Đàm Trung Pháp: Một Thoáng Hương-Vị Thi-Ca Trữ-Tình Ý-Ngữ

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 7 năm 2016

Lời Tòa Soạn DĐTK.- Diễn Đàn Thế Kỷ rất hân hạnh giới thiệu với độc giả Giáo sư Đàm Trung Pháp, một cây bút sẽ cộng tác với Diễn Đàn của chúng ta về những đề tài văn học. Với lối viết đơn giản dễ hiểu, tác giả sẽ giới thiệu các tài năng văn học từ nhiều nước trên thế giới.

Sau đây là một số thông tin về Nhà giáo Đàm Trung Pháp, người đã dạy học liên tục trong gần nửa thế kỷ, từ Việt Nam sang Mỹ, với chuyên môn về Ngôn Ngữ Học.

Quá trình học vấn:

Bachelor of Arts (English literature and foreign languages) [Miami University, 1962]

Master of Science (Linguistics, thesis: “The concept of ‘word’ in Vietnamese”) and ABD (Linguistics, proposed dissertation: “An analysis of syntactical errors made in English by Vietnamese speakers” [Georgetown University, 1965]

Tiến sĩ (Ngữ học giáo dục, luận án: “An analysis of syntactical errors made in English by Vietnamese speakers: Implications for ESL instruction” [Viện Đại Học Saigon, 1974]


Tại Việt Nam đã giữ các nhiệm vụ giảng huấn và điều hành dưới đây cho Bộ Giáo Dục và Viện Đại Học Saigon:

Giám đốcTrung-Tâm Thính-Thị Anh-Ngữ kiêm nhiệm giám đốc Trường Sinh-Ngữ trực thuộc Bộ Giáo Dục (1968-1970)

Giám đốc Trung-Tâm Sinh-Ngữ, hậu thân của hai cơ sở trên, khi Bộ Giáo Dục sáp nhập chúng thành một, với danh xưng mới và đặt trực thuộc Viện Đại Học Saigon (1971-1975)

Giảng sư English linguistics ESL methodologies tại Đại Học Sư Phạm Saigon (1968-1975)

Tại Hoa Kỳ sau quốc nạn 1975, tiếp tục làm giáo dục với các nhiệm vụ giảng huấn và quản trị dưới đây:

Lecturer of English, San Antonio College, Texas (1976-1980)
Director of world languages, Dallas Independent School District, và Visiting professor of linguistics, University of Texas at Dallas (1981-1998)
Associate professor of linguistics, Texas Woman’s University (1998-2004)
Professor of linguistics kiêm nhiệm Program administrator for bilingual and ESL education, Texas Woman’s University (2004-2012)
Professor of linguistics emeritus (tước vị danh dự do Texas Woman’s University ân tặng khi về hưu năm 2012)

Về nghiên cứu và sáng tác, đã biên soạn một số tài liệu giáo khoa đại học, điển hình là cuốn A Contrastive Approach for Teaching ESL to Indochinese Students (do Intercultural Development Research Association xuất bản năm 1980 tại San Antonio, Texas). Và từ 2006 đến 2011, được các đồng nghiệp chỉ định làm series editor cho chuyên san Critical Issues in the Education of English Language Learners (do Federation of North Texas Area Universities bảo trợ và xuất bản).

*

MỘT THOÁNG HƯƠNG-VỊ THI-CA TRỮ-TÌNH Ý-NGỮ

ĐÀM TRUNG PHÁP GIỚI-THIỆU VÀ CHUYỂN-NGỮ


LỜI PHI LỘ: Xin mời bạn đọc thưởng lãm đôi chút thơ trữ tình của các đại danh Cavalcanti, Dante, Petrarca, Boccaccio, và Tasso. Đây là những bài thơ cổ điển đẹp, vui cũng như buồn, được làm hấp dẫn thêm lên nhờ vào bóng giáng những người đẹp mang tên Beatrice, Francesca, Laura, Fiammetta, và cả một nữ mục tử vô danh. Vì biết rằng người dân Ý từng khắt khe lên án “traduttore, tratore” (dịch giả, kẻ phản bội), bút giả phải cố gắng hết mình, sao cho bản dịch không phản bội ý nghĩa của nguyên tác. Rất mong được cảm thông và miễn chấp.

Khi mới chín tuổi đầu, Dante Alighieri (1265-1321) đã gặp Beatrice là cô bé gái cùng tuổi bên lối xóm, đẹp cả người lẫn nết như một thiên thần. Từ phút đó trở đi, ái tình ngự trị linh hồn của cậu bé mà sau này trở thành một thi hào của nhân loại. Beatrice về sau lấy một một chủ ngân hàng giàu có, và có lẽ nàng cũng chẳng bao giờ biết đến mối tình lặng lẽ mà Dante đã trọn vẹn dành cho nàng. Sau khi cành thiên hương Beatrice thoắt gẫy lúc mới 24 tuổi đời, Dante sáng tác tuyển tập Vita Nuova (Cuộc Đời Mới) để ca tụng nàng như một niềm hứng khởi vô biên. Nàng trở thành một thứ mặc khải thần linh đã hướng dẫn Dante trên Thiên Đàng đến nơi gặp Thượng Đế trong đại tác phẩm Divina Commedia (Hài Kịch Thánh Thần) của Dante.  Trong một cảnh của tác phẩm để đời này, kiều nữ Francesca bị đầy đọa tơi bời dưới địa ngục. Khác hẳn Beatrice, Francesca là một nhân vật rất “người” với những nét yếu đuối mong manh của một phụ nữ. Nàng trẻ đẹp duyên dáng mà lại bị bó buộc lấy một người chồng vừa già vừa vô duyên, lại thêm xấu trai. Trái tim Francesca sau đó đã dành cho người em chồng hào hoa mang tên Paolo, trong dịp họ cùng đọc chung câu chuyện về nụ hôn say đắm nhưng bất chính giữa hiệp sĩ Lancelot và hoàng hậu Guinevere (vợ vua Arthur). Cùng đọc tới đoạn gây cấn đó, chị dâu Francesca và em chồng Paolo cũng ... hôn nhau vũ bão như trong sách. Tội lỗi bắt đàu từ đó. Khi khám phá ra mối tình bất chính, người chồng bị mọc sừng đã giết cả hai. Lúc đền tội dưới địa ngục, Francesca nhớ lại giây phút nàng và Paolo sa ngã:

Tới đoạn tả tiếng cười đầy ham muốn [Quando leggemmo il disiato riso]
được người tình phủ kín bởi nụ hôn [esser baciato da cotanto amante]
thì chàng đã kết với tôi làm một [Questi, che mai da me non fia diviso]
miệng hôn tôi mà bủn rủn thân mình [La boca mi baciò tutto tremante]

Guido Cavalcanti (1260-1300) là bạn thân của thi hào Dante. Cavalcanti là thủ lãnh trường phái Dolce stil nuovo (Lối viết mới ngọt ngào) mà chủ đích là để tán dương phụ nữ. Tán dương phái đẹp thực ra đâu có gì mới mẻ, nhưng cái “mới ngọt ngào” của trường phái Cavalcanti là niềm tin rằng tình yêu chỉ có thể phát sinh trong những con tim hào hiệp cao nhã và phái đẹp chính là những thiên thần giáng thế để cứu độ các đấng mày râu! Như vậy, tình yêu dành cho một phụ nữ cũng là tình yêu dâng lên Thượng Đế. Cavalcanti làm nhiều thơ, nhưng những bài hay nhất của ông lại là những bài ngăn ngắn trong đó triết lý khô khan bị quên lãng mà chỉ còn những tình ý cá nhân chan chứa. Bài thơ In un boschetto (Trong rừng thưa) là một tuyệt chiêu nói về cuộc gặp gỡ như mơ giữa thi nhân và một nữ mục tử trong rừng. Yếu tố thành khẩn và bộc trực trong cảm nghĩ của cô mục tử trong bài thơ làm người đọc khó quên được nàng. Nàng diễm lệ như thế này thì còn ai hơn được nàng:

Trong rừng thưa tôi gặp nàng mục tử  [In un boschetto trova pasturella]
hơn cả sao trời – nàng đẹp như mơ [Piu che la stella – bella al mi parere]

Tóc vàng óng ả, da thịt hồng tươi, đôi mắt long lanh tình ái, nàng đang chăm sóc đàn cừu non. Mà gợi cảm thay:

Và đi chân không, ướt đẫm sương mai [E scalza, di rugiada era bagnata]
nàng hát ca như say hương tình ái [Cantava come fosse inamorata]

Thi nhân choáng váng, chào nàng làm quen và muốn biết nàng có ai đi cùng với nàng không. Dịu dàng nàng thưa:

Rằng cô đơn cô độc em băng rừng [Che sola sola per lo bosco gia]

Như thể đã quen thi nhân từ lâu, nàng thỏ thẻ cho biết mỗi khi nghe tiếng chim ca nàng lại thầm ước có được người yêu. Dịp may tới rồi, thi nhân tự nhủ, vì nàng còn lẻ bóng mà chim chóc lại đang ca hát tưng bừng. Chàng thử lửa:

Tôi chỉ xin ân huệ hôn nàng [Merzè le chiesi sol che di baciare]
và ôm ấp – nếu cùng ước vọng [e d’abbracciare – le fosse’n volere]

Nắm tay thi nhân, nàng cho biết trái tim đã trao chàng đó. Tay đan tay, họ đi dưới những cành cây tươi tốt, quanh chân họ hoa sắc muôn màu. Nàng chẳng còn là mục tử tầm thường nữa đâu, vì:

Chốn này cuộc sống vui như hội [E tanto vi sentido gioia e dolzore]
thần tình yêu – chắc hẳn nàng rồi [che dio d’amore – parmevi veder]

Người dân Ý yêu bài thơ In un boschetto bất hủ này của Cavalcanti vì tác giả đã thần thánh hóa một cách kỳ diệu một phụ nữ không quyền quý cao sang.

Một đại danh nữa trong văn chương Ý là Francesco Petrarca (1304-1374). Thi hào này mở ra một kỷ nguyên mới cho văn chương mà đặc trưng là mến mộ thiên nhiên, say sưa thế tục, nhưng cũng có nhiều trăn trở trong hồ nghi và mâu thuẫn.  Ông làm nhiều thơ bằng tiếng La-tinh khiến ông danh tiếng lẫy lừng, nhưng dân chúng mến mộ ông nhiều hơn vì những bài ca trữ tình hoa mỹ viết bằng tiếng Ý được hậu thế góp lại thành tập Canzoniere (Sách hát). Tập thi ca đó để tặng nàng Laura, cũng là một thứ người tình lý tưởng. Chỉ biết khi thi nhân gặp Laura thì nàng đã có chồng. Laura là căn nguyên cho cả thú vui lẫn khổ đau cho Petrarca. Nàng như trói buộc người thơ bằng sợi dây vô hình, đánh thức dậy trong chàng những đam mê thác lũ, và làm cho chàng quên đi cả Thượng Đế. Thực cả là một vấn nạn, vì:

Tâm trạng ta là chiến tranh và thù hận [Guerra è il mio stato, d’ira e di duol piena]
chỉ nghĩ đến nàng ta mới được bình an [e sol di lei pensando ho qualche pace]

Khó có lời than nào vô vọng hơn hai câu thơ sau đây của Petrarca:

Ngàn lần ta chết đi rồi sống lại [Mille volte il di moro e mille nasco]
cứu rỗi ơi, mi cách trở muôn đời [tanto dalla salute mia son lunge]

Nếu Dante có Beatrice và Petrarca có Laura làm nguồn thơ thì Giovanni Boccaccio (1313-1375) --tác giả tuyển tập100 truyện ngắn Decameron lừng danh thiên hạ --có Fiammetta để vì nàng mà làm thơ tình lai láng. Không ai biết rõ tông tích Fiammetta; người ta tin nàng có máu vua chúa trong người. Nàng oái oăm lắm: trước hết nàng khước từ trái tim Boccaccio, rồi nàng chịu yêu chàng, để rồi sau cùng phản bội chàng. Khi còn yêu nhau, nàng khả ái, nhu mì, chiều lòng thi nhân hết mực. Mùa xuân đến, nàng dạo gót trên bãi cỏ xanh đầy hoa thơm khoe sắc. Phong cảnh hữu tình khiến Fiammetta chợt nhớ tới Boccaccio, người mà:

Có em hôm nay luôn bên cạnh [Ha presa e terrà sempre, come quella]
chỉ  mong sao thỏa mãn lòng anh [ch’altro non ha in disio ch’e suoi piaceri]

Lúc ấy thi nhân đi vắng, Fiammetta thở dài não nuột và gọi tên chàng cho đỡ nhớ. Kỳ diệu thay, khi yêu nhau say đắm, người ta dường như có thần giao cách cảm:

Như thấu lòng em, để ban vui thú [Il qual, come gli sente, a dar diletto]
từ chàng sang,chàng hiện ra lúc ấy [di sè a me si move e viene in quella]
trước khi em nói: nhớ quá đi thôi [ch’i son per dir: deh bien, ch’i non desperi]

Mối tình đẹp như mơ ấy chẳng bền lâu. Hãy tưởng tượng nỗi lòng tan nát của Boccaccio khi cô Fiammetta lộng lẫy nhan sắc đó nỡ bỏ chàng vì một người khác có địa vị và tiền bạc hơn nhà thơ chung thủy.

Nhà thơ Torquato Tasso (1544-1595) tài hoa tuyệt trần nhưng cũng bất hạnh vô song. Tasso khét tiếng với thiên anh hùng ca Gerusalemme Liberata (Thành thánh Giê-ru-sa-lem giải phóng). Vị thiên tài này bị bệnh tinh thần, nhiều phen bị cột chặt chân tay trong nhà thương điên. Tasso thương yêu vô vọng một giai nhân, cũng mang tên Laura, thuộc loại lá ngọc cành vàng. Nhưng Laura chỉ là giấc mơ cho Tasso mà thôi. Trong bài thơ Un’ ape esser vorrei (Ta muốn thành con ong) trích dẫn dưới đây để kết thúc bài viết này,chúng ta sẽ thấy một Tasso tuyệt vọng đang mưu tính trả thù người trong mộng, mà lại trả thù một cách khiêu gợi lạ thường:

Ta muốn thành con ong [Un’ ape esser vorrei]
hỡi giai nhân tàn nhẫn [donna bella e crudele]
thì thầm ta hút mật thân em [che susurrando in voi suggesse il mèle]
và chẳng thể vào tim em được [e, non potendo il cor, potesse almeno]
ngực trắng ngần ta sẽ chích thay [pungervi il bianco seno]
trong vết thương ngọt ngào êm ái ấy [e’n si dolce ferita]
ta lìa đời, hận đã rửa xong xuôi [vendicata lasciar la propria vita]

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)