Tìm kiếm Blog này

Ngự Thuyết - Nỗi buồn không tên (Kỳ 4 - tiếp theo và hết)

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016


Không chờ bé ngủ cho đẫy giấc, anh đánh thức bé dậy, chở bé đến Trân,
mang theo lá thư của Diệp đưa cho Trân đọc. Vì anh không biết xử trí ra làm sao cả. Anh biết Trân là người cứng cỏi, quả cảm, thử để Trân quyết định theo chiều hướng nào. Rồi tính sau.
Đọc thư xong, Trân ném mạnh lá thư xuống bàn, đanh mặt lại:
“Thế ra anh đã đánh lừa tôi suốt mấy năm nay.”
“Trong hoàn cảnh của anh... Mà thôi, anh biết anh hoàn toàn có lỗi. Anh phải nói cái gì đây? Xin em tha thứ.”
“Anh phá đời tôi, bây giờ xin em tha thứ! Nói nghe lạ quá, dễ quá. Anh nghĩ rằng mọi chuyện cứ thế sẽ êm trôi? Và tôi sẽ chùng lén gặp anh?”
“...”

“Tôi cũng dễ bị lừa thật. Qua đến đây vẫn còn u mê để bị sập bẫy thêm.”
Hưng ôn tồn tiếp lời:
“Vậy anh phải làm gi? Em muốn anh làm gì?”
Trân nổi nóng, cao giọng:
Anh thách tôi hả?”
“...”
“A, còn điều này nữa, anh hãy nhắc lại đi. Ghê gớm thật! Anh hiện đang ở trọ với mấy người bạn? Cuối tuần làm giờ phụ trội? Để dành tiền mua nhà?”
“...”
“Lại thêm cái thằng nhỏ này nữa!
“Xin em. Xin em đặt đứa bé này ra ngoài ... chuyện của em và anh. Anh van em. Nó vô tội, vô can. Hơn nữa ...”
“Hơn nữa cái gì?”
“Hơn nữa nó ngoan ngoãn và hồn nhiên. Tội nghiệp nó. Anh thương nó vô cùng.”
Trân gằn giọng:
“Anh nói nghe thật buồn cười. Trẻ con nào lại không hồn nhiên, vô tội? Chỉ có người lớn mới giở hết trò này đến trò khác để hại người.”
Nói xong, Trân ngồi im. Hưng cũng không nói một lời. Bé thu mình ngồi yên trong lòng bố nhìn ngơ ngác. Sau một chốc, anhcau mày, lạnh lùng lên tiếng:
“Cô còn muốn nói gì nữa?”
Hưng nhìn thẳng ra cửa, dợm mình đứng dậy, hai tay nâng bé lên, như muốn bỏ đi. Bỗng Trân đổi thái độ, mỉm cười với bé. Anh lại từ từ ngồi xuống ghế, lấy tay vỗ nhẹ trên má của bé trong lúc nó mở to mắt nhìn bố rồi nhìn Trân. Trước đó, nó không bao giờ chịu ngồi lâu như thế. Cái không khí lạ lùng giữa một người đàn bà không phải là mẹ mình và cha mình khiến cho bé kinh ngạc không dám rời khỏi vòng tay bố ôm chăng. Trân nói nhỏ nhẹ với bé:
“Bé tên chi?”
“Quốc.”
“Bé mấy tuổi?”
“Một tuổi.”
Trân nhìn Hưng như muốn hỏi. Anh vội đáp:
“Bé hơn một tuổi rưỡi, nhưng nó nói dài như thế chưa được nên nói một tuổi. Bé biết nói hơi chậm. Chơi và phá thì sớm lắm.”
Trân tiếp tục hỏi bé:
“Bé thương cô không?”
“Thương.
“Thương nhiều không?”
“Biết.”
Hình như sự có mặt của bé dần dần khiến cho câu chuyện giữa hai người bớt gay go, căng thẳng. Trân lại quay mặt nhìn Hưng như muốn hỏi bé định nói gì. Anh đáp:
“Bé nói ‘biết’ có nghĩa là ‘không biết’.Nói ‘có’ có nghĩa là ‘không có’.”
Trân lại vui vẻ hỏi bé câu hỏi cũ:
“Bé thương cô nhiều không?”
Bé lơ đãng nhìn nơi khác trả lời:
“Biết.”
Trân  cúi mặt nói:
“Hôm nay anh đem nó đến đây làm gì vậy? A, tôi hiểu rồi, ở nhà không còn ai nên đi đâu cũng phải đèo nó theo.”
Hưng vội vàng đáp:
“Vâng. Diệp vừa mới đi về Việt Nam.”
“... Rồi sẽ đem gởi cháu bé tại nhà một người em họ, phải không?”
Hưng ngạc nhiên trố mắt nhìn Trân:
“Đúng thế. Sao cô biết, sao em biết?”
“Cái gì tôi cũng biết.”
Hưng mỉm cười:
“Nhà cô ấy cũng hơi xa, hơn ...”
“Anh khỏi nói tiếp,” Trân ngắt lời. “Hơn một tiếng.”
Nói xong, Trân đứng dậy khỏi ghế, nhìn xuống đất, vừa đi vừa nói ngập ngừng:
“Phải chờ chị ấy, chị ... chị Diệp, từ Việt Nam trở về, rồi mới có thể tính tiếp chuyện khác. Chị ấy cũng ... anh hồi nãy nói cái gì đó ... cũng vô tội, vô can? Phải rồi, chị có lỗi gì đâu. Bây giờ thì ...  tôi đề nghị như thế này ...”
“Vâng, anh đang nghe.”
“Anh khỏi phải đi xa. Cô em họ của anh ở vùng nào? Thôi, tôi không cần biết. Thế này này, mỗi sáng trước khi đến sở làm, anh tới đây đón tôi về nhà anh. Có lẽ khi đến đây anh cũng phải chở bé theo như hôm nay. Để bé ở nhà một mình đâu được. Chiều đi làm về, anh về nhà anh, mang tôi và bé trở lại đây. Rồi chở bé về. Nói như vậy là rõ ràng rồi chứ.”
“Nghĩa là?”
“Nghĩa là tôi sẽ trông bé mỗi ngày khi anh vắng mặt. Khi mẹ nó về Việt Nam.”
Hưng ngẩn người, không tin ở tai của mình. Trân lặng lẽ tiếp:
“Một tháng sẽ qua mau.” 
Trân lẩm bẩm cái thằng nhỏ này trông cũng hay hay. Tao thế mẹ mày đây. Mẹ mày một tháng nữa mới về với mày. Liệu mà khóc nhè đấy nhé, tao không ưa đâu. Ô, cái thằng này chả biết lạ quen gì cả hả? Không biết sợ hả? Cô nghiêm giọng:
“Quốc, tới đây!
Bé vẫn ngồi yên trên chiếc ghế thấp đặt trước cái bàn thấp của nó. Bố mẹ mua cho nó bộ bàn ghế bằng nhựa nho nhỏ gồm một bàn tròn và bốn ghế có dựa lưng. Một bình hoa giả, chùm hoa dính liền với bình, nằm dài ở góc bàn. Bỗng bé đứng dậy, chạy vào phòng ngủ của mẹ tìm tòi một chốc, rồi lấy ra một trái banh nhựa chơi một mình. Nó đá trái banh nhắm vào bộ bàn ghế. Trái banh đi xéo. Nó lượm banh để trước mặt đá lại. Hai ba cái ghế ng nghiêng, bình hoa lăn hẳn xuống sàn nhà. Nó tới dựng một cái ghế dậy, lấy banh đá tiếp.
“Quốc, tới đây! Tao không giỡn đâu.” Trân lớn tiếng.
Bé ngừng chơi ngơ ngác đứng yên ngó. Trân tiến đến nắm mạnh tay bé kéo tới bộ xa - lông đặt sát tường. Trân ngồi trên chiếc ghế dựa, bé đứng trước mặt cô. Cô quan sát bé. Mày dài, mắt to, sáng. Ô, hai hàng mi và cái miệng xinh quá. Mũi khá cao, tai to, dày. Mới hơn một tuổi rưỡi mà cao như con nít ba tuổi. Lớn lên có làm khổ con gái người ta không đấy? Nhưng mà coi hai cái đầu gối kìa, đầu gối nào cũng có vài vết sẹo vừa kéo da non. Thằng này chắc nghịch lắm, chạy té hoài  mà không “ê càng” chứ gì.
“Bé tên chi?”
“Quốc.”
“Thương cô không?”
“Biết.”
“Không được nói vậy. Nói thương hay không thương, nghe chưa!
Bé quay lưng chạy nhanh vào phòng ngủ của mẹ. Lại kiếm đồ chơi. Hầu hết đồ chơi của bé được cho vào một cái thùng lớn để trong một phòng đựng áo quần, nhưng không hiểu sao bé chưa tới đó lục lọi. Thì thấy chiếc gối trên đầu nằm giường của mẹ, bé ôm vào lòng một chốc, rồi ném xuống đất, rồi kéo lê chiếc gối chạy quanh quẩn trong phòng. Bé tìm được cái “remote”, tức là cái “no, no”, mẹ giấu trong túi áo len, bấm loạn xạ vào TV nhưng không hiện lên hình ảnh nào cả.
Nếu có mẹ, bé sẽ đòi mẹ cho coi “caillou trọc đầu”, hoặc “dinosaur”, hoặc “con chó đỏ bự”, hoặc “đoàn xe lửa”, hoặc “bầy ngựa trắng”, vân vân. Cho nên bé đành phải quăng cái “no, no” vào rổ đựng áo quần của bé vừa thay sáng nay trước khi bố chở mẹ và bé ra phi trường. Lục được hộp son phấn của mẹ, bé thích quá. Bé lấy thỏi son bắt chước mẹ bôi vào miệng, rồi bôi thêm vào mặt, vào mắt. Cay quá chảy nước mắt, nhểu nước miếng. Phải tìm trò chơi khác. Bé cố trèo, đứng lên được trên thành đầu giường, nếu có mẹ, mẹ cấm leo trèo như thế, lỡ té u đầu sứt trán, mẹ nói. Bé níu được song cửa sổ, vói tay lấy cuốn lịch treo tường, tiện thể vớ vào khung hình trong đó có hình bố mẹ chụp với bé khi bé tròn một tuổi rưỡi. Mới đây thôi. Khung hình rớt xuống cái rầm. Cô Trân ở phòng ngoài nghe tiếng động bước vào nhìn bé chằm chằm. Rồi gằn giọng nói:
“A, cái thằng này phá phách quá. Làm rớt đồ lung tung. Coi cái mặt kìa.”
Bé đứng yên không dám nhúc nhích. Cô xếp lại các món đồ vung vãi vào hộp đựng son phấn, treo lại tấm lịch và khung hình vào chỗ cũ, xong đâu đấy cô lại nhìn bé nghiêm giọng:
“Ta sẽ có cách trị.”
Cô đã đi ra khỏi phòng khá lâu mà bé vẫn còn đứng nép bên cạnh giường mẹ. Lần đầu tiên cặp chân luôn luôn ngứa ngáy đó chịu đứng yên dù không ai có mặt ở đó để “kiềm chế” bé. Đứng lâu quá, bé mệt, trèo lên giường, nằm đùa chơi với cái hộp đựng kính mát của mẹ để quên dưới tấm khăn lông, mở hộp ra, đóng hộp lại, nghe tiếng kêu tách tách mãi đến chán chê. Và bé ngủ thiếp một giấc thật lâu. 
Hưng sốt ruột xin phép Hãng cho về sớm. Trước kia, khi xe anh vừa về tới sân trước, anh đã thấy Diệp và bé đứng chờ bên cửa lớn đã mở sẵn. Hai mẹ con nghe tiếng máy xe nổ là biết ngay. Anh cho xe vào chỗ đậu. Anh vừa mở cửa xe bước ra thì bé liền thả tay mẹ ra, chạy  nhanh đến bố, nhảy vào hai cánh tay bố đang đưa ra đón lấy. Nay cửa đóng ỉm im. Anh gõ cửa. Trân không chịu mở cửa ngay. Anh chờ một chốc, gõ lần thứ hai. Trân mở cửa ra, lạnh lùng hỏi:
“Vể sớm?”
“Anh sốt ruột xin về sớm. Thằng nhỏ đâu em?”
“Ngủ.”
“Anh quên dặn em mỗi ngày cho nó hai bầu sữa thôi. Em đỡ nhọc công.”
“Đủ no không?”
Anh vui vẻ trả lời:
“Thì ngoài ra mình ăn cái gì cho nó ăn cái ấy nếu nó đói, nó đòi. Không cần ăn cháo. Ăn cơm chan nước canh, nước thịt. Có cá thì chịu khó lấy cho hết xương. Hoặc ăn chuối, cam, bánh, đậu phụng rang, hột điều, chips. Cái gì bé cũng ăn được. Giấy mà nó còn không chừa, nữa là.”
“Ăn lúc nào?”
“Bất cứ lúc nào nó đòi.”
“Giờ nào cho nó ngủ?”
Hưng vui vẻ đáp:
“Thằng này ham chơi lắm. Chơi chán nó mới chịu đi ngủ. Mẹ nó biết ru, biết hò, mà cũng phải dỗ lâu nó mới ngủ. Còn anh thì chịu thua, không tài nào dỗ bé ngủ được. Thấy anh, bé bày chuyện chơi hết trò này đến trò khác. Em khỏi lo. Ngày bé ham chơi, tối ngủ nhiều bù.”
Trân bĩu môi:
“Đúng là như thú vật. Mà thú vật trên rừng chứ không phải gia súc, gia cầm.”
Hưng cau mày khó chịu, cười gượng gạo:
“Em nói đúng. Diệp và anh thương nó quá, chiều nó quá, nó hư.”
“Không phải thế là thương. Sẽ có hại cho nó khi nó lớn lên. Tôi sẽ có cách.”
“Còn chuyện này nữa, bé thèm kẹo lắm, nhưng không dám cho nó ăn nhiều chất ngọt. Mỗi ngày cho nó hai cục thôi. Ăn hết cục thứ nhất bé sẽ đòi thêm cục thứ hai ngay, tức là cục cuối. Hộp kẹo anh giấu trên nóc tủ lạnh, sợ bé thấy, đòi.”
Nghe tiếng nói lao xao của bố ngoài kia, bé vùng dậy trụt thật lẹ xuống giường, chạy cái vèo ra phòng khách. Nhảy gọn vào hai cánh tay đang đưa ra của bố, bé nói lắp bắp:
“Sữa, bánh, chuối.”
Bé đói bụng quá rồi, anh thầm nghĩ. Anh định đi làm sữa nhưng Trân đòi về ngay. Anh liền mở tủ lạnh lấy cho bé ba bốn cái bánh “Lu”, rồi bồng bé lên, và cùng Trân ra xe. Vừa đi Trân vừa hỏi thêm:
“Khi nào nó ... ỉa?”
“Cũng bất thường. Tùy cái bụng của bé.” 
Một ngày sau đó.
“Đòi kẹo hả?”
“Một cái.”
Cầm kẹo trong tay, bé chạy ra phòng khách đá cái bàn nhỏ một phát lăn cù, rồi đứng lại bóc kẹo cho vào miệng. Xong xuôi, bé chạy vào nhà bếp ném giấy gói kẹo vào thùng rác. Bé lắc xắc, giấy lọt ra ngoài, bé ngồi xuống lượm miếng giấy ném lại vào thùng. Lần này được. Bé ăn kẹo mau quá. Hình như bé không ngậm, nút, mà nhai kẹo nghe rạo rạo rồi nuốt cái ực. Bé chạy tới cô nói:
“Kẹo, cái cuối.”
“Ừ, cái cuối. Nhớ đấy.”
Lần này bé ăn chậm hơn. Chạy nhanh vào nhà bếp, ném giấy gói kẹo vào thùng rác. Xong bé lại chạy vào phòng mẹ tìm đầu xe lửa đẩy lui đẩy tới trên mép giường. Bé hay chạy vào phòng mẹ. Có lẽ bé nghĩ rằng cứ chạy đại vào đó biết đâu có mẹ, và nếu có, bé sẽ cầm tay mẹ rủ đi chơi với bé. Bé chưa bao giờ cầm tay cô trước. Chưa dám chăng. Nghe tiếng cô lục đục gì đó ở nhà bếp, bé chạy tới cô, nói:
“Cái cuối.”
“Cái thằng này lưu manh ... như cha nó. Ta phải dạy. Ê, hết cuối rồi. Còn đòi nữa sẽ biết tay ta.”
Bé nhìn ngơ ngác. Lại chạy ra phòng khách lấy con cá sấu dùng như cái chày đánh vào trái banh nhựa. Chơi trò này chán, bé xếp bốn cái ghế nhỏ chồng lên nhau. Rồi đá một phát mạnh vào chồng ghế. Bé thích đá lắm. Thỉnh thoảng hai bàn chân của bé bị trầy trụa, mẹ dán band- aid vào. Mẹ đã từng thủ thỉ nói ráng tập đá banh đi con, đá cho hay, lớn lên làm ngôi sao đá banh kiếm tiền nuôi vợ. Nhưng bây giờ đá nhẹ kẻo đau chân. Nghe mẹ nói thế, có lẽ bé chẳng hiểu gì mấy, có lẽ chỉ biết đá là không bị rầy la. Thế là đá càng mạnh, không biết đau chân là gì. Lại chán chạy đến cô nói:
“Cai du, na xo, con chó bự.”
Cô không hiểu. Bé chỉ cô cái “remote” để trên bàn phấn, rồi nói:
“No, no”.
Cô cũng không hiểu. Cuối cùng bé nói nhỏ:
“Cái cuối.”
Cô Trân chau mày hỏi gằn:
“Cái gì? Cái gì?”
Bé khựng người lại, ngơ ngác, lại nói:
“Cái cuối.”
Cô đập bàn, hét to:
“Đừng có lưu manh!
Bé giật bắn người. Lần đầu tiên bé giật mình. Cô cầm chặt tay bé, dẫn bé tới đứng sát tường, bảo bé úp mặt vào tường đứng im. Bé không hiểu. Cô vừa buông tay, bé chạy nhanh vào phòng mẹ. Cô không đuổi theo, đứng tại chỗ, mặt đanh lại, nghiêm giọng ra lệnh:
“Này, mày có tới đây không?”
Bé ngơ ngác ngó rồi đi lần lần từng bước một đến cô. Cô chỉ vào tường. Bé khá sáng dạ, tới nhanh, vô ý cụng đầu vào tường nghe cái bộp, và đứng yên. Khoảng mươi phút sau, cô bảo:
“Thôi. Đủ rồi.”
Bé không hiểu tiếp tục đứng. Cô bước tới kéo bé đến gần dặn dò:
“Đứng như vậy đủ rồi. Này, này, cô cho bé một bầu sữa buổi sáng. 12 giờ ăn trưa, xong đi ngủ. Ngủ dậy cho một bầu sữa buổi chiều. Ngày hai lần như lời cha mày dặn. Biết không?”
Bé im lặng. Có lẽ chẳng hiểu gì. Cô đưa tay làm dấu bảo bé đi chỗ khác, bé hiểu ngay. Chạy tới bàn ăn trèo lên thò tay định bẻ một trái chuối. Bé đói bụng quá rồi. Cô lớn giọng:
“Muốn ăn thì chỉ, để cô lấy. Không được tự động lấy. Hiểu chưa?”
Cô bẻ một trái chuối đưa bé. Bé biết lột chuối, ăn hơn nửa trái, phần còn lại bé ném xuống mặt bàn, vỏ thì mang bỏ vào thùng rác. Cô nạt lớn:
“Ăn phải ăn cho hết. Không đượclột ra rồi bỏ mứa!!
Bé hoảng hốt chạy đến bên tường ngơ ngác đứng chờ. Bé có trí nhớ tốt. Có lẽ bé định đứng úp mặt vào tường. Cô la:
“Không phải. Tới lấy chuối ăn cho hết.”
Bé rất thông minh, hiểu ngay, chạy tới lấy phần chuối còn lại đun một cái hết vào miệng. Cô đi bắc nước làm sữa cho bé,miệng lầm bầm:
Chắc mày đang oán tao lắm. Nhưng ... ba mày không ra gì. Rồi tự nhiên tao phải tử tế với mày? Phải hầu hạ mày?”
Như mọi khi, hễ gặp chuyện “khó xử” bé chạy vào phòng mẹ đứng ngó ngơ ngác một hồi. Lần này bé cũng vào phòng mẹ, đến bên giường, kéo lê bàn tay tí hon lên trên nệm, hai chân đi thoăn thoắt lui lui, tới tới. Bé bắt đầu bỏ thói quen chạy. Bé cũng bỏ thói quen cười, và rất ít nói. Cô mang sữa vào, bé mừng rỡ cầm lấy bình sữa, trèo lên giường mẹ, nằm xuống đưa bình vào miệng, bú. Bé bú mau hết, không dám gọi thêm, bú khan kêu chột chột, mỏi miệng nằm yên, rồi ngủ lúc nào không hay.
12 giờ trưa cô vào thức bé dậy ăn cơm. Bị phá giấc ngủ, bé không kè nhè. Cô đặt một chén cơm nhỏ có chan nước thịt trước mặt bé, định đút cơm cho bé. Bé giành cái muỗng tự đút ăn lấy. Bé không dám giành đũa của cô như trước kia giành đũa của mẹ. Nhưng bé ăn không hết, lại làm đổ cơm lên bàn, muốn bỏ chạy. Cô lấy muỗng lùa cơm trên bàn vào chén của bé, bắt bé phải ăn tiếp cho hết cơm mới được đi chơi. Bé liền cầm muỗng xúc cơm một cách vụng về cho vào miệng, vẫn làm đổ cơm xuống chiếc ghế cao của bé. Cô quắc mắt. Bé cúi mặt. Cô lấy muỗng khác xúc cơm đút cho bé, bé vội vã hả to miệng, nhai nhanh, nuốt nhanh. Hết mau. Ăn xong, chưa biết làm gì, bé chạy đại đến cửa sổ nhìn ra ngoài, tình cờ thấy một chiếc máy bay bay ngang trên bầu trời. Bé quay người chạy nhanh tới cô miệng bập bẹ, “Mẹ, máy ...” Cô hỏi to nói cái gì. Bé bỗng khựng lại không nói tiếp. Mặt mày ngơ ngác. Từ đó bé không bập bẹ tập nói nữa.
Sau bữa cơm trưa im lặng, cô nghiêm giọng bảo bé đi ngủ, không được chạy tới cửa sổ nữa. Bé hiểu, mừng rỡ chạy nhanh vào giường mẹ. Cô cũng bước nhanh theo sát sau lưng bé, xem bé có vâng lời không. Bé nhanh nhẹn trèo lên giường. Bé nằm ngay xuống, xeo xéo một góc cái giường rộng thênh thang. Trời lạnh, cô đẩy cái mền lại gần bé. Bé vẫn nằm yên. Cô đứng ngó phân vân. Rồi cô tới đắp mền lên cho bé. Xong, cô đi ra phòng khách, mở TV coi.
Hơn một giờ sau cô bước nhè nhẹ vô phòng ngủ trông chừng, thấy bé nằm yên, hai con mắt trong veo và xanh biếc như mắt mèo Xiêm chăm chú nhìn ra cửa sổ. Cô tò mò nhìn đôi mắt trẻ con, đôi mắt của bé. Nó thanh thoát và êm ái lạ thường. Nhưng hình như không phải chỉ có thế. Hình như nó có gợn một chút gì khó hiểu. Hoang mang? “Suy tư”? Hình như nó có vương một chút buồn, nỗi buồn không tên. Ôi dào, lại giàu tưởng tượng rồi? Con nít mà “buồn bã”, “suy tư” cái nỗi gì! Mẹ nó đột ngột bỏ đi, nó có hiểu gì đâu. Có lẽ vì nó nhớ mẹ chăng? Thấy cô, bé giật mình, mắt từ từ khép lại. Cô lẩm bẩm:
“Kệ mày, năm ba hôm nữa đâu sẽ vào đấy.”
Buổi chiều bé chạy lui chạy tới giữa phòng của mẹ, phòng khách và nhà bếp. Nó không được cô dẫn ra bao lơn nhìn máy bay trên trời. Cũng không được dẫn ra ngoài đường coi phố phường. Hay dẫn ra biển dù hơi xa, mà càng xa, bé càng thích. Cũng không được cô cùng chơi. Chán thì chơi với con khủng long, con cá sấu, con sư tử, con hươu cao cổ. Hoặc lại đá mấy chiếc ghế nhỏ, cái bàn nhỏ cho nó lăn cù ... Chỉ có thế, lặp đi, lặp lại. Một lần bé chạy vào nhà bếp, đến thùng rác, quên lời bố dặn, moi rác ra chơi. Bị cô gặp, bắt đứng quay mặt vào tường gần nửa tiếng.
Bé uống xong bình sữa thứ hai thì bố về. Bố hôn bé rất nhiều hai bên má, rồi bồng vào hai nách bé, tung bé lên gần đụng trần nhà, cho bé rớt xuống, chụp bé lại. Đó là cái trò bé thích nhất. Mọi ngày bé bắt bố làm lại cái trò đó nhiều lần. Bé sung sướng nói, “Làm nữa, làm nữa”,và cười ròn rã. Lần này bé không cười, không nói một lời. Trong ngày, bị cô la nhiều, lẽ dĩ nhiên bé cũng không biết nói một lời nào cả, và cũng không khóc. Bé vẫn chưa biết khóc. Chỉ bắt đầu biết “mếu”, môi trên ép vào bên trong môi dưới, cái mặt dài ra, nước mắt rưng rưng. Khi đang chơi một mình, hễ thấy cô “xuất hiện”, bé hơi giật mình, và thôi chơi. Ngó quanh kiếm trò chơi khác.
Trên xe bố đưa cô về nhà cô, chốc chốc bé nói nhỏ với bố, “Mẹ máy bay”. Có lẽ bé muốn hỏi mẹ đâu hả bố. Tiếng nói của bé chưa rõ ràng, cô nghe nhưng không hiểu, hỏi lại bé, bé ngơ ngác, im lặng. Lần nào bố cũng thấy cái tã của bé ướt sũng. Bố hỏi bé ỉa chưa, bé cũng không trả lời, hay không biết trả lời. Bố quay qua  hỏi cô, thì được biết từ hôm cô đến trông bé đến giờ, không hề thấy bé iả. Thì ra bé sợ. Bé nín, chờ bố. 
Rồi một buổi chiều bố đi làm về, bé không chạy đến nhảy sà vào lòng bố nữa. Bố bồng bé hôn vào hai bên má, định tung bé lên, sực nhận thấy người bé nóng hâm hấp. Chắc bé bị cảm. Mấy hôm nay ban đêm lạnh lắm, bố chỉ cổi áo jacket của bé cho bé đỡ vướng, thay tã, quần, sau khi “xi” bé iả, mặc quần khô khác vào,  để nguyên áo len dày cho bé được ấm phần bụng và ngực, mặc thêm áo dày bên ngoài. Bé cảm, bố không dám tắm cho bé mỗi buổi tối trước khi bé đi ngủ như thường lệ. Thỉnh thoảng bé rên nhỏ khi trở mình trong đêm khuya.
Ngày hôm sau, dù bị “ấm người”, bé vẫn chạy lăng quăng trước khi bố chở bé qua cô để đón cô cùng về trông bé. Chỉ có khác, bé không cười, không nói, ăn uống kém hẳn đi, lại có khi bỗng dưng thét lên một tiếng ngắn rồi im. Những lần như vậy, cô lừ mắt ngó, bé ngoảnh mặt chạy đi nơi khác, miệng mếu, cặp mắt rưng rưng. Cứ như thế suốt bốn hôm, ngày với cô, đêm với bố. Cô bảo vớ bố bé ngoan hơn trước nhiều, bớt phá, bớt nghịch, nhất là không đá banh rầm rầm trong phòng khách hay nơi nào khác nữa.
Chiều hôm thứ tư, bố nhỏ nhẹ hỏi cô:
“Thằng nhỏ mấy hôm nay làm sao vậy, hả em?”
“Thì có gì mà nhắng lên thế. Có làm sao đâu. Trẻ con thỉnh thoảng vẫn biếng ăn nhác chơi. Đó là chuyện thường.”
Nửa đêm về sáng hôm thứ năm bé lên cơn sốt dữ dội. Buổi sáng Hưng gọi vào sở xin nghỉ làm việc  ngày hôm ấy. Đưa bé đi bác sĩ gia đình. Bác sĩ chỉ xem qua, cấp tốc đưa bé vào bệnh viện. Bé bị gãy cả hai cái xương ở cánh tay trước, tay trái. Vết thương quá nặng, chắc bé đau lắm, lại không được chữa trị ngay, nên bé hôn mê. Ba bác sĩ họp nhau chữa trị cho bé.
Anh lo lắng vô cùng, đứng ngồi không yên. Khi thì anh cố chờ nghe từng giây, từng phút tin tức của bé tại Văn Phòng Bệnh Viện, vừa mong tin đến mau chóng, vừa sợ tin đột ngột đến. Lúc thì mải miết đi quanh các toà nhà của cái Bệnh Viện khá lớn này như người mất hồn, quên cả ăn uống. Tin cuối cùng: tình trạng của bé chưa ổn định.
Anh nghĩ ngợi lung tung. Bé chạy nhanh lắm, bạo lắm, có lẽ bị vấp té vào cạnh bàn? Mà đâu có thể như thế được, mặt bàn cao hơn cả đầu bé, phải không Trân? Vậy sao gãy tay? Có lẽ bé nhảy tưng tưng trên giường mẹ, vô ý té văng xuống sàn nhà, đưa hai tay chống, thì phải gãy thôi.  Nhưng sao vết hằn  sâu vào hai cái xương gãy lại có thể do một vật cứng và mỏng chạm rất mạnh vào, theo lời của bác sĩ? Có lẽ, phải không Trân, bé giang cao cánh tay đập mạnh xuống, đụng phải một vật cứng nằm chắn ngang bên dưới. Mà trật rồi, xương gãy từ phía lưng cánh tay, chứ không phải từ phía ngược lại. Hay là có một thanh sắt mỏng nằm chờ sẵn bên trên khi cánh tay bé vung ngược ra đằng sau? Nhưng sức lực của bé đâu có đủ để làm gãy cả hai cái xương cùng một lúc? Thế thì tại sao?
Không lẽ có kẻ lạ mặt vào nhà lúc Trân bận làm việc gì đó ở sân sau. Một tên “tâm thần”, một thằng điên, thấy bé một mình thì hành hungmột lúc cho vui thế thôi. Rồi nó bỏ đi. Và Trân không hề hay biết gì?
Anh đặt ra nhiều giả thuyết, anh nghi ngờ, chẳng thấy chút ánh sáng nào cả. Anh buồn bã ngồi trên chiếc ghế đá đặt bên dưới một cây cổ thụ vươn cao quá cả lầu ba của tòa nhà bệnh viện. Thỉnh thoảng vài ngọn lá rụng xuống chạm vào thành ghế bật lên tiếng kêu khô khan. Anh ngẩn ngơ nhìn mấy chiếc lá rụng, rồi nhìn ra xa. Đèn đường đã lên. Đèn vàng, đỏ, xanh thay nhau đổi màu liên miên. Những dòng xe từ đâu chạy đến, dừng lại, chạy đi. Đi đâu? Cứ thế, cứ thế. Một ý nghĩ buồn rầu xâm chiếm. Vâng, dòng xe có khác gì dòng đời. Đời con người. Đời con vật. Như con cóc bỗng từ trong hang nhảy ra, rồi đi đâu? Như chiếc lá rụng chạm vào thành ghế anh đang ngồi khiến anh nhiều khi thảng thốt. Nhưng lá non, lá xanh xin đừng rụng, đừng rụng, anh thì thầm cầu khẩn.
Ý nghĩ của anh lại quay về với bé. Chắc bác sĩ chẩn đoán sai. Chắc bé đã từ trên giường cao té xuống đưa tay ra chống. Tay người lớn cũng phải gãy, huống là bé còn non nớt, chưa được hai tuổi, xương nhỏ, mềm. Nhưng vết hằn sâu? Chẳng lẽ, chẳng lẽ ... Thôi, thôi, chuyện đó để “hạ hồi phân giải”. Trước mắt ... Lỡ Quốc có bề nào. Nghĩ đến đấy, anh không cầm được nước mắt, đứng dậy, nhìn quanh, có ai thấy mình không. Những dãy hành lang bệnh viện thấp thoáng vài bóng người đi nhanh.
Không, làm gì có chuyện vô lý như thế được. Quốc đang còn nhỏ bé, trông như thiên thần có cánh, bé thương yêu của ba đã làm gì nên tội. Chỉ là một chiếc lá non. Nhưng lỡ ... Thôi, thôi, không nhưng nữa! Mà “chưa ổn định” nghĩa là cái gì, xin bác sĩ nói rõ. Ôi chao, mình thương bé một, Diệp thương bé mười, chắc chắn là thế. Mà cũng chưa chắc, có khi bố thương con hơn mẹ thương con. Dù gì đi nữa, phải thông báo cho Diệp biết mọi chuyện, phải gọi điện thoại ngay, bằng không sẽ ân hận suốt đời. 
Thì ra.
Bốn năm hôm trước đây, cô mang từ nhà một gói quýt trái nhỏ hơn trái chanh, ngọt lịm. Cô ngồi ở bàn ăn lấy quýt ra ăn trong khi bé chạy lăng quăng với mấy đồ chơi của bé. Cô cười cười kêu bé tới. Thấy cô vui, bé trèo lên ghế, cầm đại một trái quýt, cho vào miệng cạp ngay. Cô nhìn chờ xem bé phản ứng như thế nào. Bé nhăn mặt, miệng phì phì. Thấy cô bóc vỏ, bé bắt chước.  Nhưng vỏ cứng quá đối với mấy ngón tay nhỏ tí xíu, bé bóc mãi không được. Cô lấy lại trái quýt trong tay bé. Bé “no, no” phản đối quen miệng, nhưng lại đưa ngay trái quýt lại cho cô. Cô bóc vỏ giùm bé. Bé thích quá, miệng thì nhai quýt, nuốt cả hột, tay thì xé nhỏ vỏ quýt ra chơi, quăng đầy bàn. Cô la, bé giật mình. Cô gom vỏ quýt lại cho vào một cái dĩa nhựa, để ở mép bàn. Khỏi cần sai bảo, bé tụt xuống khỏi ghế cầm lấy cái dĩa đầy vỏ mang vào nhà bếp đổ vào thùng rác.
Hai bàn tay bé còn vụng dại, cầm nghiêng cái dĩa không khéo, phần lớn vỏ rơi ra bên ngoài thùng. Bé ngồi bệt xuống sàn nhà, tay rù rờ lượm từng miếng vỏ quýt nhỏ ném vô thùng, miếng lọt vô trong, miếng lọt ra ngoài. Lại lượm quăng vô. Vỏ quýt nằm ngoài thùng còn nhiều, tràn lan. Trò chơi mà. Bé phải chơi như thế nửa giờ nữa chưa chắc đã xong. Chờ lâu không thấy bé ra, cô vào xem. Thấy thế, cơn giận nổi lên, cô hét to:
“Thằng quỷ này moi rác ra chơi hả!
Bé giật bắn mình. Cô đảo mắt nhìn quanh. Đâu cả? Cái chổi, cái chày giã tiêu hành, cái chai nước lọc, cái bình xịt kiến, gián? Đâu cả? Chỉ thấy có con dao chặt thịt nằm trong bồn rửa chén. Cô tới lấy con dao, trở đầu sống, đánh một cái vào cánh tay trước của bé. Tay bé nằm kín bên trong hai lớp áo. Trời lạnh lắm, nhưng ban đêm bố không muốn vặn máy sưởi sợ “khô bé”. Bé  được mặc áo mỏng cụt tay bên trong cùng, áo len dài tay tiếp theo, và ngoài cùng là cái jacket dày cũng tay dài.
Bé sợ sệt cúi đầu không dám nhìn cô, im lặng chịu đau.
“Mày không đau hả? Không đau, không nhớ.” Cô bực tức nói.
Cô dang tay đánh lần thứ hai, mạnh hơn. Bé thét lên một tiếng lớn, rồi bặm hai cái môi lại. Cô ngừng tay, quan sát bé. Nó chảy nước mắt, không khóc ra tiếng.
“A, cũng biết khóc đấy chứ.”
Cô quay trở về phòng ăn, để bé ngồi một mình trong nhà bếp kề bên thùng rác.
*
Người nhà của Diệp bên đó cho hay cô ta đã rời Việt Nam hơn một ngày rồi. Có lẽ sắp tới Mỹ. Lạ quá, Diệp đã mua vé khứ hồi, định ở tại Việt Nam một tháng sau đám tang mẹ. Bây giờ mới hơn nửa tháng. Đúng ra Diệp còn phải ở lại lo coi sóc việc dời mồ mả của cha và anh. Hai người đã bị bắn chết khi cùng mẹ Diệp và Diệp tìm cách trốn vào Đà Nẵng bằng đường thuỷ những ngày ly loạn ấy. Bà con cho biết tìm được mộ hai vị tại một làng vùng Trài Hà gần cửa Thuận An. Nay họ khuyên dời mộ lên chân núi Tam Thai gần núi Ngự Bình, nơi đó có nhiều ngôi mộ của tổ tiên. Khi sống có nhau, khi chết bên nhau, cho ấm cúng, Diệp nghĩ thế.
Rồi Diệp còn phải vào Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn thăm bà con, họ hàng, bạn bè của cả hai bên, bên chồng và bên Diệp. Một lần đi, một lần khó, một lần tốn kém. Hơn nữa, bố bảo khỏi lo cho bé, con nít xa mẹ buồn năm bảy ngày rồi thôi, quên ngay. Đã bàn tính kỹ lưỡng với nhau như vậy trước khi Diệp lên đường. Nay tại sao Diệp trở lại Mỹ sớm đến thế, Hưng băn khoăn tự hỏi. Hay có ai đã báo cho Diệp biết? Vô lý, chuyện mới xẩy ra, tin tức đâu đi nhanh đến thế.
Anh biết Diệp thương bé vô cùng. Chắc chắn Diệp đã linh cảm được tình trạng hiện tại của bé nên bỏ hết mọi chuyện quay trở lại Mỹ. Và tình thương bao la và lạ thường của người mẹ ấy sẽ có khả năng hóa giải những nguy khốn xẩy đến cho đứa con của mình, anh tin tưởng như thế. Có Diệp anh sẽ yên tâm hơn nhiều.
Bỗng anh sực nhớ anh chưa gọi điện thoại cho Trân báo tin về chuyện bé. Anh cũng quên gọi điện thoại vào sở xin nghỉ ngày hôm sau, mà bây giờ thì tối rồi, sở không có người trực đêm. Chắc Trân phải ngồi chờ anh với bé suốt ngày hôm nay. Chắc Trân giận lắm. Quả thế, vừa nhận ra giọng của anh ở đầu dây, Trân cướp lời ngay không cho anh nói thêm một lời nào. Cô trách anh là thứ người xấu xa, bội bạc, xốc nổi, vô trách nhiệm, không thể nào tin nổi. Chưa hết tức giận, cô nói tiếp khi cần thì anh tha thiết lắm, xoắn xuýt, xun xoe, khi không cần thì trở quẻ liền liền, chỉ một cái nhấc điện thoại lên cũng sợ phí sức. Nói xong, cô mạnh tay cúp máy.
Anh không kịp giải bày. Anh bấm máy định gọi lại. Bấm nửa chừng, anh cảm thấy mệt nhọc vô cùng, bèn tắt “cell phone”, cho máy vào túi áo ngoài, đi ra khỏi khu bệnh viện tìm quán ăn. Từ sáng đến giờ anh chưa ăn uống gì cả. Anh tìm vào một tiệm McDonald’s gần đấy, gọi một hamburger, và hai ly McAfee. Anh khát nước hơn là đói, và cũng định thức suốt đêm trông bé. 
*
Anh nhấp nhổm bên chiếc ghế dựa đặt ở cuối phòng, đứng lên, ngồi xuốngkhông yên. Và khi thì đến nhìn bé, khi thì đi tới đi lui, đầu óc vẫn bị đè nặng bởi mối nghi ngờ tại sao bé lâm vào tình trạng như thế. Khoảng nửa đêm, anh rời ghế nằm, khép kín cánh cửa lại, đến bên giường của bé. Dưới ánh đèn mờ mờ, nhìn thấy bé gầy hẳn đi, nước da không còn hồng hào như trước, trái lại trắng xanh, đôi mắt nhắm nghiền, hơi thở như có như không, anh đâm lo lắng, hoảng sợ. Anh cổi giày của anh ra ra cho đỡ vướng, ngồi bệt xuống sàn nhà. Anh dựa ngực vào cái giường, bàn tay trái đặt ngửa dưới cánh tay bó bột của bé, bàn tay mặt luồn vào bên trong chiếc mền nhỏ, úp sấp, để nhẹ lên trên bụng bé. Anh chẳng hiểu làm như thế có gây tổn hại gì cho bé hay không, nhưng anh không cưỡng lại được. Như thể anh sợ bé vuột khỏi bàn tay của mình, như thể anh muốn giữ hơi ấm của bé lại, như thể anh muốn truyền thêm hơi ấm vào cho bé. Và anh ngủ thiếp lúc nào không hay.
Anh nằm mơ. Hay đúng hơn mơ tỉnh lẫn lộn. Thỉnh thoảng anh nghe tiếng chân người ta đi bên ngoài cửa phòng, thấy ánh đèn lờ mờ phía trên đầu giường của bé, đồng thời hiện lên nhiều hình ảnh, nhiều cảnh tượng lộn xộn không đâu vào đâu. Khủng long, sư tử, cá sấu, cóc, thỏ mà anh và Diệp mua về cho bé chơi biến thành thú rừng hung dữ nhảy như tôm tép nhảy trong những chiếc rớ đánh cá thời thơ ấu anh và bé và trẻ con cùng xóm thường thấy trên sông trên hói trên ao bèo mùa đông lạnh. Bé cũng nhảy tưng tưng trên giường mẹ, té nhiều lần, mà cứ nhảy. Đồ đạc trong phòng khách nằm đổi chỗ, ngổn ngang, choáng hết lối đi, anh không thể lần vào được. Trân và cô em họ hình như có quen nhau ngồi ở giường bệnh tập hát, chốc chốc hét to, ma quái. Anh thì đi tìm, quên không biết tìm cái gì, cái đầu của anh đầy sương mù, nghĩ mãi không ra. Hình như cũng có Diệp ở đâu đây. Đang thắp nhang? Có lẽ chuông mõ sắp gióng lên?Anh cố nghe nhưng không có tiếng chuông. Và anh bỗng sực nhớ mình đang tìm cái gì rồi. Vâng, mình phải đi tìm bé ngay. Chẳng biết từ đâu bé chạy ào tới, anh mừng rỡ đưa tay đón. Bỗng anh cảm thấy lòng bàn tay mặt nóng lên. Có cái gì rần rần. Và anh tỉnh hẳn. 
Bé đạp chân. Anh mơ hồ nghe tiếng bé bập bẹ: “Mẹ máy bay. Mẹ, mẹ.”
3/2016


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)