Ngự Thuyết - Dài Thế Kỷ (Tiếp theo và hết)

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2016

                                               
Trong những đơn vị tác chiến mà tôi được chuyển đến, tôi gặp nhiều chuyện mới lạ. Dần dần giữa tôi và bạn bè trong đơn vị nẩy nở một thứ tình cảm càng ngày càng thắm thiết mà người ta gọi là tình đồng đội. Chúng tôi thương yêu nhau, yêu màu áo và huy hiệu  của đơn vị, yêu đời lính. Và từ đó, yêu tổ quốc hơn.  Vâng, phải chia nhau từng mẩu thuốc lá lẻ khi vừa qua khỏi cơn thập tử nhất sinh, từng giọt nước còn sót lại trong bi- đông khi cổ họng khô cháy, từng vụn lương khô khi bụng đói cồn cào; phải vực nhau dậy, khiêng nhau đi dưới những lằn đạn khi đồng đội gục ngã; phải đắp điếm cho nhau khi có người nằm xuống; phải kề vai bên nhau ghì tay súng bảo vệ từng tấc đất; phải đổ mồ hôi và nước mắt và máu lên những luống cày, những bông lúa, những ngọn cỏ, những sườn đồi, những đầm lầy và rừng núi, những ven sông, những bãi biển, những góc phố, những doanh trại, những công sự phòng ngự ... mới biết thế nào là tình chiến hữu, là niềm tự hào của đơn vị, là lòng yêu nước. 
Trong một trận đánh ác liệt ở An Lộc mùa hè năm 1972, tôi bị thương nặng, may được trực thăng vận kịp thời đưa về điều trị tại bệnh viện Cộng Hòa ở Gò Vấp, ngoại ô của thủ đô.  Tôi nằm ở đó một thời gian ngắn thì em đến.
Em đã chuyển qua học Y Khoa, hiện là sinh viên ngoại trú, xin được đến bệnh viện Cộng Hòa thực tập khi biết tin tức của tôi.  Ngày nào em cũng ghé đến thăm và săn sóc tôi ít nhất một lần.  Tôi nằm dài trân trân nhìn lên đôi mắt to đen nhánh, có khi thoáng buồn và nụ cười tươi có hàm răng xinh xinh như những hạt bắp nếp được sắp nằm kế bên nhau đều đặn. Em thường cắn môi để giấu nụ cười khi tôi thộn mặt nhìn em. Nhưng làm sao em giấu được cặp mắt chứa chan biết bao tình ý của em. Những ngày nằm bệnh viện là thời gian hạnh phúc nhất của đời tôi.  Tôi bình phục dần. 

Hôm tôi xuất viện, em đến đón. Tôi nhớ rõ hôm đó máy bay trực thăng chở thương binh tới tấp bay về.  Lại đánh nhau lớn ở nhiều mặt trận cùng một lúc. Tiếng cánh quạt ù ù, xành xạch át tất cả mọi tiếng động khác, hàng cây ngoài hàng rào nghiêng ngả, vật vã, lá rụng xác xơ, đám cỏ tranh bên trong hàng rào kẽm gai nằm rạp sát đất.  Thì em đẩy cửa bước vào.  Chiếc nón vải trắng nho nhỏ nằm lệch trên mái tóc uốn thành từng lọn, cái áo choàng trắng làm nổi lên những nét tròn lẳng của thân hình em, một mùi hương lẫn lộn phấn son, nước hoa và da thịt phảng phất, tất cả cùng một lúc tràn ngập căn phòng.  Hơn cả ngày xưa em mang ánh sáng của ngôi vườn cây ăn trái vào phòng học!  Tôi quên khép cửa lại ôm chầm lấy em hôn đắm đuối. Em run rẩy như ngọn lá trước gió, xấp hồ sơ trong tay của em rơi xuống sàn nhà. 
Rồi tôi đưa em đi, không biết đi đâu, đi loanh quanh khắp phố phường.  Còn yếu, hai chân tôi rã rời.  Không lẽ cứ đi mãi, đi mãi? Tôi đưa em vào một nơi mà tôi nghĩ rằng em và tôi có thể nghỉ chân trong chốc lát, có thể âu yếm nhau tự do hơn, kín đáo hơn là ở ngoài công viên hay trên đường vắng.  Tôi đưa em vào một phòng ngủ. Tôi không ngờ nó tồi tàn, bẩn thỉu, hôi hám đến thế.  Trước đây tôi thỉnh thoảng ghé chơi nơi này, nay nó xuống cấp quá, thay đổi hẳn. Em và tôi vừa bước vào, thì bà chủ làm như đã quen biết tôi lâu ngày – thật ra tôi không quen biết bà này -- đon đả níu kéo tôi và hỏi han rối rít, "Cậu sao lâu ngày không ghé chơi.  Ô, mà cậu lại kiếm đâu ra cô em thơm phức như thế." 
Em chau mày, răng cắn môi thành vết hằn tái nhạt, rồi nước mắt bỗng từ từ ứa ra làm ướt đẫm cả khuôn mặt. Tôi hoảng hốt. Tôi vội vàng cầm tay em dẫn đi ra khỏi  phòng mặc bà chủ chứa tru tréo.  Em đi bên tôi im lặng như chiếc bóng, rồi đòi về.  Tôi không biết giải thích làm sao.  Trước khi chia tay, em nói:
"Em sắp thi tốt nghiệp, sẽ bận lắm.  Không biết có kiếm được chút thì giờ đến thăm anh hay không.  Em cũng sẽ không viết thư cho anh nữa ... thi xong hẵng hay. Và cũng xin anh đừng viết cho em. Anh nhớ giùm cho!"
Tôi viết nhiều thư cho em rồi xé bỏ rồi lại viết.  Tôi muốn giải thích. Mà giải thích thế nào cho ổn?  Rằng tôi không có ý xấu? Rằng tôi vẫn yêu em một cách trong sáng, xin em đừng hiểu lầm? Rằng sau nhiều tháng nằm dưỡng bệnh, đầu óc mệt mỏi lú lẩn, làm những chuyện không định làm.  Rằng tôi không còn như xưa, đã quen cái lối võ biền ẩu tả, nhưng trong sâu xa, đối với riêng em, tôi vẫn luôn luôn quý trọng.  Rằng tôi chưa có nơi cư ngụ dứt khoát, chưa biết về nhà nào, tình cờ đưa em đi ngang qua đây ghé lại nghỉ chân chốc lát rồi lại đi! Rằng tôi không có tiền để đưa em vào nơi sang trọng. Không có câu nào nghe lọt lỗ tai.  Làm sao gởi những lá thư như thế cho em được.
Thời hạn dưỡng thương của tôi chưa chấm dứt nhưng tôi vẫn phải trở về đơn vị vì tình hình chiến sự sôi động.  Nhớ em điên cuồng, và hối tiếc, và giận người, giận mình, lòng nặng trĩu. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, càng ngày càng đi đến chỗ bi thảm cho miền Nam trong khi tôi không thể nào kiếm được vài ba ngày phép để tìm gặp em, để có thể đối mặt với em giải thích cho cặn kẽ. Tôi nghĩ đến cuộc tình của tôi và em đã đổ vỡ một cách thật trớ trêu, thật tức tưởi, trong cái đổ vỡ lớn lao và  trớ trêu gấp bao nhiêu lần của quê hương đất nước vào cuối tháng tư ấy. Hàng ngũ của chúng tôi rã rời, kẻ chết, người trốn, người tù, người mất tích, người vượt biển.  Tôi  bị thương nặng, bị bắt nhốt, không có thuốc men, không được săn sóc, không chết là may. Trong đầu tôi còn mang mảnh đạn, một cánh tay không co duỗi được, chân đi khập khiễng, mang tật suốt đời. Còn em? Tôi đi tìm hoài, nhờ bạn bè hỏi giùm, vẫn không có  được một tin tức gì. Em chạy về đâu trong những ngày tan hoang đó? 

Ừ nhỉ, mưa thế này đi đâu  được?" tôi nói cho có nói.  "Cô biết không, tôi đang nghĩ đến một bài học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư hồi còn bé.  Cái cảnh tiễn đưa, kẻ ở người đi. Tôi nhớ cả hình vẽ minh họa:  bờ sông có lũy tre, có mấy người đứng đưa tay vẫy, đứa bé được bồng nách cũng vẫy tay. Ðằng xa là chiếc thuyền buồm. Tôi không nhớ hết cả bài đó, chỉ nhớ câu cuối, 'Ôi!cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!'  Ngày xưa người ta tiễn đưa nơi bến đò.  Bây giờ tôi tiễn chân trên sân ga xe lửa.”
Thiếu phụ có vẻ nghĩ ngợi:
“Thảo nào ông không có hành lý.  Lúc nẫy ông đã nói thế nhưng tôi nghĩ khác. Tôi cứ tưởng... Nhưng thưa ông, có lẽ ông phải nói bây giờ ông tiễn đưa trên bến xe ô-tô mới đúng chứ.  Ðây đâu phải ga tầu hỏa.  Và hình như ông vừa tiễn đưa người em nhỏ, cho nên ... cảnh biệt ly cũng sao mà buồn vậy!”
Ngẫm nghĩ một chốc, thiếu phụ nói tiếp:
“Cho tôi nói đùa thêm một chút nữa nhé, vì tôi bỗng nhớ một bài hát.”
Rồi thiếu phụ nói theo lời ca của một bài hát mà tôi cũng biết:
            Tôi có người em nhỏ
            Xinh xinh đôi hàng mi
            Môi hồng vừa đương độ
            Ðã biết sầu biệt ly ...
Vẫn thế, tiếng nói của thiếu phụ nghe thật êm đềm. Tôi đáp:
“Cần gì hát.  Nghe cô nói đã thấy hay quá rồi.”
“Ông quá khen.”
“Ở đây cũng có bến xe lửa đấy chứ. Amtrak là công ty xe lửa lớn nhất nước Mỹ.  Tòa nhà lớn lao này mé bên này dành cho các hãng xe busxuyên bang, mé bên kia nhìn ra con đường lớn dành cho hỏa xa.  Chốc nữa tạnh mưa tôi sẽ đưa cô qua bên đó xem cho biết.”
Ðôi mắt đen của thiếu phụ lóe lên một tia tinh nghịch.  Người đàn bà này kỳ quặc thật, tôi thầm nhủ.  Mới rầu rĩ đó, bây giờ đã nhí nha nhí nhảnh.  Ðúng là có cơn.
“Tôi lại xin đường đột nói thêm một điều nữa nhé.  Phải nói như thế này thì mới đúng hoàn toàn – Ông vừa tiễn đưa cô bạn gái, chứ không phải cô em gái nhỏ đâu nhé.  Ðúng hay không thưa ông?”

Trong một bữa tiệc cưới tôi gặp lại Trang.  Trang ngồi cạnh một người đàn ông đứng tuổi, cỡ tuổi tôi, trông quen quen. Cả hai người quay mặt nhìn về phía sân khấu.  Chắc là chồng của Trang chứ còn ai vào đó! Trang ngồi cách tôi khoảng bốn bàn, đang chăm chú nghe người điều khiển chương trình hùng hồn trước máy vi âm. Tôi đến trễ, đến vừa lúc bữa tiệc sắp bắt đầu.  Tôi cố tình đến trễ hơn hai tiếng. Tôi không muốn ngồi chờ quá lâu nơi chiếc bàn tròn dành cho mười người mà mình không quen ai cả. Vừa bước vào phòng tiệc, tôi nhận ra Trang ngay.  Trang đẹp lạ lùng. Chiếc áo dài màu nguyệt bạch có thêu mấy ngọn lá trúc xanh xanh nơi tà áo ôm lấy thân hình mảnh mai, cân đối, chiếc khăn voan quàng cổ màu tím nhạt vắt hờ trên vai, mái tóc vẫn thế, mọi thứ chập chờn trong trí nhớ của ngày nào trong một căn phòng khá sạch sẽ, thơm mùi thuốc, vang dậy tiếng máy bay trực thăng ngoài kia nơi bãi đáp của bệnh viện Cộng Hòa. Và khuôn mặt hơi tái xanh ít son phấn thỉnh thoảng quay sang nhìn chồng cho tôi thấy lại đôi mắt đen và to sau riềm mi cong, đôi lông mày không tô đậm uốn vòng nhẹ nhàng, phơn phớt, cái mũi thon thon, xinh xinh, và miệng mỉm cười để lộ hàm răng hạt bắp. Thời gian có khi không tàn phá nổi nhan sắc của một số giai nhân kim cổ, trong đó có Trang của anh!
“Tiếp theo đây chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với qúy vị hai người hạnh phúc nhất đêm nay, lộng lẫy nhất đêm nay, xinh đẹp nhất đêm nay. Và đêm hôm nay cũng là ngày lành tháng tốt nhất trong năm, quý vị đồng ý không nào.”
Vài tiếng vỗ tay lác đác. 
“Xin qúy vị cho một tràng pháo tay thật lớn ... Thưa qúy vị đây, đây, thưa qúy vị, cô dâu và chú rể ... cô dâu và chú rể đang từ từ tiến lên sân khấu - người điều khiển chương trình bỗng gào lên thất thanh - thưa qúy vị, xin qúy vị cho một tràng pháo tay thật lớn ... lớn hơn nữa nào, lớn hơn nữa ...” 
Tiếng trống, tiếng kèn, và tiếng gào của người điều khiển chương trình vang dội chát chúa.
Cô dâu mặc chiếc áo dài lụa trắng có thêu hình con chim phượng, quần cũng lụa trắng dài chấm gót, choàng bên ngoài bằng chiếc áo gấm thêu màu hồng, đầu chít khăn vành vàng, chân mang hài nạm cườm.  Chú rể mặc bộ lễ phục màu đen, cổ thắt nơ đen, mang giày đen đánh bóng loáng, đầu trần chải mướt.  Cô dâu đặt bàn tay trên cánh tay chú rể, hai người mặt mày rạng rỡ, nụ cười luôn nở trên môi. Hẳn là có tập dượt trước, đi chầm chậm theo khúc mở đầu trong bài Bridal March của Wargner vừa được ban nhạc tấu lên. 
Quan khách người thì đứng dậy vỗ tay, kẻ thì ngồi giật pháo cho nổ vang.  Tôi ngồi yên chăm chăm nhìn về phía Trang, lòng trống trải. Tôi không biết tôi vui hay buồn, mừng hay giận. Tôi chỉ biết tôi thường làm điều tôi không định làm rồi sau đó nghĩ lại thấy tiếc nuối, bực dọc. Sao mình lại ngu muội đưa em vào phòng ngủ dơ dáy như thế!  Sao không đưa em vào rạp chiếu bóng, cũng kín đáo vậy, cũng có thể hôn nhau tự do. Gặp em là tôi quýnh quáng, trừ một lần, phải không em. Lần đó, bên ngoài tiếng máy trực thăng, tiếng cánh quạt quay, gầm lên như bão nổi, chiếc này vừa bay đi tiếng gầm chưa kịp lắng thì chiếc khác đã ào ào đáp xuống, thôi thúc, dồn dập, hàng cây nghiêng ngả, cỏ tranh nằm rạp, lòng anh cũng nổi song. Anh ôm em hôn ngấu nghiến lúc em vừa bước vào phòng thăm anh tại bệnh viện Cộng Hòa. Em trong tay anh run rẩy như chiếc lá trong gió táp! Giấy tờ trên tay em rơi lả tả xuống nền nhà.       
Cô dâu chú rể lên đến sân khấu vừa quay người hướng về quan khách thì Trang, như có con mắt sau lưng, quay lại nhìn tôi và nhận ra ngay.  Trang giật mình đứng dậy  rồi vội vã kéo người chồng đi theo đến bàn tôi:
“Trời ơi, anh!  Ðây là anh Hưng, và đây là anh Thạch mà em vẫn thường nhắc đến.”
Tôi đứng dậy bắt tay chồng của Trang.  Hưng đề nghị ngay:
“Bàn tôi còn một chỗ trống.  Hay là thế này, xin qúy vị bàn này cho phép nhé, anh Thạch qua ngồi bàn tôi đi, nói chuyện cho vui.  Lâu quá mới gặp lại anh, chúng tôi hết sức vui mừng.”
Tôi bắt tay hai người ngồi hai bên tôi, rồi chào mọi người quanh bàn và đứng dậy đi theo vợ chồng Trang.
“Anh Thạch này," Trang không giấu nổi hồi hộp, "anh nhận ra anh Hưng không?  Anh Hưng trước kia là bác sĩ tại bệnh viện Cộng Hòa có đến chữa bệnh cho anh đó...”
Thảo nào tôi thấy quen quen.  Vào thời gian ấy, đôi khi Hưng đến khám bệnh cho tôi có Trang đi kèm.
“... Anh biết không, sau khi anh xuất viện, em mong thư anh quá. Em chờ mãi mà chẳng bao giờ được thư của anh. Sao vậy anh? Tiếp liền theo đó là những ngày đánh nhau ghê khiếp, em không biết anh ở nơi nào, đơn vị nào.  Cuối cùng em theo anh của em di tản qua Mỹ đợt đầu tiên cuối tháng tư 75. Tưởng rằng sẽ không bao giờ gặp lại anh. Thật không ngờ! Quả là trái đất tròn. Ô mình còn biết bao nhiêu chuyện để nói với nhau.  Ðể em tính xem.”
Em chờ thư tôi!  Nhưng tôi đâu dám gởi.  Em bảo tôi đừng bao giờ gởi thư cho em mà, anh nhớ cho mà.  Quả thật tôi quá ngu xuẩn.  Em nói trong lúc mất bình tĩnh sao tôi lại cứ bám riết vào lời nói lẩy đó.  Tôi cứ nghĩ tôi là thứ mặt dạn mày dày, nham nhởlì lợm đối với phụ nữ, nhưng với ai kia, chứ trước em tôi đâm ra ngại ngùng.  Tôi nhớ một lần đọc một bài thơ hay trong đó có câu:

“Chuyện lòng dài thế kỷ
Chỉ dám một lần thư...” [1]

Hồi còn trẻ tôi nghĩ rằng nhà thơ ấy quá nhút nhát trước tình yêu, nay tôi mới thấy rằng có những hoàn cảnh mà người ngoại cuộc không thể nào thấu hiểu nổi. Tôi chẳng biết nói năng làm sao, ngẩn ngơ như người mất hồn.  Hưng vừa gắp món ăn cho Trang vừa nhìn tôi ân cần nói:
“Anh bị đau chân? Có lẽ bị thấp khớp?”
Ðúng là thằng cha này có con mắt cú vọ.  Mình mới đi mấy bước mà hắn đã nhận ra, tôi thầm nhủ.
“Không, không phải thấp khớp.  Bị thương nặng hồi 75 mà không có thuốc chữa, chân tôi đã thành tật.” Tôi trả lời.
Cơn giận bỗng dưng ập tới. Tôi chau mày khó chịu. Giận người? Giận mình? Tôi định nói tiếp rằng tôi bị hư một cánh tay nữa, rằng trong đầu tôi còn một mảnh đạn chưa dám đem đi mổ để lấy ra, lấy nó ra sợ lấy luôn tính mạng của tôi, theo lời bác sĩ, rằng tôi đang hưởng phụ cấp tàn phế, rằng tôi đã chán hết thảy mọi thứ trên cõi đời này.  Tôi chỉ muốn nói một lần cho xong chuyện, khỏi ai hỏi han lôi thôi về sau.  
                Hưng cười xòa:
“Ăn thua gì!  Chì như anh tật một chân nhằm nhò gì!”
Hưng ngồi giữa tôi và Trang. Trang chăm chú nghe tôi nói nhưng có lẽ tiếng được tiếng mất.  Như những đám cưới khác, ban nhạc quá ồn ào. Nói chuyện với nhau khó khăn, ăn cũng mất ngon.
“Anh qua đây với gia đình?” Hưng tiếp tục câu chuyện.
Tôi trả lời dấm dẳng:
“Không, một mình. Một mình từ bao lâu rồi, từ hồi còn lành lặn, nghĩa là chưa có thương tật gì. Chứ  bây giờ còn nước mẹ gì nữa mà gia với đình đề huề như  anh! Tôi share phòng với người bạn ở Bolsa.”
Nói xong tôi mới thấy mình vô lý và thô bạo.  Ai có tra hỏi đâu mà phân bua, mà cằn nhằn! Hưng quay lại nói chuyện với vợ một hồi. Cuối cùng hai người đổi chỗ ngồi cho nhau, Trang ngồi giữa tôi và chồng, vui vẻ nói:
“Em tính như thế này, tiệc xong anh về nhà em chơi. Em ở nhà anh Cảnh, nhà lớn lắm. Anh Hưng cũng đã đồng ý như thế...”
Tôi gạt ngay:
“Cám ơn anh chị.  Tôi bận.  Xin để khi khác.”
Trang nhìn tôi cười ngặt nghẽo chảy cả nước mắt:
“Ủa!  Anh chị nào vậy hả anh Thạch?  Em từ New York bay qua đây dự đám cưới đứa cháu, con gái lớn của anh Cảnh.  Gặp anh Hưng ở đây, được sắp ngồi cùng bàn, may lại được gặp anh, em mừng qúa!”
Tôi nghe. Bàng hoàng sửng sốt.
Trang ngập ngừng một hồi lâu, đôi mắt lắng sâu xuống, răng cắn môi, vẫn hàm răng đẹp ngày xưa, vẫn khuôn mặt thanh tú nuớc da trắng xanh nổi bật lên giữa suối tóc đen mượt mà, cuối cùng nói:
“Anh chị Cảnh có ý định rủ em và mời anh Hưng đi chơi Yosemite mấy ngày để thưởng thức tuyết. Mà tuyết thì có gì lạ đối với em đâu.  Miền đông bắc nơi em đang ở năm nào chẳng có tuyết!  Em đã nhận lời anh Cảnh nhưng có lẽ em ... em phải nghĩ lại.  Có lẽ em phải nhân dịp này thực hiện cho được giấc mộng của em là đi xe lửa từ tây qua đông xuyên ngang  nước Mỹ.  Tha hồ đi qua bao nhiêu là tiểu bang, tha hồ ngắm cảnh."
Quay qua Hưng, Trang tiếp:
“Em đổi ý như chong chóng, anh đừng cười nhé.  Chốc nữa em sẽ nói lại với anh Cảnh ... ngày mai em trở về New York.  Ðã lỡ xin mấy ngày phép, em sẽ tận dụng.  Thay vì về bằng máy bay, em sẽ đi xe lửa." 
Món tôm hùm vừa dọn lên thì ban nhạc ồn ào cũng tạm ngừng.  Mọi người thở dài nhẹ nhõm.  Người điều khiển chương trình vẫn chưa tha, lại lên máy vi âm trổ tài ăn nói:
“Kính thưa qúy vị, theo truyền thống tốt đẹp lâu đời của ông cha ta để lại, cô dâu chú rể phải có bổn phận đi đến từng bàn để cám ơn qúy vị đã bỏ thì giờ qúy báu đến đây làm cho buổi lễ hôm nay thêm phần cao qúy và đầy ý nghĩa. Và đồng thời cô dâu chú rể và hai họ cũng xin được cùng qúy vị chụp tại mỗi bàn một tấm hình lưu niệm đời đời của buổi tiệc cưới vô cùng long trọng này, vô cùng tuyệt vời này, trên cả tuyệt vời này, thưa quý vị!”
Hưng cười cười và hạ giọng nói với tôi, khỏi phải nói to lên như nãy giờ khi bị ban nhạc quấy rầy:
“Anh qua Mỹ một mình, tôi cũng một mình qua Mỹ.  Trong thời gian tôi đi tù, vợ con tôi vượt biên và mất tích.  Chờ mãi không thấy tin tức, chắc không một ai còn sống sót."
Tôi nói vài lời chia buồn.  Hưng nói tiếp:
"Thế mà tính đến nay cũng đã hơn mười năm.  Thời gian đi vùn vụt.  Anh thấy tôi có nên bước một bước nữa hay không?  Ở một mình cũng buồn mà đèo bòng thêm - anh liếc nhìn Trang, hạ giọng xuống - thì ... chắc gì được như ý."
                Trang ngắt lời:
“Hai anh thì thầm chuyện gì vậy, tôi nghe được cả đấy. Lâu ngày mới gặp nhau tha hồ nhắc lại chuyện cũ nhé.  Nhưng bây giờ hãy bàn chuyện trước mắt cái đã. Các anh vẫn thường than phiền tiệc tùng ở đất Mỹ mất ngon vì các anh không uống rượu được.  Em thấy tội nghiệp cho hai anh quá, nhất là anh Thạch xưa nay vẫn uống rượu như hũ chìm.  Nghe nói bây giờ theo luật mới có hơi rượu mà lái xe là sẽ bị thu bằng lái ngay. Có khi bị cho vào tù. Có phải vậy hay không hai anh?” 
Hưng đáp nhanh:
“Cô Trang nói đúng.  Cô không thấy sao, anh Thạch và tôi đâu dám đụng đến cái chai rượu.  Chán thật.  Mà cả bàn mình cũng không ai dám mó tới. Vô lý, vô lý.”
                Trang bỗng reo lên:
“Hai anh khỏi lo, cứ tha hồ uống, em có cách.  Chốc nữa em làm tài xế lái xe đưa hai anh về nhà.  Xe các anh cứ để đây qua đêm, khoá lại, mai đến lấy rồi lái thẳng ra ga xe lửa tiễn đưa em luôn thể.  Ðồng ý nhé!”                              

Ðúng như tôi dự đoán, trời quang đãng dần rồi tạnh hẳn vào lúc giữa trưa. Tôi nghĩ rằng câu chuyện giữa tôi và thiếu phụ đã quá dài, và tôi không còn lý do gì để nấn ná thêm nữa.  Mà lạ thật, người đàn bà này tuồng như có một sức lôi cuốn ngầm nào đó khiến tôi đi không đành.  Nỗi bi thương trên đôi mắt tối tăm, trên khuôn mặt chợt buồn, chợt vui?  Sắc đẹp dữ dội sắp tàn phai?  Cái lối nói lúc thông minh, lúc dịu dàng, lúc cười cợt, lúc chua chát, lúc lên cơn?  Và giọng nói êm ái, thân thiết, như đã quen nhau từ lâu? 
Thế là bốn giờ chiều nay người đàn bà này sẽ một mình đáp xe bus lên đường đi về hướng đông, cũng như sáng hôm nay, cũng về hướng đông, Trang ngồi một mình cạnh cửa sổ toa xe thò đầu ra nhìn lui mãi, cánh tay vói ra ngoài cửa xe vẫy vẫy không ngừng.  Hưng rối rít vẫy tay đáp lại trong khi tôi đứng ngẩn ngơ như đang chứng kiến một cái gì hết sức quý giá càng lúc càng khuất xa tầm tay với.  Giờ này Trang đã đến đâu?  Xe lửa có đưa Trang đi ngang qua Green River, Salt Lake City trước khi thẳng đường qua Nữu Ước?  Có thể nào tôi gặp lại Trang hay không?  Lần gặp nhau ngắn ngủi này phải chăng là lần cuối cùng? Là vĩnh biệt?  Tôi bỗng thấy nhói nơi tim và bỗng dưng nhớ bệnh viện Cộng Hòa da diết.  Nhớ tiếng máy bay trực thăng gào thét. Nhớ căn phòng thơm mùi thuốc lẫn mùi môi son thoang thoảng.  Nhớ xấp hồ sơ trên tay em rơi xuống sàn nhà. Và nhớ nụ hôn.
Trước khi lên toa xe lửa Trang nói với tôi và Hưng:   
“Khi nào rảnh rổi, thế nào hai anh cũng phải qua em chơi nhé.  Anh Hưng thì đã biết chút ít về việc học hành của em rồi, nhưng em cũng phải cho anh Thạch hay rằng hiện em đang thực tập tại một bệnh viện ở New York.  Nửa năm nữa là xong nợ.”
“Cô Trang giỏi qúa," tôi tiếp lời.  "Qua New York học bác sĩ  để ... để cái bằng được thêm giá trị chứ gì.  Trước khi hành nghề, cô đã cẩn thận gây dựng tiếng tăm dần dần."
“Không phải đâu anh," Trang vui vẻ đáp. "Mình qua đây chậm trễ mong được làm nghề cũ đã là may rồi, khoan tính đến chuyện tiếng với tăm làm gì.  Trước kia em ở bên này với anh Cảnh để tiện đi học lấy bằng tương đương.  Em đã thi đậu xong mấy phần đầu nhưng còn phải học thêm và thực tập thêm cho đủ số tín chỉ cần thiết.  Muốn dễ đậu chỉ có cách đi xa... "
Tôi ngắt lời:
"Cô Trang nói nghe lạ quá, tôi chẳng hiểu gì cả."
"Nghĩa là lấy bằng bác sĩ tại UCLA của California khó lắm.  Phải đi đến học và thực tập tại những bệnh viện tồi tàn, hẻo lánh, ở các ngoại ô xa lắc của New York chẳng hạn, những nơi không ai thèm tới, nơi bệnh nhân đa số là người nghèo, người da đen, như thế mới dễ đậu.  Kệ nó, miễn cho xong cái bằng.  Hai anh liên lạc với em đều đều nhé.  Viết thư cho em - Trang kín đáo nhìn tôi - dài ngắn gì cũng được, đừng gọi điện thoại. Hai anh đừng bắt em chờ thư nhé!”
Trang muốn mình gởi thư?  Trang ý tứ lắm! Vâng, thư mới nói được hết những gì mình muốn nói.  Mà nói gì đây?  Anh yêu em, anh chờ tin tức của em mãi mà không được từ ngày anh rời bệnh viện Cộng Hoà và gặp em lần cuối cùng đó.  Quả thật mình  nghĩ nhiều đến Trang, trong lòng khổ sở, mà không kiếm được ngày phép để tìm Trang. Rồi biến cố dồn dập, rồi bị thương nặng ... Mình phải kể lể, tả oán cho thật lâm ly mong Trang mủi lòng, họa chăng mình mới có thể hạ được địch thủ là cái thằng bác sĩ kỳ đà cản mũi này.  Em không còn trẻ, anh sắp già, cả hai đều trải qua bao nhiêu lao đao chìm nổi, nay may gặp lại nhau có lẽ nên cho nhau những ngày còn lại của cuộc đời?  Nhưng em còn có tương lai rực rỡ trước mặt, trong khi anh ...
Giọng cười của thiếu phụ đưa tôi về thực tại:
“Ông đang nghĩ gì mà thừ người ra như thế thưa ông?”
Tôi chống chế:
“Tôi nghĩ rằng trời sắp tạnh hẳn rồi, có lẽ tôi sắp phải từ giã cô.”
Thiếu phụ chau mày, mắt tối sầm:
“Thế mà tôi cứ nghĩ là ông ... Nhưng, trước khi ông đi, tôi có thể nhờ ông giúp hộ cho một việc nữa, được không ạ.  Như ông đã biết, tôi mù tịt tiếng Anh. Tôi mạn phép mời ông tới cửa hàng đằng kia, chỗ có bán thức ăn gì đó.  Họ bán gì vậy, thưa ông ... rồi mình ăn trưa.  Tôi cũng không biết gọi món ăn, chưa bao giờ vào một quán ăn Mỹ hay Mễ nào cả.  Trễ xe phải đến sáng ngày mai mới tới nhà, không có một chút gì lót  lòng chịu sao nổi, thưa ông.”
Tôi đứng dậy nói với thiếu phụ:
“Cô cứ ngồi đây trông hành lý. Tôi đi mua cho cô ngay. Rồi tôi còn phải đi gấp... Họ bán gì nào?  Tôi mua Sandwich, Hamburger, và Potato Chip nhé?  Và vài chai nước lọc nữa chứ.”
Bỗng nhiên người đàn bà cúi gập người xuống, úp mặt vào hai bàn tay, đôi vai rung rung. Tiếng nức nở bị dồn nén.  Hai hành khách ngồi ghế đối diện với chúng tôi cúi mặt. Rồi cô gái da đen ngẩng đầu nhìn tôi săm soi, khó chịu. Anh chàng tóc vàng kín đáo hơn mỉm cười chào tôi rồi kéo cô bạn gái đi đến tiệm ăn của nhà ga. Tôi cũng khó chịu không kém, đứng yên nhìn người đàn bà lạ lùng này. Sau một hồi, thiếu phụ buông tiếng thở dài, ngửng mặt nhìn tôi, nước mắt còn ràn rụa:
“Tôi làm phiền ông quá, xin lỗi ông.  Có lẽ tôi khỏi nhờ ông mua thức ăn.  Nhưng ông có thể ngồi nán thêm một chút nữa hay không để tôi có thể nói thêm đôi lời. Tôi khổ tâm lắm!  Tôi không muốn về với em gái tôi nữa.  Ở đó thêm một thời gian tôi sẽ chết mất.  Chắc ông không tin?" 
"..."
"Vâng, tôi sẽ kể hết mọi chuyện cho ông nghe. Mà cũng lạ thật, gặp ông có bao lâu đâu thế mà tôi nghĩ rằng tôi có thể tâm sự với ông. Tôi có thể nói hết mọi chuyện cho ông nghe không chút ngại ngùng ... thì lòng dạ tôi sẽ được thanh thản một phần nào. Và biết đâu ông cũng có thể cho tôi vài lời khuyên nhủ.” 
Tôi lẳng lặng ngồi xuống.
“Tôi thương em tôi lắm.  Chồng con tôi đã chết hết, trong đời này tôi chỉ còn có em tôi.  Nó nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, nó coi tôi như mẹ. Thế mà tôi đành phải xa nó. Tôi qua Cali tìm nhà người bạn cũ xin tá túc một thời gian, nếu được thì ở luôn.  Nhưng có nhiều điều bất tiện quá!
“Không sao đâu cô. Dần dần mọi chuyện đều đâu vào đấy. Mọi khó khăn sẽ tự nhiên trôi qua, trôi qua đi mất hết.”
Thiếu phụ dường như không nghe tôi nói gì, tiếp lời:
Ở bên nhà, người ta trải lòng với nhau mà sống, còn bên này ai cũng thủ kỹ, ai cũng sợ chuyện bất trắc có thể xẩy đến, ai cũng sẵn sàng tử tế với nhau dăm ba lần rồi thôi, rồi thun cổ lại kín bưng trong cái mai con rùa của mình.  Có phải không ông?  Thậm chí có người quen cũ vừa mới gặp tôi liền vội vã kéo tôi vào quán ăn ép tôi ăn một món nào đó như  để trả cho xong món nợ quỷ thần.  Rồi hối hả bỏ đi quên hỏi tôi hiện giờ ở đâu, làm gì sống ... Không kiếm được chỗ ở bên này, tôi đành phải nhờ người ta mua vé cho tôi lộn về bên đấy."
Phòng đợi bỗng xôn xao kẻ vào người ra. Lại xe đến, xe đi. Thiếu phụ ngừng nói, dáo dác nhìn ra ngoài bãi xe đậu.  Một gia đình người Mễ Tây Cơ, hay người Trung Mỹ, Nam Mỹ, gồm sáu bảy người già, trẻ, lớn, bé đến gần chỗ chúng tôi ngồi đặt những xách hành lý cồng kềnh, ướt át, xuống choáng cả lối đi giữa hai hàng ghế.  Họ là những người nghèo nàn, như chúng tôi, ăn mặc nhếch nhác, tóc tai bù xù, da sạm nắng, nói năng ồm ồm như chỗ không người.  Lũ trẻ thì chạy quấn quýt nô đùa thoải mái.  Tôi để ý rằng rất ít người Mỹ da trắng sử dụng phương tiện chuyên chở này. Tôi bỗng nhớ Trang sáng hôm nay, xinh đẹp, dịu dàng, sang trọng, trông như một nàng tiên lạc bước vào cõi trần ai trong đó đang có tôi mệt nhọc, chán nản, và có người đàn bà buồn vui thất thường này, và có những người Mễ vô tư, hồn nhiên.
Tôi tưởng phải nên nói một lời an ủi chung chung:
"Cô cũng đừng nên lo buồn thái quá.  Gia đình nào cũng có chuyện bất như ý.  Rồi thời gian sẽ là ông thầy thuốc chữa mọi thứ bệnh, mọi nỗi khổ của con người."
Thiếu phụ quắc mắt nhìn tôi, gằn giọng:
"Nhưng ông biết gì về chuyện gia đình của tôi mà bàn ngang như thế.  Ô, ô, tôi xin lỗi ông.  Tôi lại ... xin ông đừng chấp." 
Thiếu phụ ngồi im một chốc, như để trấn tĩnh, rồi tiếp:
"Có lẽ tôi phải đem việc nhà của tôi kể hết cho ông nghe ông mới biết được tôi lâm vào hoàn cảnh khó xử đến dường nào.  Tôi khổ tâm lắm thưa ông, nói ra thật xấu hỗ. Tôi sợ một ngày nào đó em tôi biết hết mọi chuyện, nó sẽ đau đớn vô cùng, và tôi cũng không sống nổi."
Người đàn bà lại thổn thức, nước mắt ràn rụa làm lem lớp phấn mỏng trên khuôn mặt đau khổ. Tôi đứng dậy loay hoay kiếm từ trong túi quần một miếng khăn giấy nhàu nhò đưa cho thiếu phụ.  Người đàn bà cầm lấy, chặm chặm lên trên đôi mắt chớp chớp, và nói tiếp:
"Tôi không ngờ thằng chồng nó khốn nạn đến thế.  Thằng đó mất việc làm, em tôi phải đi làm hai việc, ban ngày đi may, ban đêm phụ bếp cho một tiệm ăn Tàu.  Tôi ở nhà một mình ... Tôi không chống cự nổi nó.  Tôi không dám thưa cảnh sát, mà cũng không biết làm sao mà thưa.  Mà dù có nhờ người nào đi thưa giùm, làm to chuyện, thì người khổ nhất vẫn là em tôi và tôi.  Nhưng cứ để yên như thế này thì cũng có ngày đến tai em tôi.  Cho nên tôi phải đi, phải rời khỏi ngôi nhà đó!  Tôi còn có cách nào khác nữa đâu thưa ông.  Ông là người ngoại cuộc, ông sẽ thấy rõ vấn đề hơn, xin ông cho tôi một lời khuyên nhủ.  Tôi sẽ làm theo ý kiến của ông ngay.”
Thật là trớ trêu! Tôi mà khuyên nhủ được ai!  Chuyện của mình còn rối nùi, còn hơi sức đâu xía vào chuyện người khác.  Tôi đang băn khoăn mãi vì câu chuyện giữa tôi và Trang.  Làm thế nào bây giờ.  Một là mình cố nặn óc ra viết một bức thư  thật dài, thật lâm ly mong sao khi đọc Trang sẽ xúc động mạnh.  Rồi mình trở lại với Trang làm lại cuộc đời.  Làm lại cuộc đời trước khi xế bóng?  Liệu có được không?  Hai là nói thẳng với Trang rằng mình bị thương nặng đến mang tật suốt đời, và khổ nhất là mảnh đạn còn nằm trong đầu ... sẽ là một gánh nặng kinh khủng cho Trang.  Thế là ... có lẽ Trang sẽ chọn Hưng.  Nồi nào úp vung ấy, xứng đôi vừa lứa.  Ba là cứ để cho mọi chuyện tự nó giải quyết lấy, tới đâu hay đấy.  Chọn giải pháp nào đây?  Có lẽ phải nhờ người đàn bà này giúp ý kiến chăng, tôi cay đắng tự nhủ.
Nén tiếng thở dài, tôi chán nản nói:
“Chuyện buồn thì ai cũng có. Mỗi người buồn mỗi cách, chẳng ai giống ai.  Không chừng hoàn cảnh của tôi còn bế tắc hơn nhiều. Tôi cũng đang khổ tâm lắm cô ơi. Tốt hơn hết là đường ai nấy đi, việc ai nấy lo.  Nằm trong chăn mới biết chăn có rận.  Không nên chĩa mũi vào việc của người khác.”
Nói xong tôi mới tự thấy mình lố bịch quá. Vẫn cái lối nói vớ vẩn cố hữu.  Thiếu phụ đã bớt thổn thức, trố mắt nhìn tôi lộ vẻ thương cảm:
“Thì ra ông cũng đang có chuyện buồn!  Tôi đã đoán biết như thế ngay từ lúc tôi mới gặp mặt ông.  Trông ông ... trông ông làm sao ấy ..."
Tôi hơi ngạc nhiên vì nhận xét đó.
"... cho nên khi tôi hỏi ông, về chuyện gì nhỉ, à mấy giờ rồi phải không thưa ông, chẳng qua là tôi muốn bắt chuyện với ông đó thôi, để có thể ..."
"Thế à?" tôi ngắt lời và bỗng cảm thấy bực bội.  "Thế có nghĩa là nãy giờ cô ... cô bịa chuyện, cô đóng kịch cho tôi xem?"
Người đàn bà sửng sốt, thu mình lại, lắp bắp nói:
"Ô, ô, xin lỗi ông.  Nhưng tôi nói chưa hết ý ... Chứ thật ra tôi đâu tệ đến nỗi bịa chuyện để đùa cợt với ông.  Tôi xin lỗi ông một lần nữa vậy."
Nói xong thiếu phụ cúi gầm mặt, đôi rèm mi dài chớp chớp nhè nhẹ, nhan sắc đang tàn phai sáng lên một chút như ánh đèn đường buổi chiều mùa hạ vừa được bật lên dù trời còn sáng trưng.  Tôi lúng túng.    
Chiếc xe bus Grey Hound đang tiến vào, trên kính trước xe có treo bản San Diego - Los Angeles. Tôi nhìn đồng hồ, mới hơn 12 giờ trưa.  Chuyến đi Salt Lake City phải 4 giờ chiều mới khởi hành tại đây, có lẽ cũng từ San Diego đến.  Phòng chờ và bãi đậu xe lại nhốn nháo năm, mười phút.  Vài người đang chơi trò chơi điện tử cạnh quầy bán vé vội rảo bước đi ra ngoài để đón thân nhân đưa lên xe nhà và lái đi mất hút.  Vài ba hành khách đang nằm ngủ trên chiếc ghế băng ngồi nhổm dậy nhìn ngơ ngác rồi nằm xuống ngủ tiếp.  Một số hành khách mới đến lại sắp hàng dài trước quầy bán vé đứng chờ người bán vé vừa đi ăn "lunch".  Tôi đến quán ăn nhà ga mua mấy món ăn và hai chai nước lọc. Trở về thấy thiếu phụ vẫn ngồi chỗ cũ, mặt buồn rười rượi. Tôi không biết xử trí ra sao, đành ngồi bên cạnh thiếu phụ, im lặng. Thiếu phụ mở lời trước, và nói một hơi như thể sợ tôi ngắt lời:
"Nẫy giờ ngồi một mình tôi có dịp suy nghĩ kỹ rồi.  Xin ông giúp tôi một lần nữa nhé thưa ông.  Tôi quá đường đột, nhưng xin ông làm ơn, làm ơn thì làm ơn cho trót.  Là ... là tôi không dám về bên đó nữa.  Tôi sợ thằng em rể ấy lắm.  Xin ông xem thử có thể chỉ cho tôi một chỗ share phòng rẻ tiền gần khu người Việt Nam mình ở để tôi sống tạm bên này một thời gian.  Tôi sẽ kiếm việc đi làm ngay, bất cứ việc gì.  Tôi biết thêu, biết ren, biết đan.  Tôi cũng may vá giỏi.  Tôi cũng biết nấu ăn.  Hoặc giữ trẻ, đánh đàn cho chúng nó nghe, hoặc giặt giũ, hoặc quét sân, chùi nhà, lượm rác.  Hoặc chặt cá, chặt thịt ngoài chợ.  Hoặc chăm sóc ông già bà cả.  Viêï gì tôi cũng làm được. Dần dà tôi sẽ tính chuyện gặp lại em tôi sau.” 

*

Tôi đưa Thu, tên người đàn bà gặp ở bến xe, về ở tạm nơi căn phòng chật hẹp của tôi khu phố Bolsa.  Rồi sẽ tính sau.  Cứ thế ngày này qua ngày khác, chúng tôi sống bên nhau, trong khi đó tôi luôn luôn nghĩ đến Trang.  Tôi viết cho Trang một lá thư ngắn ngủi, nhạt nhẽo, và giấu kín chuyện tôi và Thu.  Trang trả lời ngay, giọng thư có chút hờn trách.  Trong lá thư gần đây nhất, Trang cho biết Hưng sẽ qua New York chơi.  Và “anh có định qua đây chơi hay không, em đang chờ anh đây nhé.  Xin anh cho em biết gấp!”  Tôi phân vân mãi.  Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa trả lời Trang một cách dứt khoát.
Sau đó tôi nhờ người quen kiếm được cho Thu một việc làm tại hãng sản xuất sáo mành mành bằng nhựa với đồng lương tối thiểu.  Thu mừng rỡ một cách tội nghiệp, vì dù sao đó là một việc làm đều đặn, ổn định, có giờ giấc đàng hoàng, cứ hai tuần lại có một chi phiếu của hãng gởi về.  Ðồng lương tối thiểu, 5 đô-la một giờ, nhưng đối với Thu là cả một món tiền ngoài mơ ước.  Thu đi Mỹ theo diện em bảo lãnh nên không được hưởng phụ cấp xã hội.  Tôi cũng tìm được một căn phòng nhỏ cho Thu thuê với giá thật rẻ.  Nhưng Thu không chịu dọn đi nơi khác.  Tôi không nỡ và không muốn mời Thu đi.  Từ đó chúng tôi sống với nhau.  Thu rất ý tứ và dịu dàng.  Thỉnh thoảng muốn gợi ý về câu chuyện riêng của tôi, chuyện lòng của cả một đời, nhưng khi thấy tôi im lặng, Thu nói lãng qua chuyện khác ngay. 
Một hôm sau bữa tiệc cưới con trai người bạn chiến hữu ngày xưa, tôi mang về một chai rượu Martell còn thừa hơn ba phần tư.  Như thường lệ, chả ai dám uống nhiều.  Có lẽ tôi phải nói thêm rằng tôi luôn luôn đi ăn cưới một mình, không mang Thu theo.  Và tôi cũng chỉ giới thiệu Thu với vài người bạn thân của tôi mà thôi.  Tội nghiệp, Thu không dám, hoặc không thèm, tỏ ý bất mãn.  Tại sao tôi cư xử với Thu như thế nhỉ?  Tại vì tôi sợ câu chuyện này mà phổ biến ra sẽ có ngày đến tai Trang?  Nhưng tôi có mong gặp lại Trang của tôi nữa đâu mà phải đề phòng cẩn thận như thế. Hả trời!  Hay là tôi vẫn nuôi chút hy vọng? 
Tôi và Thu tôi sống bên nhau một cách tạm bợ.  Tôi nghĩ rằng nếu Thu tìm được cuộc sống ổn định hơn, có lẽ nàng sẽ xa tôi và tôi cũng sẽ đồng ý, không chút oán trách.  Vâng, Thu dù sao cũng còn có chút tương lai, chứ đâu phải như tôi. Tuy nhiên trong lúc còn sống bên nhau, Thu cư xử với tôi thật chu đáo.  Cô nấu ăn ngon, nhà cửa dọn dẹp ngăn nắp, áo quần của tôi Thu giặt giũ, ủi, xếp gọn gàng.  Bàn tay phụ nữ thật kỳ diệu!
“Ăn cưới vui không anh?  Lại mang rượu về!  Ðể em xem nào ... có con cá chép thật tươi ngày mai em làm món gỏi mà anh ưa thích.  Tha hồ nhậu với anh Chấn đấy nhé."
Tôi cao hứng:
“Nó đang tươi rói thì phải ăn ngay, chờ đến ngày mai làm gì cho phí của.  Em làm đồ nhắm ngay bây giờ đi, rồi em nhậu với anh.”
“Nhưng anh vừa ăn cưới xong?”
“Có sao đâu. Bây giờ anh nhậu với em chứ có phải ăn đâu.”
“Ủa, ăn và nhậu khác nhau sao?” Thu cười cười hỏi.
Chưa bao giờ nhậu với Thu, tôi không biết Thu có uống được rượu hay không.  Nhưng lo gì, cứ ép là cô này chiều ý mình ngay.  Thu luôn luôn ngoan ngoãn vâng lời.  Vã lại trong tiệc cưới tôi chỉ mới uống một tí Martell.  Là vì đâu có Trang, để Trang của tôi, để em của anh, đẹp đẽ, quý phái, như nàng tiên chưa gãy cánh lọt xuống trần ai khổ lụy, lái xe đưa anh về nhà, để em bảo anh ngồi ghế trước kề bên em, để em tranh thủ hỏi anh thật nhiều chuyện cho thỏa lòng tò mò, em nói thế nhưng thật ra đó là cho thoả lòng mong nhớ.  Anh Hưng chịu khó ngồi ghế sau nhé, hay là anh Hưng có muốn thì hai anh cứ oánh tù tì đi cho công bằng -- tiếng nói trong veo, quen thuộc và thân yêu từ thời thơ ấu của em nghe như lời ru của quê hương, của dòng sông, của vườn cau, vườn chuối, vườn cây có nhiều trái chín mùa hè, của sương, của gió, của mưa, của nắng, của suối, của mây, của ... của mẹ. Ngồi uống rượu với Thu mà tôi nhớ Trang muốn rơi nước mắt.
Thế là lần đầu tiên tôi và Thu cùng uống rượu đối ẩm thân mật với nhau tại nhà. Rót ra hai ly, cho đầy soda vào vàng sóng sánh, cụng ly kêu cái keng, đàng hoàng.  Thu chỉ cố nhấm nháp chút ít để chiều tôi, uống mãi mà không hết phần mình.  Uống xong một ngụm nhỏ, nàng thun vai, nhăn mũi, chau mày.  Hai má cũng đỏ hồng lên, trông thật ngộ.  Còn tôi, hết ly này đến ly khác.  Anh, thôi anh đừng uống nữa, mà anh phải ăn vài miếng cho nhả rượu đi chứ.  Không, không sao đâu em, lâu lắm mới được say bên em một lần. 
Hơn ba phần tư chai rượu mạnh đó dần dần không còn một giọt.  Tôi nói chuyện huyên thuyên không chút giữ gìn.  Rượu vào lời ra, chắc là Thu nghĩ như thế.  Ðược thể, Thu xa xôi gợi lại câu chuyện cũ mong tôi "thành thật khai báo" mọi thứ.  Tôi cũng mượn hơi rượu nói lè nhè mặc Thu muốn hiểu thế nào thì hiểu:
“À, người đẹp mà anh tiễn đưa ở bến xe lửa, ờ, ờ, ở 'ga tầu hỏa' đó hả.  Em nói đúng, đâu phải em gái của anh, phải nói đó là cô bạn gái của anh như em đã đoán.  Ðàn bà đoán có bao giờ sai đâu!  Em biết không, đàn ông bọn anh ai cũng thế cả, cá mè một lứa, ai mà không muốn ôm ấp trong tim hình bóng một người tình tưởng tượng.  Tưởng tượng thôi nhé!  Nhưng anh khác, anh không cần phải tưởng tượng hay mơ mộng lôi thôi, là vì ... là vì anh đã có Thu của anh đây.
Thiếu phụ ngồi yên lắng nghe, thỉnh thoảng cười nhẹ, khuyến khích.
Thu, ôi mùa thu của đời anh!  Chứ chưa phải là mùa đông!  Ðời anh đã cuối đông chưa em?  Nè, nè, mới gặp em, trái tim của anh đã muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.  Ðừng!  Ðừng vội phản đối, đó là sự thật đấy.  Bằng chứng là nhờ đó mà ngay bây giờ anh và em đang ngồi bù khú bên nhau như thế này.  Hả?  Cái gì đó nữa?  Ngoài em anh còn yêu ai nữa chăng?  Không còn ai nữa ... Thật đấy ... Ừ thì còn, còn lu bù, nhưng rồi có lẽ cũng chẳng đi đến đâu, phải không em.  Chỉ có em anh không bao giờ quên.  Gặp nhau rồi xa nhau rồi gặp nhau rồi xa nhau, biết bao nhiêu lần! Số kiếp mình đã buộc vào nhau từ hồi còn tấm bé, phải không em. Thế mà ... Anh say, nói bậy.  Thế sao? Chỉ gặp em một lần ngoài bến xe đò thôi à?  Em khỏi cần nhắc anh cũng nhớ rõ, em tay vẫy vẫy, vâng, em sẽ đi về thành phố có con sông xanh, một mình, đêm khuya. Tội nghiệp em quá...
Thu không tỏ vẻ sốt ruột, kiên nhẫn ngồi chờ tôi nói ba hoa, rồi chậm rãi nói: 
"Anh ơi, em muốn nghe anh nói thật mà anh cứ làm bộ say đánh trống lãng. Nhưng có điều này thì đã rõ, anh như con bướm muốn bay hết cái hoa này tới cái hoa khác.  Còn em là đàn bà, em không muốn thế.  Em khổ đã nhiều, cầu mong được ổn định, được yên thân."
Tôi bần thần nhìn Thu, cầm lấy cái chai không dốc ngược lên chơi, còn thèm hả, say hả, rồi đặt nó xuống mép bàn, nó ngã, suýt lăn xuống đất, chụp lại được, cầm lên làm bộ uống, rồi chìa ra mời Thu.  Thu vội cầm lấy chai, lặng lẽ đặt nó dưới gầm bàn, và nhìn tôi bằng đôi mắt là lạ mà tôi không thể nào hiểu nổi.  Oán trách?  Thương hại?  Khinh bỉ?  Hay yêu? Tôi có cảm giác như tôi đang đi trên trực thăng, sắp đáp xuống, chao qua chao về, có tiếng đạn bay vèo vèo, cỏ tranh ngã rạp về một phía, mà đầu óc thì chứa đầy mưa phùn, đầy sương mù, đầy hơi rượu. 
Ngày mai nhé, sau cơn say, anh sẽ viết thư cho Trang.  


[1] Thơ Tuệ Quang

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)