
“Người Mễ ở đây đông quá hả ông?”
“Ðúng thế. Vùng Ca-li này ngày xưa của Mễ Tây Cơ, sau bán cho Mỹ. Hay Mỹ chiếm từ Tây Ban Nha nhỉ, tôi không rõ. Nhưng không phải tất cả mấy người đó đều là người Mễ cả đâu, tôi đoán thế.  Họ có thể là người gốc Trung Mỹ, Nam Mỹ, hoặc ở các hải đảo quanh đây.  Có điều họ đều nói tiếng Tây Ban Nha.  Hình như chỉ có người Ba Tây nói tiếng Bồ Ðào Nha.”
“Thế thưa ông làm sao phân biệt được ai là Mễ, ai là Á Căn Ðình chẳng hạn?”
“Tôi cũng chịu thua cô ạ. Ngược lại họ cũng không thể biết ai là Việt Nam mình, ai là Tàu, Nhật, Ðại Hàn hoặc Thái Lan chẳng hạn.”
Thiếu phụ cười:
“Thế thì hòa vốn.”
Trước khi từ giã thiếu phụ, tôi nghĩ  mình phải nói thêm vài lời:
“Từ đây đến Green River, đến Salt Lake City, cũng mất hết sáu tiếng phải không cô?”
“Thưa ông, phải đến tám chín tiếng.”
“Bốn giờ chiều nay khởi hành,” tôi lẩm nhẩm tính, “thì, thì hơn 12 giờ đêm mới đến Salt Lake City. Có xe đón cô vào lúc khuya khoắt ấy hay không để còn phải đưa cô về Green River chứ?  Một mình cô, đêm khuya, thân gái...”
Thiếu phụ ngắt lời, nét hóm hỉnh hiện lên đôi mắt:
“Nếu không có xe đến đón tôi lúc giữa khuya thì sao thưa ông? Ông sẽ đưa tôi về nhà nhé!”
“Chắc chắn là thế!” tôi nói đùa.
Giọng nói thiếu phụ bỗng đầy vẻ giễu cợt và hằn học:
“Cám ơn ông đã mở lòng từ bi chiếu cố đến tôi. Các ông bao giờ cũng thế, rất hào hiệp với phái yếu. Hễ thấy người đàn bà nào lọt con mắt thì ... giở trò ngay!”
Cái bà này lạ chưa, tôi tự nhủ. Tự nhiên sửng cồ!  Muốn gây sự đó chắc? Bỗng thiếu phụ reo lên:
“Ông xem kia kìa, có đến hai chiếc xe buýt đang từ từ chạy vào bãi đậu cùng một lúc.  Cầu trời một chiếc sẽ đi Salt Lake City.  Nếu thế tôi khỏi phải chờ đến chiều ông nhỉ.  Tôi nóng ruột quá!”
Tôi quay nhìn ra ngoài bãi đậu xe. Trời bỗng âm u.  Gió lên.  Hàng cây chạy dọc theo con đường cái bị gió đẩy, cành và ngọn ngả nghiêng về một phía.  Lá rụng lác đác xuống bãi đậu rồi bị gió đùn về một phía con đường cái ngoài xa.  Một chút bụi bay.  Tôi nhớ đến những con đường bụi cuốn mù mịt ở quê cũ mỗi lần có cơn gió lốc. Xứ này ít bụi.  Hai chiếc xe lầm lũi bò vào trông giống như  hai con sâu róm khổng lồ. Thiếu phụ kín đáo nhìn tôi.  Tôi im lặng, cố tỏ ra mình không khó chịu vì câu nhận xét vừa rồi của thiếu phụ.  Như đoán ra điều ấy, thiếu phụ dịu giọng:
“Xin lỗi ông, lúc nẫy tôi nói gì với ông thế?  Tôi nói đùa một chút ấy mà.  Nói xong tôi quên ngay.  Nếu tôi có lỡ lời, xin ông bỏ qua nhé.  Ðôi khi tôi giống như người khùng vậy, xin ông đừng chấp mà tội nghiệp tôi lắm.  Em gái tôi vẫn nói rằng tôi thỉnh thoảng lên cơn.”
Giọng nói của thiếu phụ nhịp nhàng, uyển chuyển như tiếng hát.  Tôi yêu giọng miền Bắc, nhất là giọng nữ, thời tôi còn trẻ. Bây giờ tình cảm đó thỉnh thoảng cũng dấy lên trong tôi một cách đột ngột.  Như hôm nay nơi bến xe này.  Mà giọng nữ thì ở miền nào nghe cũng dễ thương!  Miền quê tôi nghe thủ thỉ, miền Nam nghe ngọt ngào. 
Tôi nghĩ đến giọng Hà Nội “tiểu tư sản” ngày xưa. Giọng nói đó còn không, cái giọng êm đềm của những nhân vật lãng mạn trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn, những Mai, Lan, Loan, Thu, Tuyết ... một buổi trưa mùa đông có chút nắng hiếm hoi trên thành phố cao nguyên đẹp và lạnh, một mình vui chân đi mải miết trên con đường đầy lá thông khô ven những cánh rừng thưa nắng xuyên qua cành lá, trời tuy nắng mà khí núi bốc lên vẫn gây gây lạnh, bỗng cơn mưa đột ngột tới, nhìn quanh, may quá, sau trái đồi nhỏ cỏ xanh mát con mắt, thấp thoáng mái ngói nâu, vội chạy đến, trú mưa dưới mái hiên của một ngôi biệt thự kiểu Tây ngày xưa còn sót lại, mưa nặng hạt dần, gió tạt nước mưa làm ướt tóc và hai vai chiếc áo len dày, cứ thế này sẽ bị ướt như chuột lột, thì cánh cửa bỗng hé mở, người con gái  xinh đẹp xuất hiện, hơi một chút ngần ngại "xin ông cứ vào trong này ạ ... không khéo mưa ướt ông hết ... mời ông ngồi tạm ...", tiếng nói nhẹ như hơi gió vừa dứt và cánh cửa vừa khép lại thì cô chủ cũng đi mất hút vào phòng bên cạnh, nhà vắng, đôi giày ướt sũng làm dơ sàn lát gỗ bóng lộn, ngồi nhìn vẩn vơ, trên tường có tranh Chùa Một Cột hương khói, Hồ Hoàn Kiếm liễu rủ, Chợ Ðồng Xuân tấp nập, và tấm hình bán thân trông thật hiên ngang trong khung kính của một sỹ quan Cộng Hòa trong quân phục cấp tá, hẳn là chồng, hay là anh, có lẽ anh thì đúng hơn vì thiếu nữ còn trẻ quá, bỗng có tiếng dương cầm văng vẳng, bài Songe d'Été của một nhạc sĩ người Pháp mình không nhớ tên, đang mùa đông lạnh mơ mùa hạ cũ, hẳn là chủ nhân đang đàn dở thì biết có người đứng trú mưa ngoài hiên, mưa đến nhanh rồi không khéo lại đi nhanh như những cơn mưa hiếm hoi mùa đông, mong cơn mưa kéo dài, mong nghe thêm vài ba bản nhạc nữa, hình như tiếng đàn lẻ, có khi ngập ngừng, có khi buông thõng, trong một ngôi nhà lặng thinh mà thính giả là chỉ có một người ở phòng ngoài đang lắng nghe, vẫn ngầm mang một sức cuốn hút lạ kỳ, mà cơn mưa có vẻ như sắp tạnh rồi, và tiếng đàn cũng theo tiếng mưa rơi ngoài kia trải mỏng ra chầm chậm rồi ngưng bặt, rồi khuôn mặt hồi nãy lại xuất hiện, lần này có dịp nhìn kỹ hơn, đẹp, đẹp, đẹp, bên ngoài chỉ còn tiếng gió lướt trên con đường vắng và tiếng thông reo vi vu, tần ngần  nuối tiếc đứng dậy, tiếng nói bỗng ngân lên nghe như "những hạt châu rơi trên mâm ngọc", nghe như những lời quyến luyến của hai người yêu nhau sắp chia tay, câu nói đơn sơ, khách khí, và vô lý, vì mưa đã tạnh từ hồi nào rồi: "Xin ông đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi".
Tôi nhìn thiếu phụ cố tìm xem có nét gì giống nhau giữa người đàn bà này và cô gái đánh đàn ngày xưa.  Nhưng tôi không thể nào nhớ được khuôn mặt của cô gái thì  lấy gì mà so sánh.  Tôi bật cười thành tiếng và quên hẳn cơn "sửng cồ" của thiếu phụ.  Tôi nối tiếp câu chuyện:
“Cô nói chuyện nghe vui lắm.  Có gì đâu mà cô bảo lỡ lời.  Phải nói một cách thẳng thắn như cô mới dễ kết thân với nhau chứ!  Này cô, hai chiếc xe đó thuộc hãng khác.  Cô phải đáp xe Grey Hound chuyến bốn giờ chiều đi Salt Lake City.”
“Nhưng nhiều xe như thế kia thì làm sao biết được xe nào là xe của mình. Lại không biết tiếng nữa!  Khổ thân cho tôi qúa! Lần này là lần đầu tiên tôi đi xa một mình trên đất Mỹ lạ lùng này, ông ạ.” 
“Cô yên chí.  Tôi sẽ chỉ dẫn rõ ràng cho cô.”
Tôi dặn dò rất kỹ về giờ giấc, bến xe đến, bến xe đi, nhưng thiếu phụ vẫn băn khoăn:
“Trăm sự nhờ ông.  Thật ra tôi cũng đã từng một thân một mình chạy loạn.  Mới đây chứ có phải lâu la gì đâu.  Chắc ông còn nhớ những ngày ta bỏ Tây Nguyên chạy về vùng duyên hải Quy Nhơn, Nha Trang.  Thật  là kinh hoàng.  Chạy đến Cheo Reo thì tôi không thấy chồng con tôi đâu cả.  Tôi mới biết thế nào là cái cảnh thân gái dặm trường. Bây giờ nghĩ đến chuyện đó tôi vẫn thấy bàng hoàng.  Nay tôi cũng lại một thân một mình nơi xứ lạ quê người đấy ông.”
Tôi an ủi:
“Trước khác bây giờ khác. Vả lại mình đang ở trên đất Mỹ yên ổn, giàu có, thanh bình.  Ðâu còn chạy giặc như ngày xưa mà cô ngại.”
Thiếu phụ rơm rớm nước mắt:
"Giàu có và yên ổn là với ai kia, tôi không hề được dự phần trong đó. Mọi chuyện đối với tôi như mới xẩy ra ngày hôm qua, như đang xẩy ra trước mắt.  Ðâu đâu cũng thế cả thưa ông, bên nhà cũng như bên này, tôi luôn luôn là người đang chạy loạn.” 
Vâng, loạn lạc liên miên không biết ngày nào mới chấm dứt. Cuộc chiến âm ỉ như than hồng dưới lớp tro hễ gặp gió là bùng lên thành ngọn.  Làng quê tôi biến thành vùng xôi đậu dù cách thành phố không xa mấy, chỉ khoảng bốn, năm cây số.  Cuối hè năm sau tôi lên thành phố ở trọ để có thể yên ổn học hành. Nhiều khi nhớ em quay quắt, dù đường sá thiếu an ninh, tôi vẫn thường tìm cách về làng để mong được gặp em, để mong nhìn lại màu đen và màu trắng ấy - ‘nụ cười trắng và đôi mắt đen’.  Nụ cười mời gọi, đôi mắt quấn quýt mà em vẫn dành riêng cho tôi, phải không em? Nhưng không hẹn làm sao gặp được!
Gần ngày Tết tôi lại về làng, đánh bạo đến nhà em, lấy cớ hỏi thăm tin tức một thằng bạn cùng học lớp hè tại nhà em cách đây hai năm. Em bảo em đâu biết người ấy là ai nhưng vẫn nói chuyện với tôi một cách hết sức dịu dàng và hình như em không giấu được nỗi vui trong lòng.  Tôi thì như người bị hút hồn, nghe em nói mà có hiểu được gì, chỉ nhớ lời cuối cùng em nói trước khi chia tay: “Nghe nói anh học giỏi, em ... em ... Sao không thấy anh về chơi. Phố xá đông vui cho nên anh quên nhà quê rồi. Anh ... anh quên em rồi. Biết có còn gặp nữa không, hả anh?”
Chữ "em" tôi đã nói và nghe cả ngàn lần, nhưng khi cái tiếng nói êm ái đó được Trang, tên của em, dùng để xưng hô với tôi, tôi nghe lạ hẳn. Nó vang dội mãi trong tôi như lời bùa chú trong chuyện thần tiên! Thế là tôi đã hiểu tình cảm của em đối với tôi. “Anh sẽ về thăm em thường xuyên nhé, tuần nào cũng về!” tôi nói thầm câu ấy với tôi nhiều lần. Mấy ngày sau đó, tình cờ trong câu chuyện với Tấn, bạn học cùng lớp và là người anh họ của em, tôi được biết thêm nhiều về em.  Bố làm tri huyện rồi tri phủ tản cư về quê bị Việt Minh giết cùng với hai người chú, em phải tạm nghỉ học một năm, phụ mẹ lo việc nội trợ và chăm sóc ngôi nhà từ đường, để cho hai người anh có thì giờ tiếp tục đèn sách. Tuần vừa qua tất cả gia đình em dọn vào Nam sau khi người anh cả học xong  và xin được việc làm đàng hoàng. Tôi sửng sốt. Em và tôi chưa nói gì nhiều với nhau, tôi chưa hiểu hết ý em nói mà cũng không dám hỏi cho cặn kẽ.  Tôi ngơ ngẩn như người mất hồn.  Năm học ấy tôi không đủ điểm lên lớp, phải thi lại sau ba tháng nghỉ hè. 
Thiếu phụ đưa bàn tay che mồm ho khe khẽ. Cũng đủ cho tôi thảng thốt quay về với thực tại.  Tôi nhìn quanh.  Thiếu phụ dịu dàng nói:
“Thưa ông, hình như ông đang ... đang ... Tôi lại vô ý.  Nhưng, xin lỗi ông, grây ... grây ...”
“Grey Hound”
“Vâng, grây hao là cái gì?”
Tôi cau mày đáp:
“Tên hãng xe bus.”
“Vâng?”
“Grey Hound là tên hãng xe xuyên bang có vẽ hình con chó ngao tai to và cụp, chân dài, bụng thon, gầy đét.  Giống chó săn nổi tiếng.  Loại xe này phải ghé nhiều nơi để rước thêm khách nên nó đến sớm hay trễ vài mươi phút là chuyện thường. Cô còn khối thì giờ. Nhưng khoảng 4 giờ chiều mới có chuyến thứ nhì. Quá nửa đêm cô mới đến Salt Lake City.  Liệu vào giờ đó người nhà có biết để đến đón cô không?  Có thể họ nghĩ rằng cô đi chuyến chín giờ sáng.” 
Thiếu phụ thở dài:
“Thưa ông tôi có nghĩ đến điều đó.  Nửa đêm em gái tôi không dám lái xe đâu.  Không nói giấu gì ông, chúng tôi qua Mỹ chưa được bao lâu, gặp chuyện gì cũng sợ.  Em tôi nhỏ hơn tôi đến 10 tuổi, mới có bằng lái xe.  Còn tôi, tôi ... coi như đã hết thời, đã già quá rồi, học lái xe làm gì thêm phí công phí của.  Với lại có xe đâu mà lái.  Tôi định bụng như thế này, khi xe đến Salt Lake City, tôi sẽ ngồi chờ ở đó cho tới sáng rồi gọi phôn về cho con em.  Có phải không ông, cái thời của tôi đã qua rồi!”
Tôi thầm nghĩ những người đẹp vừa bước qua khỏi tuổi xuân ai cũng vờ nói mình đã già, đã hết thời, đã hết duyên, nói xong hồi hộp chờ lời cải chính của người nghe. Ðã thế mình phải khen nịnh một câu cho người ta vừa lòng.  Rồi đi, chấm dứt cuộc gặp gỡ này. 
“Xinh đẹp như cô sao lại bảo thế!”
Nói xong tôi đứng dậy chào từ biệt.  Thiếu phụ hơi giật mình, đứng dậy và nói lí nhí những gì tôi không nghe rõ. Bên ngoài trời bỗng gió lớn mang cơn mưa từ xa tới. Thiếu phụ lặng lẽ ngồi xuống ghế.  Tôi đứng lóng ngóng một chốc rồi cũng ngồi xuống cạnh thiếu phụ.  Những người đang đứng ở hàng hiên chờ xe đến đều lục tục khiêng hành lý trở vào bên trong nhà tránh mưa ướt.  Một thanh niên Mỹ gầy, cao, da trắng, tóc vàng búi tó, mặc quần knickers dài vừa ngang đầu gối, tay cầm cây đàn ghi-ta, vai mang ba lô, theo sau là một cô gái Mỹ da đen khá xinh trong bộ jeans màu mỡ gà, vai cũng mang ba lô, cả hai ướt nước mưa, đến ngồi ngay trên chiếc ghế băng trước mặt chúng tôi. Anh chàng thanh niên vui vẻ chào hỏi, tôi chào lại.  Thiếu phụ lúng túng.   
“Họ chào xã giao đó mà,” tôi nói.
Thiếu phụ nhìn lại hai người và nở một nụ cười thật tươi.  Cô da đen nhanh nhẩu nói một tràng dài. Tôi giải thích với cô da đen rằng người đàn bà bạn tôi không nói được tiếng Anh.  Gió lộng lên từng cơn, mưa càng lúc càng lớn.  Tôi xích lại ngồi gần thiếu phụ hơn để có thể nghe cô ta nói, thế mà tiếng nói nghe như thì thầm vì mưa gió ngoài kia vang dội.
"Mưa lớn như thế này không khéo ngập hết đường sá.  Xe làm sao chạy được, thưa ông?"
"Không sao đâu, cô yên tâm.  Vùng này mưa ít lắm.  Rầm rộ một chốc rồi tạnh ngay.  Mà này cô, ở Green River có nhiều người Việt Nam mình chứ?”
“Thưa ông, ít người mình lắm và buồn lắm.  Cho nên tôi mới qua đây theo lời một người quen để liệu xem có nên dọn nhà một lần nữa hay không.  Nhớ hồi mới đến Green River, tôi chẳng khác gì con thú bị thương.  Hoảng hốt, và sợ sệt đủ chuyện.  Ban ngày tôi không dám ra khỏi nhà một mình, ban đêm khóa kỹ cửa rồi còn lấy bàn, ghế, giường, tủ chặn cửa lại. Tệ hơn nữa, dù đang ở ngay trong nhà ngày cũng như đêm khi em tôi đi vắng, tôi cũng sợ sệt đủ thứ. Nhất là khi vào phòng tắm đóng kín cửa, gài chốt bên trong, tắm xong đứng trước cửa hồi hộp mãi.  Giá có cái lỗ nhỏ như nơi cánh cửa lớn để dòm ra xem sao.  Tôi luôn luôn có cảm giác đang bị rình rập, biết đâu nó đang chờ sẵn ngoài đó.  Ông có biết nó là ai hay không?"
"Ai vậy cô?"
"Là ... khó nói quá.  Hình như ở đất Mỹ này có nhiều thứ bệnh rất lạ.  Bệnh bắt cóc trẻ con, bắt người lớn, bệnh hành hung, bệnh chặt người ta ra thành từng mảnh cho vào bịch ny lông mang đi.  Còn tôi thì tôi mang bệnh sợ, ông ạ.”
Cái nhìn của tôi ngừng lại trên cặp mắt của thiếu phụ.  Tôi không tìm thấy trong đó nét giễu cợt như  trước.  Ðôi mắt đen tối sầm lại và hằn lên những nét đau khổ.  Tôi không biết tên người đối thoại, cô ta cũng không hỏi tên tôi, nhưng cả hai chúng tôi qua vài lần nhìn nhau, khỏi cần nói, đều thỏa thuận ngầm rằng không nên hỏi tên nhau.  Như vậy tiện hơn. Trong chốc lát đường ai nấy đi, không bao giờ gặp lại, thì biết tên nhau làm gì. Có người còn bày chuyện xoắn xuýt xin địa chỉ, tìm một mảnh giấy vụn nguệch ngoạc ghi chép rồi nhét đại vào túi hành lý để không bao giờ thấy lại nó!  Tình cờ gặp nhau, nói chuyện dăm ba câu trong lúc chờ lên đường, tại bến xe, bến tàu, bến cảng, hoặc phi trường, rồi mỗi người một ngả, thế mà nhiều người lại ưa tâm sự, y như cô này chẳng hạn, tôi tự nhủ.  Nhưng có lẽ như vậy cũng có cái hay của nó, những lời tâm sự với người lạ mặt sẽ biến thành mây khói, sẽ không còn để lại dấu tích gì, không vướng bận, không đè nặng lòng ai cả.  Thì cứ buông thả tâm sự ra cho nhẹ lòng nhẹ dạ.  Tôi nhìn thiếu phụ với chút xót xa:
“Không, sợ hãi không phải là bệnh đâu. Ai cũng vậy, ban đầu nơi xứ lạ quê người, ai cũng cảm thấy sợ sệt, ngại ngùng.  Ở lâu ngày sẽ quen.”
Người đàn bà ngập ngừng:
“Thật vậy không ông?  Tôi cũng mong như thế.  Nhưng tôi biết tôi không thể quen được.  Họa chăng con nhỏ em của tôi còn có thể hội nhập được phần nào.  Ngoài cái sợ ra, tôi luôn luôn có cảm giác mình... mình như hạt muối bỏ biển, sẽ tan biến nhanh trên đất nước bao la này.  Cho nên thế nào tôi cũng tìm cách về sống vùng Cali, rồi có chết đi nữa, cũng gần gũi người cùng quê.  Nhưng em gái của tôi cứ ngăn cản tôi hoài.”
Tiếng nói của thiếu phụ bỗng dưng đầy nước mắt:  
“Chị bỏ em đi em có chịu không?  Chỉ còn hai chị em mình nơi xứ lạ quê người mà mình cứ đòi bỏ đi, cứ đòi sống xa nhau!  Khổ thân cho em của chị.  Chị đoảng quá em ơi!”
Người đàn bà dường như quên hẳn tôi đang ngồi bên cạnh, ôm mặt thổn thức.  Tôi lặng lẽ đứng dậy đến quầy bán báo làm bộ dán mắt vào những trang bìa in hình các người mẫu, các ngôi sao thể thao, nhưng lòng thì bùi ngùi nghĩ đến Trang. Vâng, Trang của anh, của cả một thời thơ mộng.  Em ngồi một mình cạnh cửa sổ xe lửa nghiêng người ra đưa tay vẫy vẫy, xe chạy nhanh dần, mớ tóc bay bay.  Ðôi mắt là lạ và nụ cười buồn buồn của em vẫn cứ như còn dính lên trên những bức tường, những mái nhà, những chòm cây khi con tàu đã chạy khuất tầm mắt.  
Từ ngày em đi, tôi tìm cách kết thân với Tấn để theo dõi tin tức về em, được biết em đã được đi học lại.  Tôi gởi lời thăm em qua Tấn, và thỉnh thoảng cũng được em nhờ Tấn chuyển lời thăm tôi.  Thế thôi, nhưng cũng đủ làm cho tôi sung sướng vô cùng.  Tôi vẫn chưa dám viết thư cho em. Xong tú tài, tôi vào Sài Gòn học tiếp.  Việc làm đầu tiên là kiếm lý do để có thể đến gặp em tại nhà người anh của em, thì được biết em đã đi Phi Luật Tân theo học lớp Hồng Thập Tự quốc tế. 
Xa gia đình, xa cha mẹ, tôi tập làm người lớn.  Tôi như con chim sổ lồng muốn sãi cánh bay xa  trong bầu trời mênh mông, lạ lùng. Dần dần học đòi uống rượu, đánh bạc, nhảy đầm, và gái.  Lẽ dĩ nhiên không phải bạn gái đàng hoàng mà là gái điếm, gái nhảy, hoặc các nữ ca sĩ hạng ba mà nghề chính không phải là ca hát. Cuộc sống của tôi càng ngày càng bừa bãi thế nhưng tôi cũng học xong đại học. Nhiều lúc quên hẳn em, nhiều lúc nhớ em quay quắt kèm theo những ăn năn hối tiếc, tiếc thương tuổi trẻ, tuổi thơ ngây qua nhanh. Nhưng thường thì mỗi khi hình ảnh của em hiện lên, tôi cảm thấy lòng bồi hồi như khi tình cờ đọc lại câu thơ tình mà mình say mê hồi còn thơ dại. Những bài thơ tình đẹp và buồn. Và tôi tưởng rằng tình cảm của tôi đối với em sẽ phai dần như sợi mây mỏng tan biến trên bầu trời xanh, và em sẽ đi dần ra khỏi trí nhớ của tôi lúc nào không hay. Nhưng tôi đã tưởng lầm. Ngày trở về nước, gặp tôi, em không cầm được nước mắt vì sung sướng. Còn tôi thì thảng thốt như một người vừa trải qua những cơn mộng dữ để trở lại với cuộc sống êm đềm, yên ổn.  Người anh của em có vẻ hài lòng về sự “quen biết” của hai đứa mình, mời tôi đến nhà chơi mấy lần trước khi tôi bị gọi vào Thủ Ðức nhập ngũ cùng với hàng trăm ngàn thanh niên khác. Mình vẫn chưa được gặp riêng nhau! Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, không vây cánh, thế lực tôi bị gởi đi những đơn vị tiền tuyến. 
Một chiếc xe bus khác bò vào dưới cơn mưa nặng hạt, mãi đến gần tôi mới thấy rõ, và đậu ngay bên cạnh hàng hiên ướt át. Hành khách lục tục xuống xe, chạy vội vào phòng trong.  “Quái, hôm nay sao mưa lâu thế!  Như mưa giầm tháng bảy trên một tiền đồn ngoài biên giới,” tôi nghe tiếng nói của tôi dội lên trong đầu. Tôi quay trở lại với thiếu phụ, định nói vài lời giả lả cốt để đánh tan cái không khí buồn thảm mà thiếu phụ đã gây nên, mà tôi không muốn dây dưa vào. Khuôn mặt ít son phấn đó còn lấm tấm những giọt nước mắt đã khô.  Tôi lẩm bẩm:
“Vâng rất xa.  Ðơn vị rất xa, rất xa Sài Gòn ..."
"Thế ư thưa ông," thiếu phụ dịu dàng nói.  "Mà ông định nói chuyện gì vậy?"
Tôi gượng đáp:
"Vâng ... Ðúng thế, hai chị em sống xa nhau thế nào được.” 
Mưa vẫn không ngớt.  Hàng cây và những tòa nhà cao không xa lắm cũng dần dần bị xóa nhòa.  Lác đác ánh đèn xe hơi nhòe nhoẹt không đâm thủng nổi màn mưa, tạo thành những vùng ánh sáng mờ mờ di động.  Thiếu phụ nhìn xa ngoài mưa, lại quên  hẳn tôi, nói thì thào cho mình nghe:
“Mưa lớn quá! Như cơn mưa Sài Gòn hôm ấy ... nước ngập bến xe Nguyễn Cư Trinh ... ngập luôn khu Cao Bá Nhạ.  Xe tắc-xi chết máy, nước lên đến cửa kính xe ... từ rạp Ðại Nam trở về. Xem xi –nê lần cuối giã từ Sài Gòn... trước khi theo anh lên Vùng Hai...mà bé thì mới hơn một tuổi ngủ say trên vai anh từ lúc mới vào phim ...” 
Thiếu phụ bỗng như sực tỉnh, chau mày quay nhìn tôi ngượng ngập:
“Tôi... tôi... xin lỗi ông, tôi sợ không chừng chuyến xe chiều sẽ bị hủy bỏ.  Mưa lớn quá!  Biết tính làm sao đây. Ði hay ở?  Ở hay đi ?”
Tôi nhìn thiếu phụ ái ngại:
“Mưa ở đây ào ào một chốc thôi rồi tạnh. Quái lạ, hôm nay mưa khá lâu đấy, nhưng không sao, không lâu như bên nhà đâu. Với lại đường sá bên này tốt lắm, không bị mưa lũ làm sụt đất... Có lẽ đến trưa là hết mưa... Chúc cô chiều nay lên đường bình an.  Tôi đi.”
Thiếu phụ nhìn tôi ngơ ngác:
“Mưa thế này mà ông vội đi sao!"
Tôi cũng nhận thấy thế.  Không mang theo áo mưa hoặc dù thì từ ngôi nhà này chạy ra xe thế nào cũng bị ướt mèm.  Thiếu phụ nói thêm:
"Hay ông cứ đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi!” 
Giọng nói ngân nga níu kéo.  Ðôi mắt gần như van lơn.  Tôi bàng hoàng.  Lại khuôn mặt đẹp và câu nói nhẹ như gió thoảng trong ngôi nhà vắng miền cao nguyên có tiếng đàn lẻ!  Tôi lại ngồi xuống bên cạnh thiếu phụ, mang cái ảo giác đây chính là cô gái ngày xưa của thành phố ấy mùa đông lạnh căm căm dù có một chút nắng vừa hửng lên trên con đường mòn phủ đầy lá thông khô, nắng chiếu xuyên qua những cây thông cổ thụ cao ngất, cành lá sạch bóng đu đưa lóe lên những hình sao reo vi vu trong gió sau cơn mưa trưa ngắn ngủi. Vâng, biết đâu. Chuyện gì mà không thể xẩy ra trong đất nước đầy biến động ấy. Tôi định hỏi có phải trước kia cô có ở Ðà Lạt một dạo, nhưng thôi, hỏi làm gì? 
Mưa vẫn rơi đều đều ngoài kia.
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)