Hạ Long Bụt sĩ - Lật qua vài cuốn Sử trong nước

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 5 năm 2016

Tóm lại, trong nước có nhân lực, có tài lực, nhiều tài liệu cổ Hán-Nôm, Việt, Trung Quốc nên các bộ Sử được biên khảo cặn kẽ phong phú, in ấn công phu. Người đọc chỉ cần trả lại Mác cái gì của Mác, thì có thể dùng được những tài liệu nghiên cứu chuyên môn còn lại.
Các bộ sử miền Bắc XHCN từ xưa như Lịch Sử VN của Đào Duy Anh xb 1955 tái bản 2002, Lịch Sử VN Từ Nguồn gốc đến năm 1884 xb 2000 của Nguyễn Phan Quang & Võ Xuân Đàn là hai cuốn sử khoảng 500 trang, ngắn gọn so với các bộ sử lớn sau này do công trình soạn thảo tập thể lên đến hàng ngàn trang. Thời trước : 1960-2000, tứ trụ Sử học miền Bắc là Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm (cả ba đồng hương Hà Tĩnh) và Trần Quốc Vượng (dân Hà Nam, không đảng), về sau nhiều sử gia khác được phép đi vào bộ môn rất nhạy cảm này. Ba bộ sử lớn xuất bản sau năm 2000 là :
 Đại Cương Lịch Sử VN chủ biên Trương Hữu Quýnh, 3 tập 14 chương-tập 1 xb 2003 (487tr.) cùng soạn với 3 tác giả khác -nhà xb Giáo Dục. Vẫn theo quan điểm Mác, sự ra đời của Nước Văn Lang được gọi là Sự Giải thể của công xã thị tộc và sự ra đời của công xã nông thôn. ( tr.44). Cũng như nhiều cuốn Sử khác, công nhận Thục Phán như là một nhân vật Tây Âu, cùng Hùng Vương chống quân Tần xâm lăng. Nhưng theo những tư liệu hiếm hoi, như Việt Điện U Linh, Lĩnh Nam Chích Quái… thì Thục Phán giết vua Hùng, giết các nhạc công… như vậy đây phải gọi là cuộc xâm lăng của Âu chiếm Lạc, rồi sau đó để an dân, Thục hoà hợp với dân Lạc đông đảo mà thành Âu Lạc. Chắc gì Âu và Lạc đã nói cùng một ngôn ngữ ! để rồi Âu Cơ lên núi, Lạc Long xuống biển, chia tay chứ không hoà hợp theo ẩn ý của huyền thoại.

Lịch sử Việt Nam do nhà xb KHXH  2007 gồm 15 tập, mỗi tập có một chủ biên và một nhóm biên soạn. Thí dụ tập III thế kỷ XV-XVI 681 trang, do gs Tạ Ngọc Liễn chủ biên cùng với 4 vị khác, khảo từ nhà Hồ đến Lê, Mạc, Nam Bắc Triều. Việc dành cho triều Mạc một vị trí trong chính sử là đứng đắn, vì nhà Mạc đã chính vị ở kinh đô Thăng Long suốt 65 năm 1527-1592, nhóm phục Lê chỉ quanh vùng Thanh Hoá-Lào, cho tới 1543 mới chiếm được Thanh-Nghệ lập ra Nam Triều.
Việc dâng hay trả lại 2 châu và bốn động vùng núi non An Bang biên giới để cầu hoà với nhà Minh năm 1540 cũng phức tạp, trong khoảng trước tk 15-đầu tk16, không xác định rõ thuộc chủ quyền Tầu hay ta, theo Khâm Châu Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí thì năm 1427 Lê Lợi thắng Minh, nên tên Thổ tù Hoàng Kim Quảng, đem 19 thôn và 4 động này, vốn thuộc châu Khâm, về với Lê Lợi.
Nhà Mạc là chính triều, một khâu Sử quan trọng : tiếp nối mạch sử đồng bằng sông Hồng trong dòng Lý Trần, khôi phục Phật giáo sau trăm năm Nho thịnh của Lê Sơ, phát triển nông, công nghiệp, xuất khẩu đồ gốm Bát Tràng, Chu Đậu… đúc tiền (6 loại đồng tiền), sở hữu ruộng đất tư nhân, quân điền… tổ chức 22 khoa thi, lấy đậu 485 tiến sĩ, 13 trạng nguyên với một Thái sơn Bắc đẩu là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phần bàn về Triết lý Nguyễn Bỉnh Khiêm có phần gò ép vào Duy vật : “Trời đất người từ Khí sinh ra… nhất nguyên duy vật” ( tr.498). Nhưng Khí có phải là Vật không ? nhất nguyên trong Đạo học Đông phương không chia cắt Tâm - Vật, âm tàng dương, dương tàng âm, giao hoà chuyển hoá tới Thái Cực, vô cực, mâu thuẫn âm dương, ngày đêm, ngắn dài, mềm cứng trong kinh Dịch quấn quít giao hoà để đi tới thái hoà chứ không đi tới huỷ thể của huỷ thể, không đi tới tiêu diệt nhau, không đi tới giai cấp này triệt tiêu giai cấp kia như biện chứng nông cạn của triết học Mác (xem tr.499).
Trong Vân Đài Loại Ngữ, bàn về Lý Khí, Lê Quí Đôn giải rõ : Lý vô hình tích... lý tức tại khí chi trung. Vô hình tích thì không phải là vật-material-được, cũng như Đạo mà nói ra được thì không phải là Đạo ( Đạo khả đạo phi thường đạo). Khi sứ nhà Thanh, Chu Xán khen phục : An Nam lý số hữu Trình Tuyền, thì có thể là nói về lý số, tài tiên tri bói Dịch của Nguyễn Bỉnh Khiêm,  là vì nhân tâm nhất điểm linh thông (Lý khí), con người là nơi âm dương chi giao, quỷ thần chi hội (Dịch).
Hơn nữa, sĩ phu Việt không ai là thuần Nho, thường là theo Tam giáo Phật Khổng Lão. Trên bia Trung Tân, Trạng Trình nhấn mạnh tư tưởng toàn kỳ thiện vi trung… Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê. Ở đây chí thiện của Nho kết với đáo bỉ ngạn (tới bến) của nhà Phật vậy.
Đây là bộ sử viết kỹ nhất, dành 181 trang, về nhà Mạc và Nam Bắc Triều, có nhắc tới Đạo quán, Đình làng, Thần hoàng, tiếc rằng thiếu 2 chi tiết : đời Mạc, 1533 giáo sĩ Y Nê Khu vào vùng biển Trà Lũ giảng đạo Gia Tô và cũng tại vùng Nam Định này xuất hiện đạo nội Liễu Hạnh thánh mẫu năm 1557, trong thời thịnh Mạc (khi ấy toàn quốc, vùng Nam Định thuộc nhà Mạc, mà sử sách như Khâm Định, Trần trọng Kim, lại ghi là vào thời Lê Trang Tông, là ông vua rượu chúa chổm mới phục lên trong khu rừng núi Thanh hoá-Lào, vì quá trung với Lê mà coi Mạc là nguỵ triều, viết sử như vậy rõ ràng mang thiên kiến chủ quan).
Đây là một bộ sử lớn, khảo luận kỹ càng, tài liệu phong phú, thông thoáng hơn các sách sử xb thời 1970-80, tuy vậy vẫn chưa thoát khỏi vết lầy duy vật sử quan.
Bộ Lịch Sử Việt Nam - xb Trẻ 2007 gồm 6 tập từ thái cổ đến năm 2000, do Trần Văn Giầu, Trần Bạch Đằng và Mạc Đường chủ biên cùng nhiều soạn giả khác. Như vậy đây là tập sử do các tác giả XHCN miền Nam cùng ra năm 2007 song hành với bộ LSVN do KHXH Hà Nội xb kể trên.
Tập I đặc biệt khảo về Tự nhiên-Nhân Văn VN trước khi đi vào thời Hùng Vương, khác với các bộ sử trước. Các chương viết về Dân Tộc thiểu số, về Ngôn Ngữ các dân tộc, về Dân số, về Cương vực, khá kỹ càng, nhắc tới cả Hoàng sa và Trường sa, về Khối Đông Nam Á… là những ưu điểm của bộ sử cập nhật mới mẻ này. Tập I nội dung như một cuốn Văn hoá sử cương, mào đầu cho thông sử. 
                                                                              *
Nhận xét I :Các sách Sử trong nước thường hay nhắc tới mấy chữ Khởi nghĩa nông dân, theo đó thì các tay chọc trời khuấy nước như Nguyễn Hữu Cầu, Quận Hẻo, Hoàng Công Chất, Phan Bá Vành… đều có Nghĩa mới Khởi lên, nghĩa gì ? hay có khi là thảo khấu thổ phỉ giặc dã làm loạn, lợi dụng nông dân làm ăn cần cù hiền hoà hoặc tụ tập bọn vô lại du thử du thực ? Giữa Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu, sử gia cho ai là chính, ai là giặc ? Nói cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo phục Trần, của Lê Duy Mật phục Lê, của Cao Bá Quát trương cờ Vô Nghiêu Thuấn-Hữu Võ Thang… thì đúng, là vì có nghĩa, có học trò, có dân thiểu số, có nông dân, còn nhiều cuộc nổi dậy chống Trịnh cuối tk 18, hơn 300 cuộc nổi dậy dưới triều Nguyễn chưa chắc tất cả đã là nông dân khởi nghĩa, mà có nhiều phần nhóm mưu đồ lợi dụng nông dân, người nghèo đói, dân lưu vong, mà thôi. (xem Phong Trào Nông Dân VN tk 18 –Nguyễn Phan Quan-xb 2005,  hay Lịch Sử VN từ Nguồn Gốc đến Năm 1884 xb 2000 của Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn).
                                                                              *
Nhận xét II : Thời quân chủ chuyên chế,  Ngô Sĩ Liên còn dám viết Lê Thái Tổ là đa nghihiếu sát, giết các công thần, trong bộ ĐVSKTThư (quyển X tr. 307), thì thấy sử thần thời xưa rất khí phách và được tôn trọng hơn thời nay rất nhiều. Thiết tưởng trong điều kiện khó khăn hiện tại, người viết sử trong nước thay vì soạn thông sử, nên viết Sử biên niên, ghi các sự kiện xẩy ra theo năm tháng để sau này làm tài liệu tham khảo thì ích dụng hơn, không nên vướng mắc vào sử quan ý hệ lỗi thời làm giảm giá trị công trình nghiên cứu rất sâu rộng. Cuốn Tóm tắt Niên Biểu Lịch Sử  VN của Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức hơn 200 trang, gọn, gần như biên niên, xb 1999, khá khách quan, ngoại trừ 4 trang cuối, 1945-1976, vẫn không thoát khỏi vết tuyên truyền một chiều.
Trang 9 : Truyền thuyết Kinh Dương Vương, có mộ tại Thuận Thành, Bắc Ninh. Đã là truyền thuyết mà lại có mộ sờ sờ, phải chăng là mộ biểu tượng ?
Tóm lại, trong nước có nhân lực, có tài lực, nhiều tài liệu cổ Hán-Nôm, Việt, Trung Quốc nên các bộ Sử được biên khảo cặn kẽ phong phú, in ấn công phu. Người đọc chỉ cần trả lại Mác cái gì của Mác, thì có thể dùng được những tài liệu nghiên cứu chuyên môn còn lại.

Nhận xét chót : tại các xứ chậm tiến, như VN, Tầu… óc địa phương hương đảng (esprit provincial) rất mạnh, khiến chính trị dễ trở thành gia đình trị, sứ quân, kiêu binh. Như thời 1945-46, cả Quốc lẫn Cộng 80-90% nhân vật cốt lõi cùng gốc khu IV, vụ Nhân Văn Giai Phẩm cũng vậy, bên Tầu thời 1980-90 nhiều quan chức gốc Tứ Xuyên… đây là điểm nhậy cảm mà hầu hết các sử gia thường né tránh. Nhóm Lê Lam Sơn triệt hạ 4 cột trụ gốc Kinh là Trần Nguyên Đán, Phạm Văn Xảo, Lưu Nhân Trú, (sau còn giết tù trưởng Đèo Cát Hãn, Mường, Lai Châu, dù đã hàng) rồi tới tru di Nguyễn Trãi, rõ ràng có yếu tố phe nhóm địa phương trong đó. Có hai người nêu vấn đề này : gs Trần Quốc Vượng trong Theo Giòng Lịch Sử xb 1996 Hà Nội, tr.422-423 ghi 1/3 dân Hà Nội hôm nay gốc Nghệ Tĩnh, và thuật lời Nguyễn Khắc Viện : 2/3 trí thức cấp cao hoạt động khoa học ở Hà Nội là người gốc Nghệ Tĩnh (1) Nhà văn tập kết miền Nam, Xuân Vũ, trong Văn Học Miền Bắc Như Tôi Biết  (xb ở hải ngoại) nhận xét : thời sau 1954 ở miền Bắc, chỉ có một anh mắm tôm thịt chó là Nguyễn Đình Thi, ngoài ra Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… đều cùng một hương đảng phe phái… Riêng Tạ Chí Đại Trường bàn kỹ chuyện gia phả các dòng họ, nhiều khi thêu dệt để nâng dòng họ hay địa phương mình lên, thí dụ như dòng Nguyễn Bặc (đời Đinh), dòng Lê Hoàn, gốc Hà Nam nhưng phe Thanh Hoá lại muốn lôi về xứ Thanh, có ông lại muốn mang Chùa Hương, Hà Đông, vào Hương sơn Hà Tĩnh v.v... (2)
Chú Thích
(1)   Chuyện địa phương VN cũng được một tác giả Pháp là Philippe Papin viết ra trong cuốn Việt Nam Parcours d’une Nation ( 1999). Nhưng từ 20 năm nay, lại có hiện tượng khác: Hà Nội là khu kinh tế mới của dân Nghệ Tĩnh, Lâm Đồng là khu kinh tế mới của người Hà Nội, thực tế là dân miền Bắc di vào Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tầu, Biên Hoà (dân Hải Phòng, Nam Định, dân Công giáo tìm khu Công giáo…), vào Đồng Tháp, Bình Long (dân Nghệ Tĩnh) vì đất lành sinh sống dễ thở hơn. Người dân miền Nam đặt ra từ Bắc Kỳ 9 nút (di cư 1954) để phân biệt với Bắc kỳ mới.
Sách báo trong nước thường có dụng ý tuyên truyền, sách báo hải ngoại thường phản biện chống CS. Nhưng từ khoảng 20 năm nay, cuộc chuyển hoá xã hội rất lớn, toàn quốc, là những đợt di dân làm thay đổi văn hoá, xã hội, cộng thêm cơn bão điện tử, toàn cầu hoá, du nhập văn hoá Nhật, Hàn, Âu, Mỹ, những đợt sóng ngầm, nổi, của dân gian, đến tự nhiên với dân tộc, mà vẫn chưa có một chuyên gia nào tổng hợp nghiên cứu. Đối với thế hệ trẻ trong nước, sinh sau 1980-1990, thì không gian văn hoá của họ là Starbucks, là Facebook, nhạc vàng, là mạng… mà các người lãnh đạo 50, 60, 70 tuổi không dễ bắt kịp, số người đi du học về nước, và đi khỏi nước, số du khách Nga, Đông Âu, Pháp Mỹ Úc, số người Việt hải ngoại… tràn đầy Sài Gòn, các tỉnh bờ biển miền Trung, Nam phần… một cuộc toàn cầu hoá, tư bản hoá, điện tử hoá, toàn diện đang xẩy ra. Nhưng có lẽ khởi đầu cho làn gió dân chủ tự do thổi vào chính là âm nhạc, là dòng nhạc tình cảm phong phú từ trái tim dân tộc nối kết con người, phi chủ nghĩa, phi tâm phi vật.

(2)   Rải rác trong nhiều bài Văn Sử- Sử gia họ Tạ viết dài và nhiều, vượt khung cũ kỹ, nay cần một Di cảo Toàn tập thâu góp lại. Ưu điểm của ông là sau 1975 đã ở lại VN khá lâu nên biết rất rõ về sử sách trong nước.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)