Nhiều tác giả - HỒI KÝ ĐỂ LẠI DƯỚI CÁI NHÌN CỦA MỘT BẠN HỌC CŨ

Thứ Năm, ngày 26 tháng 5 năm 2016

Nguyễn Mạnh Hùng
Virginia, tháng 4, 2016

Tôi đọc Để Lại của Nguyễn Văn Sinh không như đọc một tác phẩm văn học mà chỉ muốn đọc những ghi chép của một người bạn học cũ viết về đời mình.Và tác giả đã đưa tôi đi từ một ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, với sự thích thú và đôi chút hãnh diện.

Hồi ký của Sinh quả thật đã đem tôi về những ngày tháng cũ thời chúng tôi học chung dưới mái trương trung học Nguyễn Khuyến trong cái tỉnh nhỏ Nam Định, với những địa danh quen thuộc, như chợ Cửa Trường, đường Paul Bert, Phố Khách, phố Cửa Đông, phố Máy Tơ, Vọng Cung; và tên những học trò phá phách ngày xưa nay không còn nữa, như Ứng, như Tạo, như Điển . . .


Trước khi đọc Để Lại, tôi có hai hình ảnh tương phản về Sinh: một học sinh ngỗ nghịch lúc bé và một ngươi đàn ông điềm đạm yêu quý bạn bè khi lớn tuổi. Sinh là bạn cùng trường nhưng khác lớp của tôi ở trường Trung học Nguyễn Khuyến Nam Định và Chu Văn An Sài Gòn. Ở trường Nguyễn Khuyến, Sinh nhập bọn với đám học sinh phá phách hay bắt nạt bạn đồng học. Những người này khi lớn trờ thành đứng đắn và bình thường một cách lạ thường. Đó là một Nguyễn Văn Sinh tôi găp lại sau nhiều năm và sau cuộc đổi đời của cả thế hệ chúng tôi tại Quận Cam  trong đám bạn học Chu Văn An cũ thường tụ tập ở quán Uyên Thi. Lúc này, Sinh hiền hẳn và rất sốt sắng với bạn bè. Có một điều không thay đổi trong Sinh là cái phong cách ngang tàng và lối nói nửa châm chọc nửa khôi hài của anh.


Hồi ký Đê Lại cho người ta thấy một con ngươi phức tạp và đáng quý trọng hơn những hinh ảnh phiến diện mà tôi có lúc trươc. Sinh có một cuộc sống gian chuân và phong phú hơn đa số chúng tôi. Tôi không thể ngờ bạn của tôi đã có một tuổi thơ vất vả và nghèo khổ đến thế, nghèo đến nỗi phải làm đủ nghề để kiếm sống và giúp gia đình trong những ngày chạy loạn, từ thơ nguội, chăn trâu, chăn vịt, cán bông, kéo chỉ, đến bán kẹo mạch nha, và buôn bán đồ hộp ở “trại Tây” Phát Diệm! Thê mà, qua sự giúp đỡ của những ngươi tốt bụng, với tinh thần cầu tiến, sự quyết tâm, và tính tháo vát, Sinh đã học hết trường Luật, trở thành một Thiếu tá Cảnh Sát, và một tù nhân có khí phách, can trường trong các trại cải tạo công sản.

Phải ghi công cho cái xã hội, nền văn hóa, và sự giáo dục gia đình đã góp phần tạo ra cơ hội thăng tiến và nhân cách của của Sinh.

Tuy vất vả, nhưng Sinh may mắn có một gia đình thương yêu và đùm bọc nhau. Sinh được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương bao la của bà ngoại, của bố mẹ, của cậu dì; và Sinh cũng đền trả bằng sư yêu thương và lòng biết ơn tha thiết đôi với họ.Thế giới của Sinh có nhiều người tôt hơn người xấu, nhiêu cái để cảm động hơn thất vọng.

Sinh thông minh và tháo vát ngay từ hồi còn nhỏ. Thời tản cư, cậu bé Sinh, mới 14 tuổi, đã biết khôn khéo thuyết phục người lớn và có công đem mấy gia đình bị phân tán trong chiến tranh đoàn tụ một chỗ với nhau. Thời đât nươc chia đôi, Sinh đã tỏ ra là một ngươi con nặng tình với gia đinh. Đã theo bà và câu lên Hà Nôi đê vào Sài Gòn, nhưng vì thương nhớ mẹ, Sinh lại trốn bà về Nam Định. Sau khi nghe lời mẹ thúc dục, anh một mình lên Hà Nội đi Hải Phòng. Đến Hải Phòng, anh lại mạo hiểm trở về Nam Đinh đê tìm cách đem toàn thể gia đình di cư vào Nam.

Kinh nghiêm sống phong phú của Sinh thời chạy loạn ở nông thôn khiến Sinh biết nhiều điều mà các bạn cùng tuổi Sinh không biết. Nêp sống lãng tử cùa một câu học sinh trung học khi về thành cho Sinh biết xử dụng những tiếng lóng của giới ăn chơi người lớn mà những ngươi như tôi chỉ nghe thấy lần đầu, như “phê nại xây chừng” (cà phê sữa nhỏ) và “Tây hồ nguyệt lặn” (cà phê sữa có một lòng đỏ trứng gà).

Sinh có trí nhớ dai và có tài kẻ chuyện. Sinh kể tỉ mỉ về cách chơi khăng, đánh đáo, những trò chơi ham thích mà không tốn kém của chúng tôi ngày trước, những đứa trẻ sống hồn nhiên trong một nên kinh tế nông nghiệp, trước kỷ nguyên Ipad và computer games.

Cách làm gỏi cá của ông nội, cách mổ lợn, gói bánh chưng, nuôi chim, bẫy chim, cách nấu rượu để tăng thu nhập gia đình, và lối pha cà phê kiểu cách của câu Khải… cũng được Sinh tả môt cách tường tận, rõ ràng như trong những quyển sách dạy gia chánh, nhưng có duyên hơn. Mấy ai trong chúng tôi có kinh nghiệm sống và làm viêc như Sinh?

Sinh viết có duyên, hấp dẫn người đọc với cách kể chuyện chuyển từ một thái cục này sang một thái cưc khác một cách tư nhiên. Chuyện giúp bạn trả thù “Hinh Sứt” (trang 168-171) và chuyện “đánh thằng Chiêm” (173-175) cho ngươi ta thấy hình ảnh một anh học trò tỉnh lẻ ngang tàng, tinh nghich, ngươc hẳn với hình ảnh một đứa trẻ nhà quê, con nhà nghèo, hiền lành, ngoan ngoãn khiến Cha Điện ở nhà thờ Phát Diệm động lòng thương, hứa cho tiền để đi học và  mua sách vở.

Những cưu học sinh Chu Văn An thơi mới di cư vào Nam sẽ không thể nhịn được cười khi đoc Sinh phác họa hình ảnh của  các thầy giáo cũ, nhu thầy Trần Đình Quý dạy toán, thầy Lê Trung Nhiên dạy “tiếng Tây,” và sự tinh nghịch của học trò Chu Văn An (trang 194-198). 

Sinh tả trận đấu bóng chuyền giữa trường Chu Văn An với trường Nguyễn Đình Chiều cũng nhuần nhuyễn, hấp dẫn chẳng kém cách ký gia thể thao Huyền Vũ tường trình cac trận túc cầu ở Sài Gòn năm xưa (trang 198-202).

Sinh kể chuyện “tình Bắc, duyên Nam,” tôn giáo bất đồng  của cậu Kim (tên trong sách của Sinh) Nam Định với cô Tiếp Bình Chánh có những tình tiêt lâm ly, hấp dẫn, những lời nói yêu đương, những trở ngại lúc đầu rồi may mắn về sau.  Câu chuyện có thắt, có mở như . . . trong tiểu thuyết.

Sinh viết đối thoại rất hay, rất tư nhiên. Đọc Để Lại đôi khi người ta tưởng đang đọc văn của một tác giả thành danh chứ không phải của một sĩ quan cảnh sát xuất thân tư môt học sinh ban Toán.

Hãy nghe Sinh nói về cảnh chiều đô
ng buồn tê tái ở nhà quê:
“Trời về cuôi Đông, giá lạnh, gió heo may rít lên từng cơn. Tiêng kêu kẽo kẹt của tre già đưa võng làm rụng rơi từng đợt lá vàng, rắc trên lối mòn thôn xóm. Trần mây đục, thấp lè tè, khiến cảnh quê vốn buồn lại càng buồn thêm…”

Còn nữa:
"Ngày 29 Tết . . . Những vạt mưa Xuân giăng kín không gian, hàng cây trên núi chỉ còn những nét mờ mờ giống như bức hình của Mạnh Đan chụp cảnh sương mù Đà Lạt hay những bức tranh thủy mạc của Tàu. Ngay cả đến những nóc nhà tù cũng đang chìm vào làn mưa rất nhẹ . . .”

Với khẩu khí khinh bạc và sắc gọn Sinh tả những món ăn khó nuốt của Biệt Động Quân trong trung tâm huân luyện Dục Mỹ:
“Trên bàn ăn, một ly cà phê nươc mắt dì ghẻ, nguội ngắt, đứng chỏng chơ bên cạnh ổ bánh mì  dai như chão ré, bụng nó ấp ủ một chú lạp sưởng rẻ tiền.”

Sinh nhìn đời bằng con mắt thản nhiên, lì lợm, đôi khi tinh quái. Giai đoạn tập luyện ơ Trung Tâm Huân Luyên Dục Mỹ, từ căn cứ sình lầy, căn cứ núi, đến căn cư rừng, và nhưng kế lừa gạt của trại để dạy cho các câu sinh viên sĩ quan chốn viêc một bài học cười ra nước mắt, đươc Sinh phác họa môt cách sống động.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, Sinh đi tù cải tạo.Việc vào tù, chuyển trại ra Băc, cơm tù, thăm nuôi tủi nhục người ta cũng có thể tìm đọc ơ nhiều cuôn sách khác. Nhưng đăc biệt trong hồi ký Để Lại là tường thuật về cuôc tuyệt thưc toàn trại tù cuối năm 1979 chống việc bắt đem đi một cách khuất tất mấy người bạn tù mà Sinh bị kết tội là  một kẻ “khích đông, xúi dục” khiến Sinh bị giam vào phòng biệt giam (cachot).

Có đọc chuyện Sinh kể, lúc khôi hài lúc đứng đắn, về sinh hoạt trong cachot và cuộc thẩm vấn/trao đổi giữa Sinh với các cán bô điều tra của bô Nội Vụ mới thây và cảm phục thái độ tư tin, khí phách và can trường của những người linh thất trận.


Nêu Để Lại được dịch ra Anh ngữ chắc chăn tôi sẽ mua cho các con tôi đọc, và nói vơi chúng rằng “tác giả là bạn của bố đấy.”

Lê Văn: Cựu Tổng Biên Tập
Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)

NGUYỄN VĂN SINH - "ĐỂ LẠI"
Thế hệ chúng tôi, sinh ra và lớn lên vào giai đoạn đất nước đang quặn mình trong khói lửa chiến tranh liên tiếp qua ba bốn chục năm trời, rõ ràng là một thế hệ không may. Thật vậy, thời niên thiếu hầu hết là những ngày tản cư chạy loạn, túng đói ngặt nghèo. Thời thanh niên và trung niên thì phục vụ trong quân ngũ. Biết bao nhiêu anh em, bè bạn đã ngã xuống trên bãi chiến trường để bảo vệ miền Nam tự do chống lại cuộc xâm lược của cộng sản từ phương Bắc. Vậy mà cuối cùng rất nhiều người vẫn phải chịu đựng cuộc trả thù tàn khốc của đối phương trong các trại cải tạo, ít cũng vài ba năm, nhiều thì tới hơn một thập kỷ.

Lớp con cháu chúng tôi may mắn được sinh trưởng ở hải ngoại, được thoải mái ăn học, được cơ hội thi thố tài năng trong môi trường tự do của các nước Tây phương, liệu có còn biết đến những vất vả cơ cực của thế hệ cha mẹ chúng ở Việt Nam hồi mấy chục năm trước đây không? Nếu không ai kể lại, không có tài liệu sống của người trong cuộc thì thế hệ trẻ dẫu có muốn tìm hiểu qua các sách sử ký hay giáo khoa cũng khó mà biết được một cách chính xác và đầy đủ.

Có lẽ chính niềm băn khoăn ấy đã thôi thúc Nguyễn Văn Sinh viết cuốn hồi ký "Để Lại", cặn kẽ ghi chép xuống những điều anh đã trải qua trong suốt cuộc đời, từ những đắng cay thiếu thốn của một anh học trò xứ quê lớn lên trong một đất nước đói nghèo loạn lạc cho đến những ngày đi lính, rồi đi tù cải tạo. Cuối cùng mới được lên máy bay rời khỏi quê hương thân yêu nhưng quá nhiều nghiệt ngã để sang định cư ở Hoa Kỳ.

Thực ra thì trong bọn chúng tôi cũng đã có khá nhiều người ghi chép lại những nỗi điêu đứng xảy đến cho chính bản thân mình và cho bạn bè "cùng một lứa bên trời lận đận" với mình. Tiêu biểu là Trần Duy Hinh tức nhà văn Thảo Trường với "Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai". Rồi lớp đàn anh trước đó như Doãn Quốc Sỹ, Tạ Tỵ, Phan Lạc Phúc, lớp kế tiếp như Hà Thúc Sinh, Phạm Quốc Bảo, Phan Nhật Nam đều đã để lại cho đời sau rất nhiều chứng liệu được thâu thập bằng kinh nghiệm bản thân qua các tác phẩm của họ.

Nhưng tôi vẫn thích cuốn hồi ký "Để Lại" của Nguyễn Văn Sinh.Sinh không phải là nhà văn nổi tiếng như những người vừa kể.Lời văn thuật sự của anh rất bình dị, mộc mạc, đôi lúc thô nhám, sống sượng nhưng đó lại là cái đặc điểm khiến cuốn sách trở thành lôi cuốn, hấp dẫn.

Lối viết thô nhám ấy làm nổi bật cá tính ngang tàng, bướng bỉnh, bất cần đời của Nguyễn Văn Sinh như được thể hiện qua cuộc đối thoại rất lý thú giữa tác giả và ban quản giáo trại tù dưới sự chủ tọa của một cán bộ cấp cao từ bộ Nội Vụ gửi xuống. Chúng muốn tìm hiểu tận gốc rễ những lý do nào đã thúc đẩy tù nhân cải tạo biểu tình tuyệt thực để phản kháng, và một trong những người chủ xướng cuộc biểu tình là Sinh.

Thay vì hành hạ tra tấn để hỏi cung như thông lệ, chúng mời Sinh uống trà hút thuốc rồi mới nói chuyện cho thoải mái. Sinh cũng thẳng thắn nêu rõ những lý do trực tiếp khiến anh em bạn tù phẫn uất đến tuyệt thực, thứ nhất là sau khi hỏi cung 3 người trong bọn thì biệt giam họ ngay mà không cho về trại nữa, thứ hai là khẩu phần ăn uống đã tồi tệ lại còn bị gian lận cắt xén bớt, thứ ba là lao động quá mức khiến nhiều người kiệt sức mà chết trước khi có cơ hội được thả về với vợ con.

Bọn quản giáo gật gù ghi nhận nhưng còn muốn đào sâu thêm nữa.Thế là cái tính ngang tàng của biệt động quân nổi dậy, Sinh bèn tapis luôn. Chết là cùng thôi chứ gì! Anh nói hết, đả phá hết mọi điều ngớ ngẩn, phi lý mà bọn quản giáo ngu đần đã lên mặt giảng dạy cho tù nhân trong những lớp học gọi là cải tạo. Sau đó thì đúng như điều tiên liệu, anh đã phải lãnh chịu những đòn thù khốc liệt của bọn chúng qua những ngày tra chân vào cùm trong cachot tối tăm chật hẹp.Nhưng được dịp công khai nói thẳng vào mặt chúng một lần như vậy thì cũng đã đời rồi.

Cuốn sách đã đạt được cái mục đích của tác giả là "để lại" cho thế hệ sau những kinh nghiệm của một thanh niên miền quê Bắc Việt bị ba chìm bảy nổi theo vận nước điêu linh nhưng vẫn "đứng vững không khuỵu chân", bất chấp phong ba bão táp. Và đó chính là sự thành công của Nguyễn Văn Sinh khi viết cuốn sách này.

Nhà văn
Trần Lam Giang 
Tác giả và tôi biết nhau dưới mái trường Chu Văn An. Từ giao du đến giao tình bằng hữu, chốc là 57 năm trường.Anh hơn tôi 6 tuổi, học trên 2 lớp.Tuổi đời và tuổi đi học, đều đúng là bậc sư huynh.Sư huynh có cách thế sống ôn nhu mà quả quyết của hào sĩ phương Đông còn sót lại trong thế gian điên đảo này. 
30 tháng 4 năm 1975, một trời mây choáng váng.Tôi đưa gia đình rời nước đi tỵ nạn.Đi đâu, đến đâu cũng được. Miễn thoát khỏi cái chế độ ngược tính người, phản tình người… Cõi lòng rách nát.Thân bằng lạc nhau, không âm tín.Cô quạnh đến hắt hiu một thời.Thấm thía câu đoạn trường.Thời gian trôi qua mái tóc, rồi có những liên lạc, những tương phùng trên đất khách. Đầu bạc nắm tay nhau, ấm áp trân quý vô cùng. 
Tác giả đến Mỹ năm 1992, sau hơn 10 năm bị giam cầm hành hạ, định cư ở Nam Cali.Tôi ở Bắc Cali.Xa xôi, lặng lẽ.Không được tin nhau. 
1994, trong đám cưới con của thân bằng, gặp nhau bất ngờ. Cảm xúc, không rời tay. Ghé bàn này, bàn khác.Rượu uống tì tì. Chân lao đao mà lòng rất tỉnh. 
Từ đấy giữ chặt sợi giây liên lạc, triền miên như giòng nước suối, êm đềm không đứt quãng.Êm đầm với giòng thời gian. 
Năm 2010, anh gửi tặng tôi cuốn hồi ký ĐỂ LẠI. Khi nhận được, tôi cười thầm: “Cái ông này! Chịu là già nua rồi sao?”. 
Nhưng chưa già nua yếu đuối thì cũng đã già. Tôi 70, anh 76. Còn trẻ với ai?! 
Hồi ký 431 trang, bìa trang nhã với hình anh chụp ở nơi trân quý. Nội dung chia thành từng tiểu mục. Khởi từ những ngày ấu thơ, qua những nổi chìm dâu bể.Không một phụ bản, điều này khiến hồi ký như giòng thời gian, trôi chảy không ngưng đọng. Như giòng đời, trôi chảy và trôi chảy! “Thệ giả như tư phù, bất xả chú dạ” (Trôi chảy như thế mãi, ngày đêm không ngừng - Khổng Phu Tử).Ngoái đầu ghi lại giòng sông ấy là hồi ký vậy.Ghi mà để lại cho kẻ đến sau.Để lại làm gì?Có chăng trao chút hơi ấm của người đi trước, phải thế không? Anh Nguyễn Văn Sinh? Xa xôi Nam Bắc, tôi biết anh gật đầu.Anh em hiểu cõi lòng nhau. 
Hồi ký của anh kể lại đời mình một cách từ tốn, lớp lang và chân thực. Lời lẽ thật thà, văn phong dễ dàng hồn nhiên, không cầu kỳ trau chuốt.Đọc mà tưởng như đang đối diện với tác giả.Đừng đọc vội vã dồn dập.Nên trầm ngâm, suy nghĩ, tra hỏi kỹ càng, sẽ thấy tương quan gắn bó cá nhân, gia đình, bằng hữu với quê hương.Ngừng lại.Nghĩ ngợi rồi đọc tiếp, vì muốn đọc tiếp. 
Anh có trí nhớ đặc biệt, sức nhớ lâu bền nên kho ký ức của anh giầu có.Thuở thơ ấu, quanh quẩn bên mẹ, bên bà.Lịch sử giao động, tản cư cơ hàn, nguy hiểm.Hồi cư, phố phường tan nát.Lòng người đắng cay, cuộc sống bấp bênh.Chèo chống chưa ổn định thì xảy ra quốc nạn 54.Đứt ruột di cư. Mà phải di cư để được sống làm người! Hồi ký của anh ghi mạch lạc.Ai biết rồi mà quên, nên đọc để nhớ.Ai chưa biết, nên đọc để biết những điều chưa biết. 
Thuở di cư, tác giả 19 tuổi, mới thi đỗ trung học đệ nhất cấp, đang ở yên lành với thân nhân.Anh đã quả cảm, ngược giòng trở lại nơi hiểm nghèo sôi động, đón cha mẹ và các em, đón cả gia tộc, khôn khéo vượt trắc ẩn gian nguy, cùng nhau vào Nam yên lành. 
Gặp cơn gió bụi, dũng cảm vì bộn phận. Trở lại cuộc sống yên lành, chàng tuổi trẻ sống nhịp vui tươi công tử như ai. Vui chơi quá tay, lao đao trường ốc, thi tú tài hai, đạp vỏ chuối liên chi hồ điệp. Kệ. Vui và yêu đời là tiên quyết.Rồi cũng thành cậu tú, cậu tú tài hoa. Duyên lành gặp người xinh, tình yêu đẹp như hoa nở, bền vững như núi như non, đá mòn mà dạ chẳng mòn. Cặp uyên ương độc đáo nay là hai cụ đẹp đẽ giữa đàn con cháu. 
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, theo lệnh động viên, tác giả điềm tĩnh nhập ngũ. Trải 4 năm, được giải ngũ. Vì sinh kế, anh làm Biên tập viên Cảnh sát. Như ai thì cũng sống vậy yên thân.Anh cũng muốn vui trong cuộc sống yên lành. Ngặt, ai kia trong ngành, có tờ giấy mỏng manh làm chứng cho trí thức giấy, nhìn anh theo cách ở trên nhìn xuống. Bực mình, tác giả trả lời bằng cách ghi danh học luật.Vừa đi làm vừa học.Bốn năm thoáng trôi qua, bốn chứng chỉ cử nhân Luật nằm gọn gàng trong túi quần anh.Anh vẫn là anh, trí thức học ở trường đời.Bằng cấp vì cơm áo.Có giá trị gì với trí thức của anh. 
Khi Việt gian Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, anh bị chúng bỏ tù.Thẳng thắn trong tù, dĩ nhiên gánh chịu nhiều đau đớn.Đau đớn thân xác, đau đớn trong lòng.Sống chết phó mặc cao xanh.Nhân phẩm anh, anh có quyền giữ gìn hay vất bỏ. Anh đã dũng cảm giữ gìn, trân quý giữ gìn. 
Tác phẩm ĐỂ LẠI, tác phẩm văn chương về cuộc đời của một chàng trai nước Việt.Văn chương thoải mái, lời lẽ dễ dàng, thẳng thắn để lại cách sống làm người của một người yêu đời, yêu gia đình, yêu quê hương, yêu mình, yêu người và yêu nhân phẩm.Yêu trân quý. 
Mấy lời trân trọng. 

Nhà thơ Du Tử Lê
  
Với “Để Lại” của CVA Nguyễn Văn Sinh,    
Những Gì  Sẽ… Để Lại Được?

Tôi không biết mỗi chúng ta, liệu có để lại được gì, cho thế hệ tương lai? Nhưng, riêng với CVA Nguyễn Văn Sinh, qua bút ký “Để Lại”, tôi tin ông sẽ để lại được nhiều điều cho lớp người trẻ, sau ông.

Với cá nhân tôi, những điều họ Nguyễn có thể để lại được cho đời sau, không hẳn là những đoạn trường địa ngục ông trải qua; khi biến cố 30 tháng 4-1975, như cơn đại hồng thủy, ập tới miền Nam, phần đất tự do của đất nước chúng ta. Dù cho những trang hồi ký của CVA Nguyễn Văn Sinh, ở phần đời địa ngục này, phải được coi như một cáo trạng - chứng từ sống - của một người chứng may mắn sống còn trong nhà tù cộng sản. Bởi không chỉ mình ông mà, cả trăm ngàn thành phần quân, cán, chính của miền Nam cũng đã phải chịuchung cùng ông, một thảm kịch!  

Lại nữa, như tôi biết, có nhiều bằng hữu của chúng ta, trong giam cầm, bị tước đoạt nhân phẩm, bị đối xử tồi tệ thua con vật!  Đến độ có người uất nghẹn đã tự tìm đến cái chết... 

Do đấy, theo tôi, những điều CVA Nguyễn Văn Sinh, sẽ để lại được đời sau, là phần tuổi thơ ông, nơi quê hương Nam Định. Và, những địa danh mà dôi chân bé dại của ông, đã dạt, trôi giữa những cơn cuồng phong chiến cuộc.

Tôi muốn gọi đó là một chứng từ khác. Chứng từ của một nền văn hóa, của những phong tục, tập quán ngàn xưa, nay đang mai một!

Tôi biết ơn tác giả “Để Lại” biết bao, khi giáp mặt những kỷ niệm ấu thời của họ Nguyễn. Từ người mẹ của ông (như những người mẹ VN khác, thuộc thế kỷ trước), một lòng, một dạ, quên mình, tận tụy, hy sinh cho chồng, cho con... Tới những món ăn không thể thiếu trong Nguyên Đán. Như giò thủ, nem thính, nem chua… đã được ông ghi lại; như những họa tiết rực rỡ ý nghĩa. Nhất là những biểu tượng đặc trưng ba ngày Tết mà, tôi chỉ nghe hoặc, đọc được loáng thoáng đâu đó… Như cây nêu.Như phướn. Như khánh…

Đọc “Để Lại” của CVA Nguyễn Văn Sinh, tôi thấy kiến thức tôi giầu có, phong phú hơn, khi hiểu tường tận những cuộc vui ba ngày tết của ông cha ta… Như xóc đĩa, đánh cú, đánh bất…

Họ Nguyễn cũng ghi lại khá sinh động cả một thời kỳ mà, nền văn hóa hương thôn của chúng ta, dựa trên chức tước mua được ở làng xã… Ông giúp tôi thấu hiểu tục ngữ “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

Đặc biệt, tác giả “Để Lại” còn mô tả rành rẽ phân lượng, công thức làm thành từng món ăn.Chi tiết hoàn thành từng biểu tượng. Luật lệ, diễn tiến cách chơi từng môn cờ bạc mấy ngày tết…

Điểm độc đáo hơn nữa của tác giả, CVA Nguyễn Văn Sinh, theo tôi, ông không viết khô khan, cứng nhắc, lạnh lẽo như một nhà khảo cứu hay, một học giả… Mà, ông ghi lại cả một thời đã qua, bằng đôi mắt trẻ thơ, xen lẫn kỷ niệm thiếu thời.Vì thế, tôi sẽ không chút ngạc nhiên, nếu biết, có những người đọc ông (như cá nhân tôi), đã mủi lòng trước những trang văn xuôi ấy.

Để Lại” bút ký của họ Nguyễn, từ góc độ vừa kể, theotôi, sẽ để lại được nhiều điều cho thế hệ tương lai. Cho những người trẻ mai sau, muốn có cơ hội được sống lại phần nào, đời sống của tiền nhân.Cho những người trẻ mai sau, muốn được thở, phần nào hơi thở thanh bình, đặc thù, kỷ cương, đầy tính nhân bản của cha ông ta, thuở trước.

Tôi không biết, có phải những đồng môn Chu Văn An của CVA Nguyễn Văn Sinh (hàng tuần vẫn gặp nhau ở quán A.T.) cho rằng, cần phải tiếp tay họ Nguyễn, để “Để Lại” có thêm cơ hội… “để lại” hay không? Nhưng sự kiện rất tình nghĩa, rất Chu-Văn-An-Truyền-Thống: Đồng môn nhiệt tâm đóng góp vật chất, để CVA Nguyễn Văn Sinh có thêm nhiều nữa, những “Để Lại” cho đời sau… theo tôi, tự thân của dữ kiện này, cũng mang đầy tính… “để lại” vậy. 



Nhà văn Nguyên Nhung


Anh kính mến!

Thế là một lần nữa em đọc lại cuốn Hồi Ký “Để Lại” của anh.

Nhìn ra ngoài sân nắng hồng trải trên bãi cỏ non, mùa Xuân đã về như những trang sách anh viết về thời niên thiếu, cũng lôi em về vùng ký ức tuổi thơ. Anh em mình có hoàn cảnh khá giống nhau vì cùng có một tuổi thơ ngậm ngùi, em đọc từng trang rồi từng trang, ký ức tuổi thơ được anh kể lại bằng những đối thoại nho nhỏ mà dễ thương làm sao, đâu cần văn chương óng ả, diễn tả cầu kỳ nhưng anh dư sức làm người đọc bồi hồi rơi lệ.

Này nhé! Khi đọc đến cảnh ăn Tết ở nhà quê, những món ngon và thú vui dân gian ngày tết ở miền Bắc ngày xưa vui quá anh ạ, thú vui mộc mạc của người dân quê chân chất thật thà, như anh đang dắt em về miền tuổi thơ vì ngày xưa em cũng đánh chuyền, nhảy dây, chơi ô quan với mấy đứa bạn nhỏ hàng xóm.

Anh viết về bà anh, mẹ anh, mấy người dì của anh, cả gia đình ấy tan tác vì ly loạn, hình ảnh cậu bé là anh lang thang trên những con đường làng hẻo hút bóng tre xanh, em lại nhớ đến mẹ em thời thơ dại. Cảnh nào cũng khổ đến nao lòng, em cảm phục sự chịu đựng và vật lộn với cuộc sống thật vất vả của người phụ nữ VN ở những thập niên ấy, bỗng nhớ đến hai câu thơ đọc đã lâu:

“Hỡi cô gái Việt Nam tôi kính cẩn
Cúi chào cô người vợ đảm mẹ hiền”

Có phải thơ của Bàng Bá Lân không anh nhỉ?Em cứ tưởng tượng là anh em mình đang ngồi đối diện nhau dưới gốc cây đào khi mùa Xuân đến, và anh đang kể cho em nghe về cuộc đời anh trôi qua như bóng mây trên nền trời xanh biếc. Cảm phục trí nhớ của anh qua nhiều chương sách, cầm trên tay quá khứ của mình rồi bằng lối viết dung dị, chân thật như tấm lòng của anh trải qua nhiều giai đoạn chông gai của cuộc đời. Cũng không hẳn là những câu chuyện buồn, anh chàng Bắc Kỳ lấy vợ miền Nam bỡ ngỡ lạ lùng với cách sống của gia đình bên vợ, vui đáo để. Ngày xưa em cũng có một thời gian dài sống ở miền Tây, nên không lạ lùng gì với câu chuyện anh kể, thú vị lắm nên em cứ phải bật cười hoài vì cái ngây ngô của anh chàng Bắc Kỳ di cư như anh ngày xưa.

Thế rồi em lại được nghe anh kể chuyện đời lính, số anh hình như có cung Nô Bộc tốt nên nơi nào cũng gặp may mắn, dù trải qua những ngày huấn nhục ở quân trường, nếm mùi sình lầy, leo dây tử thần, chung chung là bài học đầu đời của những người lính trận. Định mệnh hình như lại đãi ngộ cho anh không phải dãi dầu nơi chiến trường vạn lần cam go khổ ải, nhưng cũng là những bài học dạy cho anh để đối phó với hoàn cảnh tù đày gần mười năm ở miền Bắc. Nơi nào dù khổ bao nhiêu, anh vẫn nở nụ cười bất chấp, đón nhận niềm hạnh phúc nhỏ nhoi như một ngày mùa Giáng Sinh lạnh căm cắm, sương phủ mờ cánh đồng Bắc Việt, đoàn tù vẫn ậm ừ trong cuống họng bài “Silent Night” để nhớ về những mùa Giáng Sinh trong quá khứ…

Những chương sách khá dài kể về bấy nhiêu năm tù tội, vòng kẽm gai có thể rào kín những con người nơi rừng sâu núi thẳm, nhưng làm sao che nổi một vầng trăng treo thăm thẳm trên vòm trời nhung thẫm. Không bám víu lấy vầng trăng đó chắc những người như anh khó sống nổi để chờ một mai trời lại sáng. Em đồng cảm với anh, khi cùng hoàn cảnh với chị lăn lóc chợ đời nuôi một bầy con nheo nhóc, chưa kể còn phải tiếp tế thăm nuôi cho một người tù hình như không có một bản án rõ rệt.

Đọc đến chương cuối cùng em thở phào mừng giùm cho anh, khi chuyến bay ngày 19 tháng 11 năm 1992 rời phi trường Tân Sơn Nhất cất cánh bay lên, đưa gia đình anh đến một phương trời xa xôi. Dù anh nghẹn lời không diễn tả hết cảm nghĩ của anh giây phút ấy, nhưng bằng cảm nhận của một người đồng cảnh, em hình dung ra những giọt lệ âm thầm rơi trên đôi gò má xạm nắng với nỗi buồn của buổi phân ly. 

Quý mến
Nguyên Nhung


Nguyễn Văn Dũng: Hiệu trưởng trường Trung học







Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)