Võ Phiến - Hội An (Tiếp theo)

Thứ Bảy, ngày 25 tháng 6 năm 2016


Thực ra, đất Quảng Nam không phải chỉ nổi tiếng vì truyền thống cách mạng, chỉ xuất sắc về mặt chính trị. Văn hóa ở đây cũng sớm phát triển hơn các nơi khác. Trước đã có lần riêng một mình Quảng Nam đoạt luôn năm tiến sĩ trong một khoa thi hội; người địa phương đến giờ còn nhắc chuyện “ngũ phụng tề phi.” Suốt trăm năm qua, so với các tỉnh lân cận bao giờ số thanh thiếu niên đi học, số người học thức ở Quảng Nam cũng đông đảo hơn.
Cái gì đã sớm kích thích sự phát triển của vùng này, cái gì đã mang đến những tư tưởng tiến bộ cho các đầu óc sáng suốt như là của Phan Chu Trinh? Địa linh thì nhân kiệt, nhưng địa thế nào là linh? Hãy dạo một trưa hè trên đường phố Hội An, không chừng sức thiêu đốt của nắng lửa gợi được một đôi điều liên hệ đến cái bí ẩn ấy. Sự phát triển quá sớm của Hội An, đã làm cho Hội An bây giờ trở nên thành phố vào hạng cổ lỗ nhất trong nước. Mấy con đường chính bên sông, nơi có nhiều phố xá nhất, thì lòng đường rất hẹp mà hai bên lại không có chút lề nào. Phố cất sát mép đường, không có lấy một tấc đất để cho cây đứng và để cho người đi. Bởi vậy, khách bộ hành phải bước đi ngay giữa lòng đường, cùng chung với xe cộ các loại, làm cho đường đã chật lại càng thêm chật. Nói đến cái chật thì một người ngồi trên lề Lai Viễn Kiều trông thấy một chiếc Land Rover qua cầu đã phải vội vàng co chân lên để tránh bị xe quẹt: lòng cầu vừa đủ cho bề ngang một chiếc xe như thế.

Đường chật, cầu chật, là vì thị xã Hội An đã thành hình sớm quá, nó trở nên thành phố đông đúc, phố xá san sát, ngay từ thuở chưa có xe cộ. Nó thành hình không kịp dự liệu đến ngày xe cộ ra đời. Từ những đôi ba thế kỷ trước nó đã giao thương với ngoại-quốc; tên của nó là một tên Tây (Hòa lan? hay Tây-ban-nha? hay Bồ-đào-nha? ai biết được), Lai Viễn kiều là chiếc cầu do người Nhật xây dựng, chùa Quảng Triệu là ngôi chùa mà người Tàu chở tử bên Trung Hoa qua những cây cột đá cao bốn năm thước tây, những viên gạch lót nền to như mặt bàn, chở cả thợ Trung Hoa qua xây cất v.v... Thuyền bè đi về giữa Trung Hoa và Hội An chắc phải là thường xuyên, sự giao thông chắc phải là khá dễ dàng, người ta mới tính đến chuyện như vậy. Toàn miền Trung và miền Nam nước Việt có nơi nào được giao tiếp với Trung Hoa mật thiết đến thế. Chỉ với Trung Hoa thôi, chưa nói đến Nhật Bản với Âu Tây, những văn minh xa lạ. Cho tới bây giờ mà sự hiện diện của hai pho tượng kh và hai pho tượng chó, trùm khăn đỏ, ngồi hai bên chùa cầu còn làm ta ngỡ ngàng, huống hồ tự thuở xa xưa!
Ngày trước không biết ở Bắc thì sao chứ miền Trung sách không bày bán ở tiệm. Các thầy đồ, các nho sinh không có hiệu sách nào trong làng trong tổng để đến mua mỗi khi cần, mà chỗ quận lỵ, tỉnh lỵ cũng không có nốt. Ngay đến tỉnh lỵ Bình Định là nơi có trường thi hương cũng không hề nghe nói có hiệu sách nào. Muốn mua sách ch có cách nằm nhà chờ, lâu mới gặp dịp một người lái sách ghé đến, gánh theo một gánh. Ta tưởng tượng sự phát hành như thế chậm trễ và thiếu sót biết bao. Và trong hoàn cảnh ấy, những người trí thức sống ngay tại chỗ cửa ra vào của ngoại kiều tứ xứ như Hội An có được một lợi thế lớn lao biết chừng nào. Ở đó đá tảng đá khối người ta còn chở tới được, kể gì sách !
Cụ Phan Chu Trinh đề cập tới vấn đề dân quyền sớm hơn các nhà nho khác ở các tnh lân cận? Chắc chắn sách của Khang Hữu Vi, của Lương Khải Siêu đến tay cụ trước những bạn hữu của cụ ở Quảng Ngãi, Bình Định khá lâu, lại càng trước những bạn hữu ở Khánh Hòa, Bình Thuận lâu hơn nữa. Vả lại, trong mười cuốn đến Hội An, chắc gì đã có được hai cuốn lần mò vào tới Phú Yên chẳng hạn. Mà Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đối với thức giả nước ta hồi ấy có lẽ cũng từa tựa như Marx với Engels sau thế chiến thứ nhất, như Sartre với Camus hồi gần đây, sau thế chiến thứ hai. Địa vị của các vị ấy trong tư tưởng giới xứ mình thật quan trọng; sách vở của họ đi đến đâu là kích thích tới đó.
Thế mà Hội An không những chỉ mang đến cho sĩ phu đất Quảng những tư trào mới tử Khang Lương trở lại đây. Từ những hai ba trăm năm trước nó đã mở cho thức giả đất Quảng những chân trời mới lạ: khi Lai Viễn kiều được dựng lên ở Hội An thì các nho sĩ ở Sông Cầu, ở Nha Trang đã biết gì về nước Nhật cùng văn hóa Nhật?
Vì vậy mà có lẽ chính cái sự kiện lạ lùng hai thành phố Đà Nẵng và Hội An cùng mang hai cái tên Tây, hai tánh danh ngoại lai, riêng biệt lạc loài giữa các thị trấn khác trong toàn quốc, cùng cái sự kiện Hội An đường chật phố xá cổ lỗ hơn đâu hết. Chính những cái ấy đã cắt nghĩa sự phát triển của đất Quảng về văn hóa, cắt nghĩa cái truyền thống cách mạng của miền nầy.
*
* *
Giữa Hội An với Đà Nẵng dường như cũng có sự xếp đặt. Sự phân công để nối tiếp nhau. Hội An chỉ có một bến sông cạn để đón tiếp các ghe thuyền, nó không đủ sức mời mọc tàu bè lớn của thời đại cơ khí này. Bởi vậy thời kỳ lừng lẫy của nó là một thời kỳ đã xa, ông thủy tổ Bồ Đào Nha nào đó từng thốt nên tiếng “Phải Phố?”, ông đó có lẽ cũng vượt bể bằng một chiếc thuyền buồm, một chiếc thuyền giống như những chiếc ngày nay vẫn còn lắc la lắc lư cột buồm một cách thong thả thảnh thơi trên sông Hội An. Cho đến lúc trên mặt nước xuất hiện thứ tàu sắt khổng l, chạy bằng máy phun khói đen mù mịt, thì Hội An nhường vai trò của mình lại cho Đà Nẵng. Tre tàn măng mọc.
Trong khi Đà Nẵng phát triển nhanh chóng trong vận hội mới thì Hội An càng ngày càng lùi về quá khứ, như một cụ già bắt đầu lẩm cẩm, thui thủi một mình, ngày ngày lơ mơ nghiền ngẫm các kỷ niệm cũ và kiểm điểm các kỷ vật xưa. Một nhà văn người Bắc đến thăm Hội An lần đầu tiên đã nhận xét rằng trọn cả thành phố này là một viện bảo tàng. Nó đến cái tuổi thích ứng khó khăn, không theo kịp cuộc sinh hoạt mới. Đường của nó hẹp quá, nhà của nó xưa cũ quá, mà mỗi sửa sang là động đến những di tích quý báu không ai nỡ xóa bỏ. Vì vậy hình như đã có lần chính quyền cũ tỏ ý muốn dời tỉnh lỵ Quảng Nam về Vĩnh Điện, để nguyên Hội An với những đặc điểm của nó, ngồi đó tiêu biểu cho một thời vàng son đã qua.
Hội An, nó luống tuổi đến nỗi món ăn địa phương riêng biệt của nó cũng mệt mỏi, không có sức đi xa. Thực vậy, xung quanh các sợi bún, sợi mì, bánh tráng xắc cùng một ít nước dùng, người Tàu và người Việt chế biến rất nhiều món ăn: phở, mì, hủ tiếu, mì Quảng, bún bò, bún thang, miến gà, bún chả, bún riêu v.v... Một muỗng nước lớn đổ vào một mớ sợi lằng nhằng, bằng chất ngũ cốc nào đó, thế là thành món ăn được yêu chuộng nhất của ta và Tàu. Không có bằng chứng gì tỏ rằng người Âu châu có đế ý đến món ấy, tại sao vậy? Riêng ở Đông phương thì sợi bún và nước dùng, hai đề tài ấy đã thiên biến vạn hóa ra muôn hình nghìn trạng khác nhau, sự phong phú không biết đến đâu mà kể. Những nhà học giả uyên thâm, chuyên suy tầm về văn minh các dân tộc Đông Tây, ước gì được các vị ấy dừng bước một phút trên con đường hành trình vào dân tộc học để giải đáp cho về cái duyên nợ đã buộc liền giống người Mongoloide vào những sợi dây ngũ cốc lòng thòng mà lại buông tha các giống Caucasique cùng Négroide.
Vậy thì người dân Hội An cũng đa mang một mối hệ lụy Đông phương ấy. Cũng một mớ sợi, cũng nước dùng lép xép, thêm vào mấy món gia vị, tôm thịt... Đại khái thì thế. Nhưng tại Hội An món quà ấy mang cái tên cao sang hơn ở các nơi khác: tên nó là “cao lầu.” Vào một hàng quán nhỏ, nền trệt sát mặt đường, ghé mông lên chiếc ghế đẩu xiêng xẹo, nhưng khách vẫn cứ có thể quát tửu bảo một cách dõng dạc: “Cao lầu một bát mau lên!” Oai vệ ra phết.
Cao lầu! ngẫm nghĩ mà xem: tên tuổi ấy không tầm thường như tên những món ăn khác. Ở châu Á, nguồn gốc của văn hóa cũng như của các món ăn, hình như là đều do tự phương Bắc lần xuống. Cho nên nhiều món ăn của ta đến nay còn lai Tàu rõ rệt. Tàu họ viết trên thực đơn là vân thôn, sang tiếng ta nó trở thành hoành thánh, hoặc mì thánh, hoặc mằn thắn, rất lung tung. Rồi cái gì lại phở, lại hủ tiếu, nghĩa lý thế nào? Phở, món ăn dân tộc, món quốc túy được một tùy bút gia tiếng tăm ca tụng, có phải nó do cái món Tàu gọi là phấn? la phấn miến? Những tên ta với tên Tàu như thế có dính líu một cách mơ hồ lộn xộn, có lẽ là vì ngôn ngữ đôi bên đã chuyển cho nhau do những anh đầu bếp, những bác bán hàng rong. Một mặt thì thế; mặt khác các món ăn thuần túy dân tộc lại mang những tên nôm na: mì, bún, v.v... Riêng một món “cao lầu,” tên nó không nôm na, cũng không lai chệt bình dân; tánh danh nó được chuyển từ ngôn ngữ xứ nầy qua ngôn ngữ xứ nọ theo đường lối bác học hẳn hoi. Đó, một món ăn đường bệ như vậy mà nay đành mất cả sinh lực, thế mới lạ.
Nói về khả năng phát triển, trước nhất phải kể món phở. Không biết tiền thân của nó hồi ở bên Tàu ra sao, kiếp này nó khai sinh ở Bắc Việt, thế mà lần hòi nó tràn vào khắp miền Nam. Cuộc Nam tiến của nó là cuộc Nam tiến lặng lẽ, không đổ máu, mà có thể kể là vẻ vang hiển hách nhất trong lịch sử hiện đại. Bún bò Huế, gốc ở Trung, cũng đã nhập đô thành từ lâu, và hiện có nhiều cứ điểm khá vững vàng. Mì Quảng, nó chưa có thành tích, nó bị trở ngại vì cái địa phương tính quá lộ liễu, tuy vậy bây giờ tại Sài Gòn, ở vùng Hiền Vương, Trương Minh Giảng nó cũng có địa vị rồi. Thế mà cao lầu thì không ra khỏi Hội An! Thậm chí nó cũng không đi tới Đà Nẵng. Cái gì mà lạ vậy? Một người dân Phố Hội làm việc ở Đà Nẵng lâu lâu có nhớ đến cao lầu mà đâm thèm thì vẫn cứ việc phải về Hội An để ăn. Đi xe hơi, xe xì-cút-tơ, cũng có thể dùng cả xe đạp mà v. Gần nhau đến như thế, nhưng người cũ có thể tìm về chứ cao lầu không thể ra đi. Không biết cái món quí phái ấy nó cấm cung ở Hội An đã bao nhiêu thế kỷ. Thật khó hiểu: nếu nó thua sút, sao nó không bị tiêu diệt vì sự cạnh tranh của những thứ khác? Nếu nó có gì xuất sắc, sao cái xuất sắc ấy lại chỉ vừa đủ mức để tự vệ mà không thể dùng để tấn công lấn tới được một hào ly ?
(Còn tiếp)

1 nhận xét

  1. Nhiều mẫu
    xe điện cân bằng
    hai bánh thông minh có giá rẻ và
    xe điện hai bánh to
    như xe phân khối lớn đang chờ đón các bạn tại Decalsaigon

    Trả lờiXóa

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)