Hà Kỳ Lam - Sông Thu Bồn

Thứ Bảy, ngày 16 tháng 4 năm 2016

Bãi Bình Yên - bên kia sông (tả ngạn sông Thu Bồn)
Tác giả xin cám ơn anh Lê Minh Đình, người bạn học thuở thiếu thời dưới mái trường tiểu học ở Phú Gia, Quế Sơn, về những đóng góp ký ức quý báu liên quan đến tên và vị trí làng xã ven bờ Thu Bồn. HKL.
Địa hình tỉnh Quảng Nam không có điều kiện cho những con sông dài. Là một phần của “thắt lưng” miền Trung hẹp, dựa lưng vào Trường Sơn, trông ra Biển Đông, sông ngòi của Quảng Nam rất ngắn. Thực ra Quảng Nam chỉ có con sông chính là dòng Thu Bồn phát nguyên từ núi Ngọc Lĩnh thuộc tỉnh Kontum, với các phụ lưu là sông Tiên, sông Tranh từ vùng Tiên Phước, và sông Vu Gia từ vùng Đại Lộc nhập vào. Nhưng theo một tài liệu địa lý được xuất bản ở hải ngoại vào khoảng 1988, cuốn địa lý đại cương “Việt Nam Mến Yêu” của soạn giả Phạm Thăng, thì chính sông Thu Bồn lại là phụ lưu của một con sông khác, sông Buông, phát nguyên từ núi A Tuất tại biên giới Lào-Việt và chảy ra Biển Đông tại Cửa Đại gần Hội An. Nhìn bản đồ trong cuốn sách ấy, tôi thấy con sông Buông từ biên giới Lào-Việt chảy về hướng Đông, đến khu vực núi non của vùng mạn ngược Quảng Nam nhận một nhánh sông bên hữu ngạn đổ vào – sông Thu Bồn - rồi xuôi dòng ra biển. Tự nhiên tôi thấy “bất bình” với điều mình đọc được. Tôi bênh dòng Thu Bồn. Sông Buông mới là phụ lưu. Con sông Thu Bồn đẹp đẽ, bề thế của vùng địa linh nhân kiệt Quảng Nam không làm phụ lưu cho ai cả! Nhưng thôi, chuyện địa lý địa dư để hạ hồi phân giải. Chỉ cần biết rằng tự nghìn xưa dòng Thu Bồn là một hiện hữu được công nhận trong non nước Quảng Nam, và trong vùng trời thơ ấu của tôi là đủ rồi.
Nói ra có thể nhiều người sẽ cho rằng tôi nhìn sự vật qua lăng kính của tình cảm, nhưng tôi nhận ra rằng sông nước của Quảng Nam có một sắc thái riêng. Đành rằng cảnh quang mỗi vùng phải khác nhau, nhưng cái độc đáo của sông nước Quảng Nam là nó phô diễn trước mắt người nhìn một vẻ riêng biệt khó tả mà tôi tạm gọi là dáng vẻ Quảng Nam. Hãy nhìn một đoạn sông Thu Bồn (với điều kiện chưa ai nói cho mình biết đó là sông Thu Bồn!); tôi cam đoan quý vị sẽ thốt lên, “sao giống những bờ sông Quảng Nam thế!” Thật vậy, những bãi cát trắng mịn màng, những hàng tre xanh viền bờ nước trong vắt, êm đềm xuôi dòng… Và tất cả những chi tiết địa hình kia kết lại, đan bện với nhau thành một toàn thể, một tổng hợp mà khi nhìn ta không khỏi bồi hồi, cảm động vì những đường nét Quảng Nam lồ lộ kia. Nếu trong một tập tùy bút mỏng tựa là “Theo Dòng” Thạch Lam đã viết, “Tôi không bao giờ nhìn ngắm một cành tre mà không thấy nổi lên trong lòng một cảm xúc nào đó” để nói lên tâm hồn mẫn cảm của ông, thì tôi cũng muốn mượn lại lời kia để nói lên những dấu ấn trong lòng mình khi đứng trước cảnh sông nước chảy ngang làng Bình Yên, thuộc quận Quế Sơn, “tôi không bao giờ nhìn ngắm bãi Bình Yên mà không thấy nổi lên trong lòng một cảm xúc nào đó.” Thú thật, dọc hai bên sông từ vùng Hòn Kẽm Đá Đá Dừng, xuống vùng đồng bằng quận Điện Bàn, tôi không thấy bến bãi nào lại mang một vẻ “bình yên” như đoạn sông nước tại khu làng Bình Yên. Và tôi 



phục những bậc tiền bối đã tài tình khi chọn cái tên kia cho ngôi làng! Tôi cũng tìm thấy một khung cảnh yên bình tương tự khi đứng bên bờ Kỳ Lam nhìn sang hai làng Trừng Giang và Đông Bàn bên kia sông. Nhắc đến Đông


 Bàn, trong trí tôi hiện ra những con đường làng rợp bóng tre xanh, và tôi nghĩ hiếm nơi có nhiều tre như thế. Một đặc điểm khác của sông nước Quảng Nam là lòng sông toàn là cát. Thậm chí những khe suối nhỏ trong rừng sâu núi thẳm cũng được lót bằng một lớp cát mịn dưới dòng nước. Vì vậy, ở đây người ta không thấy cái màu nước đỏ quạch, hay vàng đục như sông ở các miền khác của đất nước, mà chỉ thấy những dòng sông trong vắt, ngoại trừ trong những cơn lũ lụt.
Tuy nhiên, không phải lúc nào dòng Thu Bồn cũng hiền hòa. Tôi muốn lặp lại một câu trong bài ca từng thịnh hành tại miền Nam Việt Nam thập niên 1960, The River of No Return, để áp dụng cho nó, “Sometimes it’s peaceful, and sometimes wild and free” - tạm dịch: Đôi khi nó hiền hòa, và đôi khi nó man dại và bất kham. Đôi khi, có nghĩa là những trận lũ lụt mà dòng sông đã giận dữ tràn lên cuốn trôi bao nhiêu làng mạc ven bờ thượng nguồn, như “trận hồng thủy” của dòng Thu Bồn năm 1964 đối với dân cư vùng Hòn Kẽm Đá Dừng, Phú Gia, Dùi Chiêng… Đôi khi cũng để chỉ những khúc mà lòng sông có những độ dốc nào đó tạo nên thác ghềnh. Về phía thượng nguồn gần nơi phát nguyên hơn, ngoài cái không gian tuổi thơ của tôi, nghe nói dòng sông có nhiều thác chảy xiết đến nỗi thuyền bè không lưu thông được. Chỉ kể từ bến đò Tân An, xuôi dòng đến vùng Kỳ Lam, tôi biết có ba khúc sông có thác ghềnh: ngược dòng “từ dưới biển lên núi” ghe thuyền phải vượt qua Thác Cổ Cò ở khu vực làng Phú Đa (quận Duy Xuyên), Thác Đồng Bò - có người gọi Đầu Bò - ở khu vực làng Đông An (quận Quế Sơn), và Thác Ông Xuân ở khu vực Hòn Kẽm Đá Dừng. Tại thác nầy vào tháng 5 năm 2001 vợ chồng tôi và vài ngưòi bạn suýt bị chìm xuồng, khi chiếc ca-nô chở chúng tôi bị liệt máy giữa dòng. Chiếc xuồng máy trôi thối lui và quay đầu, bị nước đẩy sắp lật thì may quá động cơ hoạt động trở lại, và người lái đò nhanh tay lèo lái chiếc xuồng quay mũi đối đầu với dòng nước. Thế là tai qua nạn khỏi. Lúc ấy cô bé con người lái đò mới cho hay chính nơi đây năm trước một chiếc ghe chở những người địa phương đi làm rẫy về đã bị chìm và không ai sống sót!

Tuổi thơ của tôi gắn liền với sông Thu Bồn. Tôi biết dòng sông vẫn thấp thoáng qua bờ tre trước nhà ông bà nội tôi từ thuở lên bốn, khi gia đình tôi từ Cần Thơ hồi hương về làng Kỳ Lam sau khi bố tôi qua đời. Tôi đã uống nước sông ấy, tắm nước sông ấy, và lớn lên bên dòng sông ấy. Dù sau nầy bước chân tôi đã đi “cùng trời cuối biển”, cái không gian 

Bản đồ hành trình của dòng Thu Bồn
từ thượng nguồn đến Biển Đông

tuổi thơ của tôi bên dòng nước ấy vẫn được tồn trữ trang trọng một cõi riêng trong lòng, ở đó cái diệu vợi của không gian, vái vô tình của thời gian cũng phải nhường bước. Không gian ấy trải dài hai bên dòng sông, từ vùng đồng bằng Kỳ Lam ngược dòng lên

Bến Phú Gia. Bên kia sông (tả ngạn) là làng Dùi Chiêng

Tĩnh Yên, Khe Cát của Duy Xuyên, đến Phú Gia, Hòn Kẽm Đá Dừng của Quế Sơn, chứa đựng những làng mạc mà địa danh hầu như mỗi lần nghe nhắc đến thì cả một khung trời kỷ niệm hiện về trong tôi.

Hôm nay viết về dòng Thu Bồn, tôi muốn cùng quý độc giả chu du trên dòng nước trong khung trời ấy qua trí tưởng để tôi có dịp nhắc đến những địa danh thân thương kia như một chút tình hoài hương…

Dòng Thu Bồn trong cái không gian xưa của tôi được giới hạn từ bến đò Tân An (bên hữu ngạn), quận Hiệp Đức, xuôi dòng đến chân cầu Kỳ Lam, quận Điện Bàn. 

Tả Ngạn

Gồm các làng Bình Huề, Bình Kiều, núi đá Hòn Kẽm Đá Dừng, Sé, Dùi Chiêng, Bình Yên, Xuân Hòa, Nông Sơn, Đại Bường, Phường Rạnh Bắc, Phú Hanh (Bến Dầu), Phú Thuận, Thượng Phước, Khánh Vân,

Hòn Kẽm Đá Dừng

Giao Thủy, Vân Ly, Mỹ Hòa, Giáo An, An Tế, Kỳ Lam-xóm-bắc, Dinh Tây, Bát Nhị…

Đến địa phận làng Giao Thủy - một nơi nổi tiếng về nghề tơ tằm – sông Thu Bồn nhận thêm một phụ lưu từ bên tả ngạn, sông Vu Gia từ vùng Đại Lộc nhập vào. Có lẽ cái tên Giao Thủy ra đời từ xa xưa là để đánh dấu chỗ hợp lưu nầy chăng?

Hữu Ngạn

Gồm các làng Tân An, Khe Gai, Trà Linh, núi đá Hòn Kẽm Đá Dừng, Tý (một bình nguyên mênh mông chỉ trồng toàn bắp, và dưới mắt thằng tôi bé con ngày xưa thì với một loại hoa màu độc nhất trên một diện tích như thế, quả nơi đây là đệ nhất thiên hạ!), Phú Gia, Đông An, Khánh Bình, Cà Tang, Trung Phước, Phường Rạnh Nam, Thạch Bàn, Tĩnh Yên, Phú Đa, Thu Bồn, Mỹ Lược, La Tháp. Đến đây việc liệt kê làng mạc bên hữu ngạn tạm dừng lại vì sự biến đổi địa hình của dòng sông: khu Gò Nổi xuất hiện.

Nói đến làng mạc bên hữu ngạn sông Thu Bồn không thể bỏ qua chi tiết về vùng Gò Nổi. Từ điểm Giao Thủy đề cập ở trên, dòng sông chẳng bao lâu lại phân thủy, tách ra hai hướng khi bắt đầu đến làng Vân Ly; một nhánh rẽ phải, chảy về hướng Nam, gọi là sông Trước, và nhánh kia rẽ trái chảy về hướng Bắc, gọi là sông Sau. Sông Trước cũng là ranh giới thiên nhiên phân cách quận Điện Bàn (trong đó có khu Gò Nổi) bên tả ngạn của nó với quận Duy Xuyên bên hữu ngạn. Để độc giả dễ hình dung, xin ghi thêm: cây cầu Chiêm Sơn bắt qua sông Trước, và cây cầu Kỳ Lam bắt qua sông Sau. Hai nhánh sông chạy vòng ôm một cù lao với chiều dài khoảng mười cây số, chiều ngang rộng nhất khoảng năm hay sáu cây số, rồi lại hợp lưu để tiếp tục hành trình của dòng Thu Bồn ra Biển Đông. Cù lao ấy là Gò Nổi.

Nhân nhắc đến cầu Kỳ Lam, tôi muốn kể lại một kỷ niệm thuở học trò của mình trên chiếc cầu ấy, và ước mong nó sẽ góp vui hơn là làm mất thì giờ của quý độc giả. Trong vụ nghỉ hè năm 1958, một hôm tôi dắt xe đạp từ bên bờ Kỳ Lam-xóm-bắc qua cầu để đi đến làng Đông Bàn. Dĩ nhiên tôi đi dọc hành lang tận bên trái dành cho khách bộ hành. Đến khoảng giữa sông tôi thấy hai người khách đi ngưọc chiều – hai cô gái. Khi gần giáp mặt nhau, tôi nhấc chiếc xe đạp lên và khẽ lách sang bên phải trên hành lang hẹp đó để họ đi qua. Nhưng rủi thay, tôi trượt một chân ra khỏi mặt phẳng hành lang, mất thăng bằng, ngã xuống khoảng trống phía gần đường sắt song hành ở trung tâm cầu. Nhưng may thay, chiếc xe đạp rơi trước nên bánh xe và ghi-đông vướng trên các thanh sắt của lòng cầu, nằm nghiêng nghiêng làm thành một cái giàn cho thân tôi ngã lên đó! Duy cái đầu tôi lọt khỏi khoảng trống, chúi nhủi xuống, và tôi bỗng hoa cả mắt khi thấy mặt nước sông ở thật xa bên dưới! Giây phút đó tôi mới thấy cầu Kỳ Lam cao vời vợi. Ở cái “sát na” mà tôi ngã xuống những khoảng trống của cầu, tôi chỉ kịp ném rất nhanh cái nhìn “cầu cứu” với hai cô gái, và chỉ kịp thoáng thấy họ há hốc mồm mà không phát ra được một tiếng kêu nào, dù hét khe khẽ! Qua giây phút kinh hoàng, thấy mình vô sự, tôi từ từ, và thận trọng với từng động tác một, leo lên lại trên hành lang bộ hành, với một đầu gối bắt đầu  đau buốt vì va vào thanh sắt cầu. Không ai biết số phận tôi có thể đã ra sao nếu tôi rơi tòm xuống sông hôm đó, vì tôi bơi rất xoàng! Có một điều, mãi đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại tai nạn kia, tôi vẫn không xác định nổi mục đích chuyến “qua cầu” của tôi lần đó. Nếu tôi đi thăm người bạn học Phạm Phú Minh ở Đông Bàn, thì hẳn tôi đã kể với anh ta về tai nạn kia rồi, chứ tôi giấu làm gì, mặc dù tôi có giữ kín câu chuyện này đối với một người - mẹ tôi. Đằng này tôi tin chắc rằng trước khi đọc những dòng nầy, Phạm Phú Minh không hề biết tôi đã suýt rơi tòm từ cầu Kỳ Lam xuống sông Thu Bồn.

Về hai tên gọi sông Trước và sông Sau, tôi có dò hỏi một số người Quảng Nam tương đối có “thẩm quyền” về xứ Quảng, nhưng cũng chẳng đi đến một kết luận dứt khoát cho những gì mình tìm kiếm, vì mỗi người nói một khác. Có kẻ cho rằng gọi sông Trước, sông Sau để chỉ sự ra đời trước và sau của hai nhánh sông. Một số người khác lại nói tiếp vĩ ngữ trước và sau dùng để chỉ vị trí, nơi chốn chứ không liên quan đến yếu tố thời gian gì ráo. Tôi đồng ý với giả thuyết sau nầy, trước và sau, đây là để chỉ không gian chứ không phải thời gian. Thời gian để tạo thành một hình thể như thế về địa lý - tức là hai nhánh sông rẽ ra rồi nhập vào để làm nên một cái cù lao khổng lồ gọi là Gò Nổi – thì chắc là lâu lắm rồi, có thể hằng nghìn năm hoặc lâu hơn nữa, mà người Việt Nam thì mới chỉ đến vùng nầy có mấy trăm năm thôi, làm sao biết cái nào có trước,
          
Hạ lưu sông Thu Bồn. Bờ bên kia (tả ngạn) là dô thị cổ Hội An

cái nào có sau. Vậy trước, sau đây là chỉ về vị trí, nơi chốn. Nhưng lấy tiêu chuẩn nào để định cái nầy là phía trước, cái kia là phía sau? Vì cho đến nay chưa nghe ai giải thích rõ rệt điều nầy, tôi xin tạm đưa ra một giả thuyết của riêng tôi: tiêu chuẩn trước và sau là dựa vào hướng Nam tiến của dân tộc chúng ta. Trên đường di chuyển về hướng Nam, cái gì ở trước mặt thì gọi là trước, cái gì mình đã vượt qua rồi, ở phía sau lưng, thì gọi là sau. Nếu một người trên đường Nam tiến, sau khi vượt nhánh sông thứ nhất và vào đất Gò Nổi, mặt ngó về hướng Nam, thì nhánh sông trước mặt sẽ gọi là sông Trước, nhánh sông mình vừa vượt qua thì gọi là sông Sau.

Nhưng tôi nghĩ giả thuyết nầy chỉ đúng với những địa hình nhỏ, ví dụ khu Gò Nổi, chỉ cần một thời gian ngắn người mới tới đây đã có thể phát giác ra các yếu tố tạo ra địa thế vùng đất đó, nên ý niệm về không gian trước mắt mình và sau lưng mình rất rõ rệt. Nhưng đối với những địa thế rộng lớn thì ý niệm nầy không thể tồn tại trong tâm lý của con người, và người ta phải tính trước sau theo thứ tự thời gian. Ví dụ, khi vào đến miền Nam với đồng bằng bao la của châu thổ sông Cửu Long thì nhánh sông gặp trước thì gọi là sông Tiền, nhánh gặp sau gọi là sông Hậu.


Đây là Cửa Đại; con sông Thu Bồn chấm dứt  
tại đây. Bên kia hai bờ cát nầy là Biển Đông.

 Xin tiếp tục việc liệt kê làng mạc bên hữu ngạn sông Thu Bồn. Vùng Gò Nổi gồm các làng (kể từ hướng trên “nguồn” xuống): Vân Ly-xóm-nam, Tư Phú Tây, Tư Phú Đông, La Kham, Thạnh Mỹ, Bảo An, Xuân Đài, Kỳ Lam-xóm-nam, Bến Đền Tây, Bến Đền Đông, Bàn Lãnh, Dinh Trận, Trừng Giang, Đông Bàn, Cẩm Lậu, Phú Bông, Hà Mật, Thi Lai. Điều đáng nói nhất về Gò Nổi là trong số nhân tài của toàn xứ Quảng thì nơi đây sản sinh phần lớn. Khuôn khổ bài nầy không đi vào chi tiết về địa linh nhân kiệt của vùng Gò Nổi. Quý độc giả có thể tham khảo về chi tiết đó trong bài “Gò Nổi” của Phạm Phú Minh đăng trong Giai Phẩm Mùa Thu Quảng Đà 1994 do Thái Tú Hạp thực hiện.

Nhìn tên làng mạc nằm hai bên sông Thu Bồn, từ vùng thượng nguồn xuống đến vùng đồng bằng mà tôi liệt kê trên đây, chắc quý độc giả không khỏi thắc mắc tại sao có một số tên làng xã nằm cả đôi bờ con sông; đó là các làng Phường Rạnh, Vân Ly, Kỳ Lam – và có thể còn một số làng nữa cũng tọa lạc cùng một cách thức nhưng tôi không có dịp biết. Tôi cũng có cùng một thắc mắc: tại sao lại có những làng xã được tạo thành không theo truyền thống xây dựng làng xã Việt Nam, tức là nằm hẳn một bên sông, thay vì trải trên cả hai bờ. Tôi nghĩ, do tác động của các yếu tố thời tiết, địa chất, với thời gian, dòng chảy của một con sông có thể bị đổi hướng, và hiện tượng xâm thực, xoi mòn trong dòng chảy của nó khiến cho một vùng đất có khi bị sụt lở, xóa mất trên bản đồ, như tình trạng hiện nay của làng Long Hội kế cận làng Kỳ Lam-xóm-bắc, có khi được bồi đắp rộng ra, được khai sinh, hoặc có khi bị cắt đôi thành hai mảnh nằm vắt vẻo trên hai bờ của dòng nước. Có thể các làng Kỳ Lam, Vân Ly, Phường Rạnh đã biến dạng như ngày nay vì đã bị định luật “vật đổi sao dời” của trời đất chi phối. Và tôi lại nghĩ, cũng may không có nhánh sông nào của dòng Thu Bồn bị lấp hẳn như con sông ở Nam Định để nhà thơ Trần Tế Xương phải u hoài:
Sông kia giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò 

Nhắc đến tên làng mạc hai bên bờ Thu Bồn, tôi lại nhớ đến tên làng Bàn Thạch, một làng chuyên nghề dệt chiếu. Nó không nằm trong vùng trời thơ ấu của tôi, mà chỉ nằm trong ký ức, vì hồi nhỏ tôi thường nghe những người lớn trong gia đình đề cập đến địa danh ấy, và vì những vần thơ của một ai kia cũng nhắc đến nó. Tuy rất mơ hồ về vị trí địa dư của nó - nghe đâu nó nằm ở miệt hạ lưu gần biển của dòng Thu Bồn -  tôi muốn nhắc đến Bàn Thạch hôm nay vì những vần thơ nồng nàn tình Quảng Nam của một tác giả mà tôi không nhớ tên vì đọc đã lâu quá:
Quê em Tây Bắc Hòa Vang
Thuốc ngon khét tiếng, ruộng vườn phì nhiêu
Quê anh Bàn Thạch chiếu nhiều
Canh đay chỉ lát dệt nghìn đắng cay

Đó là tất cả không gian tuổi thơ và ký ức của tôi bên dòng Thu Bồn. Tôi biết những địa danh và vị trí địa dư của chúng còn thiếu sót, không chính xác lắm, vì phần lớn chúng được gợi lại từ ký ức ngày nhỏ. Ước mong quý đồng hương, và quý độc giả “ngoài” Quảng Nam nhưng có lòng với xứ Quảng và am hiểu xứ Quảng bổ túc, góp ý. Xin đa tạ.

New Jersey 25-7-2005
Hà Kỳ Lam

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)