Tìm kiếm Blog này

Ngự Thuyết - Nỗi buồn không tên (kỳ 2)

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016


Bốn người thuộc cùng một đơn vị (tức là một B, trung độitrong đêm khuya rủ nhau trốn trại. Hai người bị bắn chết, xác nằm sóng sượt dưới con hào, một bị bắn vào bụng, ruột đổ ra thành một đống lớn nằm bên cạnh xác, người kia toác hàm, văng mất nửa mặt. Cạnh hai người là hai khẩu AK. Sau, trong một buổi họp của B, được giải thích hai tên trốn trại đó bị bắn chết vì đã dám cướp súng trong tay hai trong những người lính đi tuần ban đêm.
Trong bốn người trốn trại, Tạo gan lì nhất, bò trước tiên chui ra khỏi nhiều lớp rào kẽm gai có cài mìn, bẫy và những hàng rào tre dày đặc. Và thoát ra ngoài. Hưng bám sát theo chân của Tạo. Bỗng nghe hai ba loạt AK nổ chát chúa, anh liền nằm yên nín thở. Gai của dây kẽm gai, gai tre đâm vào da thịt, lá tre, cành tre phủ đầy người. Hơn một giờ sau, bỗng lại vang lên vài loạt AK xa xa trong đêm tối mịt mùng. Anh đoán rằng bọn lính canh phòng tuần hành đã bỏ nơi này mà đi rồi, nên mới dám lần mò trườn bò như loài rắn, dần dần quay lại trở lại lán an toàn. Mọi người tù trong lán của anh đang say sưa ngủ.
 Anh không lo ngại lắm về những vết sây sướt trên vai, trên tay chân. Các bạn tù phụ trách việc đốn tre như anh đều luôn luôn bị gai tre đâm. Khi tìm cách chui qua những lớp hàng rào, cả bốn người đều mặc áo quần bao cát tự may lấy, và mỗi người đều mang theo một bộ áo quần “tử tế” mặc từ hồi đi trình diện cải tạo. Bộ áo quần đó được gói lại, cất kỹ, phòng khi sau này được thăm nuôi , hay ở tù về, có mà mặc. Nay trốn trại, nếu may mà thoát ra khỏi, phải tìm chỗ kín đáo cổi bộ bao cát ra quăng đi, và thay  bộ kia vào. Bằng không khi trên đường đi, hoặc qua xóm làng, chợ búa, công an nhận biết ngay. Lẽ dĩ nhiên, nếu trốn được khỏi trại, họ không dại gì về nhà. Thế nào trại cũng thông báo cho công an phường liên hệ. Anh cũng không quan tâm đến bộ áo ba lỗ, quần xà lỏn bao cát đang mặc trong người bị rách bươm. Anh đã có sẵn hai bộ bao cát khác treo lủng lẳng trên đầu nằm. Nhưng anh rất lo lắng chẳng biết sau đó Tạo xoay xở như thế nào ở bên ngoài trại tù. Loạt AK mới đây có liên quan gì đến Tạo hay không? Hay chỉ bắn thị uy? Đang trốn lẩn lút hay đã bị tóm? Còn sống hay đã lãnh đủ băng đạn?
Sáng hôm sau Khung ra lệnh tập họp tù cải tạo. Mỗi đơn vị (mỗi B) đứng riêng tại khu vực của mình, không được quan hệ với nhau, sau đó không được nói năng linh tinh, nghĩa là trao đổi nhau những tin tức “thất thiệt”. Và điểm danh kỹ lưỡng. Cuối cùng quản giáo cho biết B của anh, chỉ có B của anh mà thôi trong toàn thể trại Trảng Lớn, có ba người trốn trại, hai người bị bắn chết bên trong hàng rào như đã nói trên, người thứ ba thoát ra ngoài hàng rào, ngoan cố chống cự dù Cách Mạng khoan hồng bảo đưa hai tay lên đầu hàng, nên cũng đã bị tiêu diệt. Thế là Khung và B hoàn toàn không biết anh cũng là người đã tham dự trốn trại.
Hưng sững sờ. Tạo cũng đã bị bắn chết sao? Không, chưa thấy cái xác của Tạo, anh không tin. Anh mong rằng đấy là tin “thất thiệt”. Anh biết rõ rằng Cộng Sản có bao giờ nói thật đâu.
Quản giáo chỉ định sáu người tù cải tạo lo việc chôn cất, tình cờ có anh trong đó. Bốn người khiêng hai cái xác được quấn vào trong những tấm vải bạt rách bươm, bó lại bằng dây thừng, có thêm hai khúc cây làm đòn gánh. Hai người khác vác hai bó cuốc xẻng. Và một quản giáo.
Trời mưa dầm dề. Mưa cách đấy hai hôm cho đến bây giờ vẫn chưa ngớt. Đám đưa tang ướt như chuột lột đi loạng choạng trên những con đường đất bùn lầy lội, trơn trợt, vắng teo. Quản giáo tay cầm súng lục, mình mặc áo đi mưa ny lông cũ k, đi đằng sau chỉ đường. Bầu trời, mặt đất, mịt mù. Những lùm tre phất phơ, những hàng rào kẽm gai bao quanh cái trảng, biến mất trong mưa. Một bức tranh toàn màu xám xịt nếu không được điểm lấm tấm bằng những giọt máu đỏ nhỏ xuống từ hai xác chết, máu theo nước mưa thấm qua lớp vải bạt chảy thành từng dòng ngắt quãng.
Đi khoảng nửa tiếng, quản giáo đi theo từ đằng sau bảo đứng lại, rồi đưa tay chỉ về phía những bụi lau cỏ mọc hoang cách đấy vài trăm thước, hô to:
“Chôn sau đám lau đằng kia.”
“...”
“Thấy chưa?”
“Thấy.”
“Chôn xong về ngay.”
“Vâng.”
“Biết đường về không?”
“Biết.”
Xong việc phải về ngay. Không được đi bất cứ nơi nào khác. Tôi nhắc lại, chôn xong khẩn trương về trại, có người theo dõi.”
“...”
“Rõ chưa?”
“Rõ.”
Quản giáo đứng lại, nhìn theo đám tù đưa tang trong một khoảnh khắc ngắn, rồi quay lưng đi nhanh trở về con đường cũ.
“Cái thằng nhát gan như thỏ,” một người trong bọn nói.
Một người khác phụ họa:
“Đúng thế. Sợ chốc nữa ta chia cuốc xẻng xong lỡ nổi khùng lên phang đại vô đầu chứ gì.”
“Hai anh nói gì tui không hiểu,” người thứ ba nhỏ nhẹ hỏi. Người nói đầu tiên vội đáp:
“À, tụi này nhắc lại chuyện cũ mà. Nghe qua rồi bỏ. Nào ... tới nơi rồi kìa.”
Đó là một khoảnh đất nhỏ nằm sau đám lau sậy cỏ mọc xanh lưa thưa trên vài chục ngôi mộ mới đắp. Những ngôi mộ thấp lè tè, méo mó, không ra hình dáng, chen nhau chẳng theo hàng lối nào cả. Nếu không nhìn kỹ, tưởng đấy là một bãi đất hoang. Đặt hai cái xác ướt sũng nằm song song trên đường mòn, chia nhau cuốc, xẻng, khai quang được một miếng đất nhỏ cạnh một nấm mộ đất. Và hì hục đào huyệt. Trời mưa không ngớt. Nước bùn bắn vào người, vào đầy những chiếc quần đùi làm bằng bao cát, họ trông như bé con mặc tã đầy chưa được thay. Bắn vào áo may-dô cũng làm bằng bao cát, bắn vào những cái đầu tóc cắt ngắn lam nham, vào mặt, vào mắt.
“Ê, mày khóc hả?”
“Khóc cái con khỉ. Bùn văng vô mắt cay sè mày không thấy sao. Ừ ..., tao khóc đấy.”
Một người tù khác khá cao lớn, nghe nói học năm thứ sáu y khoa, trước đây mang lon thiếu úy quân y của bên bại trận, coi bộ năng nổ, sành sõi. Mọi người đều đầu trần, riêng hắn kiếm đâu ra được một cái nón đan bằng lá kè đội xeo xéo trên đầu một cách điệu nghệ. Hắn đến xem xét hai cái xác đã được gở ra khỏi những tấm vải bạt. Rồi hắn rút ra từ cái túi quần đùi bao cát một chiếc khăn vuông cũng bằng vải bao cát – thằngnày tỉ mỉ và chu đáo thật, quần bao cát mà cũng có túi, lại có cả chiếc khăn, có lẽ dùng để lau miệng sau khi ăn xong. Hơi rườm rà đấy, hết nón tới khăn. Tù mà, lại ở trong trảng, trong truông trơ trọi, sống gần như súc vật, thì ăn xong lấy lưng bàn tay quẹt miệng vài cái như gà quẹt mỏ là xong. Cần gì khăn.
Kê cái đầu của người bị toác hàm lên đùi, hắn dùng khăn lau sạch máu đọng trong tóc, trên cái mặt chỉ còn lại một nửa, trên cổ, trên ngực của cái xác. Chốc chốc hắn nhúng chiếc khăn xuống vũng nước mưa cạnh đó xả cho bớt máu rồi lau tiếp. Với người đổ ruột, hắn lau máu kỹ hơn và khó khăn hơn. Cánh tay của hắn luồn từ miệng vết thương đi sâu vào thân thể của xác chết. Trong khi đó, một người tù khác rút từ trong lưng quần đùi một con dao bé tí, tới bên bụi cây nhỏ bên đường cứa một chốc đứt một cành cây, cắt thành hai khúc, mỗi khúc được vót nhọn một đầu.
Một người vừa đào huyệt vừa hất hàm hỏi:
“Cậu làm cái gì vậy?”
“Làm cọc.”
“Chi vậy?”
“Để cắm làm dấu hai cái mả mới. Rồi về lán kiếm gỗ hoặc đá khắc bia.”
“Biết tên hả?”
“Không. Hỏi sau. Làm xong đem ra đây cắm.”
“Bộ cậu tưởng muốn tới đây lúc nào là tới?”
“Ô, phiền thật, phiền thật. Quên nghĩ đến chuyện đó. Nhưng thôi kệ lỡ rồi. Cứ làm. Chắc còn ở đây lâu, biết đâu đi lao động có dịp ghé ngang qua đây.”
“Nhưng coi kìa. Tất cả những nấm đất kia có cái nào có bia đâu. Có lẽ cũng là mộ tù cải tạo đấy. Làm bia chi cho mệt. Chỉ năm ba hôm trời mưa trôi hết.”
Người vót cọc nổi nóng:
“Tao đã nói kệ tao mà. Ý kiến cái con khỉ gió!”
Hai huyệt đã đào xong, không sâu mấy. Mới nghỉ tay đào, tay tát nước, mưa đã ngập đầy. Sau một hồi bàn bạc, tất cả đồng ý cởi hết áo đang mặc bao bọc lấy hai cái xác, rồi phủ ngoài cùng bằng những miếng vải bạt rách bươm cũ. Xong lấy dây thừng bó chặt hai cái xác trông như hai đòn bánh tét khổng lồ. Cuối cùng thả nhẹ xuống hai huyệt nước. Như thế, hai cái xác đỡ bị ướt, lạnh. Thế ư? Và những người đi chôn cũng sẽ cảm thấy yên lòng hơn là để họ thân xác trần truồng, người thì còn nửa mặt, người thì cái bụng toác hoác.
Cuốc xẻng lại được bó thành hai bó giao cho hai người vác – lệnh trên cấm mỗi người vác riêng một cái cuốc, vì làm như vậy mỗi cây cuốc có thể biến thành vũ khí cá nhân. Nguy hiểm. Đi lao động hàng ngày luôn luôn phải mang cuốc, xẻng, dao phát rừng, cũng theo cái kiểu đó.
Sáu người tù đứng yên một phút, cúi mình trước hai nấm mồ mới đắp, có hai cây cọc cắm sâu. Rồi đi hàng một trên con đường mòn trở về lán. Đầu trần, mình trần, dưới cơn mưa dai dẳng. Chỉ một tù có đội nón, trông như cai tù. Cảm thấy ớn lạnh khi nghĩ đến hai người bạn tù sẽ nằm đó ngủ một giấc ngủ cô quạnh ngàn năm. Thân nhân làm sao tìm ra mồ mả. Vâng, chỉ sau vài mùa mưa nắng, tất cả cái gọi là nghĩa trang ấy sẽ biến mất không còn chút tăm tích trong cái Trảng Lớn rộng mênh mông này. Ai nấy máu nóng trong người dồn lên đầu. Gặp quản giáo đang đứng chờ ngay cổng ra vào, sáu người tù nhìn trừng trừng. Báo cáo cụt ngủn: chôn xong.
Về tới lán, hỏi quanh, được biết thêm vài chi tiết về hai người bị bắn chết. Người toác hàm trước là Giám Sát Viên của Viện Giám Sát ở Sài gòn, người đổ ruột là Kỹ Sư Cơ Khí thuộc ngành Công Binh. Anh chàng giám sát người Bắc trắng trẻo, mắt sắc, môi mỏng, hàm bạnh; anh chàng kỹ sư người Nam da đen nâu, cao, lưng hơi khòm, miệng luôn luôn nở một nụ cười hiền khô. 
Năm sau Hưng cùng một số tù bị đưa lên Cà Tum gần biên giới Miên. Thật ra ở đây cuộc sống trong tù có phần thoải mái hơn. Ngày thì vào rừng đốn tre, đốn cây, chặt mây, cắt tranh, đánh tranh, canh tác, đào giếng, khiêng đá; đêm thì mỗi người ngủ trên chiếc chõng tre trong cái chòi lá không phên tự dựng lấy, nhìn ra ngoài thấy trăng tròn trăng khuyết, thấy rừng mờ mịt, xào xạc. Quản giáo và lính bảo vệ ở đâu không ai biết. Thỉnh thoảng, gió núi rít, giật mình trong đêm khuya, nhìn xa xa. Mấy cây cổ thụ rỗng ruột cháy từ trong lòng cháy ra bừng đỏ lên. Bừng đỏ sau mỗi cơn gió thốc, tàn tung lên rồi lả tả rơi xuống như pháo bông. Từ Hải tân thời bị hỏa thiêu chết đứng? Và ngọn cây gần đấy nghiêng ng, quằn quại, phải chăng là nàng Kiều đang vật vã khóc than. Khổ thân quá! Từ Hải khổ hay Kiều khổ? Tù khổ hay thân nhân lặn lội thăm nuôi khổ?
Tiếp tế khó, ăn uống càng ít ỏi, đói triền miên. Nhưng bù lại, khỏi phải mỗi ngày tập họp vào hội trường nghe dạy dỗ về Mác, Lê, về “con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Rồi chiến tranh giữa Việt Nam với Khmer Đỏ bùng nổ, tù được chuyển đi nơi khác. Một số được chuyển đi Bà Rá, Phước Long; một số khác đến Gia Rai, Long Khánh, trong đó có Hưng; một số khác nữa bị chuyển đi đâu không ai biết.
Sau đó có tin anh chàng quân y năm thứ sáu ấy, được biết tên là Lộc, cái anh chàng “tẩm liệm” sành sõi, cái anh chàng ăn mặc điệu nghệ, cái anh chàng “đờn tưng tưng” khi được rảnh ri, đã bị bắn chết tại khu nấu bếp của trại tù Phước Long vì can thiệp vào chuyện một lính bảo vệ đánh đập một tù cải tạo. Còn nhớ khi ở Trảng Lớn, Lộc sau một ngày lao động hay ngày nghỉ cuối tuần thường ngồi dưới hàng hiên của lán ôm “cây đàn ghi ta tự chế” đánh những bài nhạc “lành mạnh” như Kết Đoàn, Dậy Mà Đi, Lên Đường v.v... Năm bảy bạn tù hát theo uể oải, rời rạc, lộn xộn. Chưa thuộc lời. Nhạc thì đơn giản, dễ nhớ. Những bài nhạc loại đó tù được hát trong vài ba tháng đầu tiên. Về sau, cấm. Tại sao cấm, mọi người bàn ra tán vào.
Hưng chuyển trại đến đâu, cô em gái hờ đều lặn lội đi thăm nuôi đến đó.̣ Chị ơi, em lo quá. Em sợ rằng nếu không được thăm nuôi lỡ ảnh không chịu nổi cảnh tù đày. Người ta có ơn lớn với anh họ của mình mà. Và Trân cũng nhận ra rằng đàn ông bỗng nhiên rất khan hiếm. Càng hiếm, càng quý. Những bạn trai cùng trang lứa với mình, và cả những người đàn ông hơn mình 10 tuổi, 15 tuổi, 20 tuổi và lớn hơn nữa, cũng đều biến đi đâu hết cả. Họ lần lượt trình diện “chui vào rọ” ở tù không thời hạn, hoặc trốn, hoặc vượt biên, hoặc chết. Một xã hội khô khốc vắng bóng đàn ông, “những người đàn ông của mình”. Bù vào đấy chỉ thấy xuất hiện càng ngày càng đông “những người đàn ông khác”, ăn nói cộc lốc, thô lỗ, cử chỉ ngờ nghệch, kệch cỡm, những công an quân phục màu vàng nhạt, bộ đội quân phục màu xanh rêu. Đi thăm bạn của người anh họ biến thành niềm vui cho chính Trân.
Vào quãng sau một năm ở tù tại Gia Rai, trại của Hưng có nhiều người bị kiết lỵ nặng. Người này lây qua người kia, không thuốc chữa. Nhiều tù chết. Trân đi thăm. Hưng ốm đến rạc người trông như bộ xương ngọ nguậy, được dìu ra Phòng Thăm Nuôi ở dưới chân một ngọn đồi, mà trước kia Quốc Gia gọi là Đồi Phượng Vỹ. Hai người bạn tù dìu Hưng đi. Cái chết luẩn quẩn quanh cái phòng mái tranh, phên tre. Ghê khiếp. Cái chết nó bò từ chân bàn lên mặt chiếc bàn dài và rộng, rộng đến ni hai người ngồi đối diện nhau, người tù và thân nhân, bắt buộc phải ngồi như thế, không thể vói nắm tay nhau. Muốn nói cho nhau nghe phải nói to để người khác cũng nghe được. Nhưng Hưng không nói to nổi, Trân nghe tiếng được, tiếng mất. Cái chết nó bò từ chân người tù lên bụng, lên tay, lên cổ, lên đầu. Liệu nó có bò lên người đi thăm? Nó hóa thân thành ruồi nhặng đậu lên thức ăn nguội lạnh, dơ bẩn, bám vào miệng những cái chén, cái tô tự làm lấy từ những mảnh thiếc nhỏ nhặt từ đống rác, hoặc bu vào những gáo dừa, những lóng tre  dùng làm ly uống nước.
Lẽ ra thời gian viếng thăm kéo dài nửa tiếng, nhưng chỉ mới khoảng 10 phút bỗng quản giáo bảo chấm dứt cuộc thăm. Hưng yếu quá. Quản giáo bảo sẽ đưa anh trở về lán, hay vào trạm xá để chữa bệnh, hay sẽ bị cô lập, tùy quyết định ở trên. Trân nghe mà chết điếng cả người. 
Trân năn nỉ, lạy lục, van xin quản giáo cho phép hôm sau mang thuốc trị kiết lỵ lên cho Hưng. Bằng không, chắc chắn Hưng sẽ chết. Người cán bộ từ chối. Nhưng Chị ơi, em đã muốn là nhất định làm cho được. Trân quỳ mọp xuống đất, khóc lóc thảm thiết, hai cánh tay thì như hai con rắn quấn chặt chân người cán bộ. Anh ta lúng túng, lọng cọng, không biết xử trí ra làm sao. Cuối cùng anh ta cúi xuống nói nhỏ bên tai Trân. Cô mừng rỡ, cám ơn rối rít. Ô, trong bọn họ cũng có người còn lòng trắc ẩn. Cô mượn bút và lấy một bao thư cũ từ trong túi áo ra ghi chép. Ngày hôm sau Trân mang thuốc lên trao cho lính gác ở cổng, dặn dò kỹ lưỡng. Cô nhớ ông dược sỹ già đã ân cần bảo lọ thuốc trị liết lỵ này đã cũ lắm, đã quá thời hạn, thuốc trước 75 mà, tức là thuốc quý đấy. Chứ bây giờ toàn là đồ dỏm.
Quả thật, Hưng tai qua nạn khỏi. Nhưng còn điều này khiến Trân lo nghĩ. Hưng thật khó hiểu. Thăm anh lần đầu, anh kinh ngạc, rồi vui mừng, rồi cám ơn, nhưng vẫn lặng lẽ, và ngẩn ngơ như người mất hồn. Những lần sau anh vẫn không lấy lại được một chút nào cái sinh động, linh hoạt đến náo nhiệt của ngày xưa. Anh chợt vui, chợt buồn, lúc tha thiết, lúc lơ đãng. Hoàn cảnh có thể thay đổi bản chất con người đến thế sao. Thế nhưng dần dần họ yêu nhau. Tình yêu đến khi gian khổ cùng chịu, khi hiểm nghèo có nhau, khi cái sống nằm kề cái chết.
Ở tù tại Gia Rai gần hai năm, Hưng được thả, được phát cái “Giấy Ra Trại”. Chứ không phải giấy chứng nhận mãn hạn tù. Anh và bạn tù được giải thích họ không phải là tù, mà là những người đi học tập cải tạo, là những trại viên. Về Sài Gòn anh tạm trú tại nhà cha mẹ Trân chỉ hơn một tuần lễ. Trân bàn chuyện làm một đám cưới “chụp giật” thật đơn giản. Thời buổi loạn ly mà, làm được cái gì thì làm ngay. Nhưng cũng không kịp vì Hưng lại được tin có chuyến vượt biên do một người bạn cũ tổ chức tại cửa Phan Rí. Anh phải đi ngày hôm sau. Anh đi như đi trốn gia đình Trân càng sớm càng tốt. Trân muốn đi theo tiễn đưa, Hưng không cho, bảo rằng rất nguy hiểm. Rồi bặt âm vô tín.
Năm sau, Trân nhận được thư của Hưng từ Mỹ gởi về. Trân rất ngạc nhiên và cũng rất vui mừng. Khi chưa có tin tức của Hưng, Trân cũng đã có ý định vượt biên, dù cha mẹ hết sức ngăn cản. Nay cô càng cương quyết. Cũng như nhiều người chán ghét cái chế độ mới hung tàn này, cô chấp nhận mọi nguy hiểm kể cả cái chết, miễn là thoát ly. Cuối cùng Trân tìm được một đường dây giả trang làm người Việt gốc Hoa đi “bán chính thức”. Chị ơi, Trời thương em, chuyến đi trót lọt, đến được một hòn đảo thuộc Nam Dương, liên lạc được với Hưng, được Hưng bảo lãnh. Chỉ ở đảo hơn một năm, Trân đến Mỹ. Thư ngay với Hưng qua hộp thư bưu chính, đến định cư tại Nam Cali nơi Hưng cư trú. Hưng bảo ảnh ở chung phòng với hai người bạn. Và đã có việc làm ổn định. Thỉnh thoảng trong giờ làm việc ảnh kiếm cớ “nhảy dù” đến thăm Trân. Tình cũ, tình mới, sung sướng biết bao. Còn cuối tuần ảnh tình nguyện làm thêm giờ phụ trội, được lãnh đồng lương nhiều gấp hai lần rưỡi so với giờ bình thường trong tuần. Cho nên anh bận lắm, không thể đến với Trân vào cuối tuần. Từ từ, không có gì mà vội, làm việc nhiều sẽ để dành nhiều tiền,rồi sẽ mua nhà, rồi sẽ làm lễ cưới sau. Mỹ mà, có con trước, đám cưới sau là chuyện bình thường, Hưng nói.
*
“Chị ơi, em may mắn quá. Cái may đến dồn dập làm em lo ngại. Vì có ai may mắn mãi mãi. Biết đâu những ngày sắp đến cái may sẽ không còn. Cho nên em phải lo tu tỉnh, làm lành lánh dữ, nếu không gặp may thì cũng tai qua nạn khỏi. Phải không chị? Vì vậy em sẽ đi chùa mỗi tuần một lần cầu xin Đức Phật phù hộ ... Này, này, chị sao thế?”
“Không, tôi không sao cả,” Diệp đáp. “Anh đó tên là gì? Tên Hưng hả chị? Chị có chắc thế không? Có làm huấn luyện viên ở Đồng Đế trước 75?”
Trân chau mày bắt bẻ, giọng hơi gắt gỏng:
“Ủa, chị nói gì vậy? Từ nãy đến giờ em đã nhắc đến tên ảnh biết bao nhiêu lần rồi!
“Trùng tên nhau là chuyện thường, phải không chị? Mà trùng cả nơi làm việc cũng có thể xẩy ra. Tôi ... không phải tôi, chị bạn đạo của tôi cũng gặp trường hợp, không phải ... hoàn cảnh như thế đó. Có lạ chưa. Nghĩa là ... nghĩa  là...” Nói đến đấy, Diệp bỗng dừng lại, áp bàn tay lên ngực.
Trân hơi sửng sốt, chau mày nghĩ ngợi, chậm rãi hỏi:
“Chị cũng có người ... người quen tên là Hưng?”
“Không, không. Không phải ... Chị bạn đạo của tôi chứ. Mà cũng không phải chị đó, chị nghe người ta nói thôi. Tôi cũng nghe người ta nói mới đây. Nghe nói? Lời nói vừa ra khỏi cửa miệng là đã sai hết cả ý nghĩa định nói rồi, tôi nghe Thầy giảng thế. Nhưng ở đây, chuyện này không dính dáng gì tới ý nghĩa cả. Mà là chuyện xẩy ra ... Mà cũng lại là người Huế.  Vô lý hết sức.” Lẩm bẩm một mình. “Hèn chi lầm lì suốt ngày, thở dài, thở ngắn. Đêm ngủ không yên. Lại hay nổi sùng vô cớ. Rồi tử tế, xoắn xuýt, mẹ nó, em em. Bửng lửng, bơ lơ, lỡ đứng, lỡ ngồi.”
“Chị nói cái gì vậy?” Trân e dè hỏi.
Diệp gần như quên cả người đối diện, nói nhỏ cho chính mình nghe:
“Chỉ được có một chuyện. Là hết sức thương nó. Còn mình ...?”
“Chị Diệp này”, Trân ngắt lời, “chị có nghe em nói không?”
“Xin lỗi chị, tôi có nghe. Nhưng tôi khổ quá. Chị ơi.”
“Em không hiểu chị nói gì cả. Hay là chị có ... có quen biết anh Hưng? Mà sao chị cũng biết anh ấy người Huế?”
Diệp buồn rầu:
“Anh Hưng nào vậy? Tôi có biết gì đâu. Anh ấy cũng người Huế sao? Làm sao tôi biết được. Tôi không quen, không biết ai hết. Chẳng qua là vì chị tự khai ... à không phải vậy, xin lỗi chị. Chị tự nói ra đó thôi, tôi nghe rõ từng tiếng một.”
Trân cáu kỉnh:
“Tôi nói hồi nào?”
“Chị bảo cái anh ấy giọng Huế đàn ông trọ trẹ khó nghe mà cứ tưởng gì đó, ... tưởng bở ... Chị kể lại lúc chị gặp anh Hưng, anh ấy, lần đầu tiên ở ...Đồng Đế. Thôi, thôi, mình hãy bỏ qua chuyện đó đi. Chị Trân ơi, chị ... và tôi nữa. Chị em mình hãy quên chuyện đó đi. Quên ngay từ bây giờ ... và mãi mãi.”
Trân bàng hoàng. Bỗng Diệp ngã xiêu người qua ghế bên cạnh làm đổ cả rổ khoai tây đã gọt xong, con dao vuột ra khỏi bàn tay nằm trên mặt bàn đá. Hoảng hốt, Diệp vội ngồi lại ngay ngắn, sửa lại mái tóc bị tung, rồi ngồi xuống đất, hai tay run rẩy đất nhặt khoai cho vào rổ, và miệng thì lẩm bẩm:
“Tôi bậy quá. Tôi nói năng chẳng đâu ra đâu mà cứ ưa nói. Xin chị bỏ qua.”
Trân ái ngại:
“Xin chị bình tĩnh. Có điều gì xin chị nói ra hết, chị nhé. Em sẵn sàng nghe.”
Diệp nghẹn ngào:
“Không phải, không phải. Chẳng có điều gì đáng nói cả. Chẳng qua là vì ... tôi biết nói gì đây. Ô, sao cuộc đời lạ lùng thế này. Vâng, tôi nhớ mẹ tôi lắm.” Nước mắt ràn rụa, bỗng như lại quên hẳn Trân đang chăm chú lắng nghe, nói một mình. “Mẹ ơi, sao mẹ vội đi ngay vào lúc này. Và bé nữa. Bé ngoan ngoãn ở lại với bố. Mẹ biết bố thương bé. Chỉ một tháng thôi, thời gian qua mau lắm, nghe con. Lạy Phật trăm ngàn lạy.”
Trân ngập ngừng:
“Chị, chị.”
Diệp như chợt tỉnh:
“Xin lỗi chị.”
“Chuyện gì dù khó khăn mấy cũng có thể giải quyết được, miễn là mình thấy rõ vấn đề. Còn bác thì, chắc tuổi thọ bác đã cao. Ai cũng phải giã từ cuộc đời này. Thôi, xin chị đừng quá lo buồn. Cháu bé cũng đã có bố nó lo, cô nó lo. Một tháng sẽ qua nhanh. Để em dẫn chị vào trong kia kiếm chỗ nằm nghỉ một chốc.”
“Cám ơn chị, nhưng hãy cho tôi ngồi yên ở đây vài ba phút. Tôi không sao đâu. Tôi ...” Tiếp theo Diệp vói tay lấy con dao nằm trên mặt bàn.
Trân nhỏ  nhẹ:
“Chị nghỉ tay một chút nhé. Em có tí việc phải đi ngay.
*
Nhiều lần trong tháng ba muốn vô Nha Trang mà không thể nào vô được. Đường hàng không thì  phi trường Phú Bài bị Cộng quân tràn ngập. Đường bộ bị chận ngang lưng chừng đèo Hải Vân, dân tỵ nạn từ Huế, Quảng Trị chạy vào biến thành những cái bia đỡ đạn. Bị thương, bị chết, vô số. Hoảng hốt tìm đường biển chạy bừa xuống cửa Thuận An, nghe nói có đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến kéo về đấy. Trọng pháo đuổi sát gót. Cha và anh bị bắn chết, xác chôn vùi dọc đường. Gia đình bốn người còn lại hai, khốn quẫn như cá nằm trên thớt. May cuối cùng cùng mẹ trốn về được quê ngoại. Ở với cậu mợ.
Còn Hưng? Không biết ra sao, sống hay chết, vẫn ở Nha Trang hay đã đi nơi nào khác. Thương nhớ anh quá. Cùng học ở Đại Học, sau anh hai lớp, yêu nhau lâu ngày mới làm đám cưới. Vừa xong Đại Học, vừa cưới xong, thì anh bị động viên vào Thủ Đức. Ra trường được chuyển vào Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Nha Trang, khỏi bị đi tác chiến. Nghĩ thế là có phước lắm. Đâu ngờ. Nhớ câu hò ru em:

Lên non thiếp cũng lên theo
Xuống thuyền thiếp cũng cheo leo mạn thuyền

Người ngày trước thuỷ chung như thế đó. Mà mình bây giờ tự xét cũng thấy không khác mấy. Lấy chồng phải theo chồng là lẽ thường. Ai cũng thế thôi. Thì tại sao mình cứ nghe lời bàn tới bàn lui của mẹ, tại sao thời buổi loạn ly mà cứ chần chừ không chịu thu dọn theo anh ngay để sống chết có nhau. Em nhớ anh quá. Em lo cho anh quá.
Chờ. Bặt âm vô tín. Một năm, rồi hai năm, rồi ba năm. Chờ đến bao giờ? Bỗng, như ma hiện hồn,  Hưng về. Anh bảo về nhà cũ thấy nhà đã bị chiếm. Hỏi thăm nhiều người, cuối cùng biết được bố và anh của mình đã mất, mình theo mẹ về quê ngoại. Anh đi tìm ngay. Anh ốm nhom và buồn. Anh đổi tính, không nói không phô suốt ngày. Chỉ ở lại ba hôm, rồi hai vợ chồng nhất định tìm đường đào thoát dù mẹ năn nỉ mình đợi qua năm mới, ăn Tết xong ra giêng ngày dài tháng rộng, hẵng đi. Mình rút kinh nghiệm cũ, nhất định đi. Mẹ cũng lạ, vào thời buổi này mà mẹ không bao giờ bỏ quên ngày kỵ, ngày chạp, ngày vía, ngày Tết. Người Huế già cả dường như ai cũng giống mẹ, lo cho người đã chết thật chu đáo, lo việc cúng quảy quanh năm không ngớt. Họ sống nhiều với quá khứ, mà quá khứ của Huế có quá nhiều chuyện bi thảm.
Nhưng cậu thì khác, đồng ý ngay. Cậu bảo anh không có tên trong hộ khẩu, sợ trước sau gì anh cũng bị bắt, lại đi tù. Tốt hơn hết đi sớm ngày nào hay ngày ấy. Mẹ cho gần hết số vàng mà mẹ để dành từ thời còn con gái tới bây giờ. Cậu mợ giúp thêm tiền. Hai vợ chồng vô được Phan Rí tìm lại được đường dây mà Hưng đã biết. Và thoát.
Ở Đảo hơn một năm đã được nhận vào nước Mỹ nhờ anh nói được tiếng Anh, nhớ số quân, và gặp nhiều may mắn khác. Nhận trợ cấp tỵ nạn chỉ vài ba tháng thì anh đã tìm được việc làm tốt. Cuộc sống từ nay sẽ thuận buồm xuôi gió, Diệp sung sướng thầm nghĩ.

Và Quốc ra đời.
Con ơi, cha mẹ đặt tên con là Quốc. Là đất nước của bố mẹ, là quê hương của bố mẹ, là kỳ vọng của bố mẹ. Con mau lớn nhé, con sẽ đưa bố mẹ về thăm bà nhé. Mẹ qua đây, chẳng bao lâu cậu bên nhà cũng qua đời. Bà không ở với mợ, dọn tới ở người cháu, làm mẹ lo. Con sẽ lấy vợ Việt Nam nghe con. Con lớn lên bố mẹ sẽ tìm nơi cho con ở gần cộng đồng Việt Nam, để con dễ gặp bạn trai, bạn gái người xứ mình. Mới có thể có vợ Việt Nam chứ. Lỡ con lấy vợ Mỹ liệu còn nhớ bố mẹ? Ô, mà con mới ra đời, ai lại đi nói chuyện vợ con. Vô duyên.
Bé chóng lớn. Và sớm khôn. Lúc mới ra đời, nằm ngửa, nằm sấp gì tay chân cũng cứ quơ quơ, cứ đạp đạp liên tục không một phút ngừng nghỉ. Đạp mạnh lắm, mẹ sợ bé trầy chân. Chỉ trừ khi bé ngủ. Lúc biết đứng, biết đi, lại càng quậy. Bé bỏ băng giai đoạn bò. Thật ra chưa bao giờ thấy nó đi. Nó không biết đi tới, chỉ biết đi thụt lùi. Hoặc đứng thì dang hai tay quay tròn người cho tới khi chóng mặt té xuống sàn nhà. May có trải thảm. Và muốn tiến tới là chạy và chạy, không chịu đi. Cũng chưa bao giờ nó chịu nằm yên, hoặc ngồi yên. Chạy quanh quẩn, rồi  nhảy cà tưng, rồi cầm tay mẹ mà kéo, mẹ phải lúp xúp chạy theo.
Ra khỏi nhà bé vui như chim sáo, chim sẻ, chim gi. Bỗng dưng hai chữ “chim gi” trở lại trong ký ức. Không, con sẽ không phải là con chim gi đâu, bị nói oan, bị chế giẽu,bị mắng. Mà mẹ bị, chứ đâu phải con, mà sợ. Tuổi thơ của mẹ vui buồn lẫn lộn. Chuyện con chim gi là chuyện nhỏ. Còn biết bao nhiêu oan khuất khác nặng nề hơn nhiều mà trẻ con như mẹ hồi đó phải gánh chịu, phải câm nín, không giải thích được. Không có người lớn nào chịu lắng nghe con nít. Tuổi thơ của con bây giờ và ở xứ này sẽ khác, sẽ là những chuỗi ngày trong sáng, vô tư, hồn nhiên. Đất nước này biết quý trọng trẻ nhỏ.
Nhớ hồi còn nhỏ được cho đi nghỉ hè tại Nha Trang, ở tại nhà bà con, tình cờ đọc một cuốn Sách Hồng do Tự Lực Văn Đoàn in, nhan đề “Con Chim Gi Sừng”. Thích quá. Quên coi tên tác giả, hồi bé chỉ biết đọc truyện chứ không quan tâm đến tác giả. Nhưng chữ Tự Lực Văn Đoàn thì nhớ vì bố của mẹ, tức ông ngoại của con, ông bảo thích cái nhóm này lắm. Lớn lên mẹ đọc mẹ cũng thích. Con? Ô, chắc không được rồi, con lớn lên ở xứ này, nói tiếng nói của xứ này, học hành nơi này, liệu còn nhớ tiếng Việt? Khi về khoe, bị ông chú nói mình ưa bịa đặt, ưa nói dối, xảo trá. Sai thì phải sửa, đừng ngoan cố. Phải bỏ những tính xấu đó đi. Là vì không có chữ “gi”trong tiếng Việt. Sách nào lại viết thế, nhất là sách của văn đoàn có tiếng đó. Chú bảo phải viết là “ghi” mới đúng. Khổ thay, không có cuốn sách ấy để đưa chú coi. Từ đó chú nhìn mẹ bằng con mắt khó chịu. Mãi khi lớn lên, một hôm tự nhiên thấy ngay câu trả lời hết sức đơn giản: từ chữ “gì” rất thông thường bỏ đi dấu huyềnthành chữ “gi”. Con chim gi.
Trên lề đường hai mẹ con cùng đi, mẹ luôn luôn nắm chặt tay của bé, sợ bé chạy xuống đường. Không được nghe con, tuyệt đối không được. Đường đi là dành cho xe hơi, xe bịch bịch, xe đạp, nghe con. Thế nhưng gặp ngọn lá, khúc cây, trên lề đường, bé trì người cúi xuống lượm ngay. Tay cầm không hết, chia cho mẹ. Mẹ phải cầm lấy chơi với bé. Mẹ vô ý quăng đi, bé phản đối, la lên. Mẹ lại nhặt lên, kiếm thêm một nạm cỏ, vài hòn sạn đưa cho bé, bé cười phô mấy chiếc răng cửa vừa mới nhú ra nửa chừng trông xinh quá. Lại gặp bất cứ cái gì vừa tầm chân của con nó là con đá, bụi cây thấp, bụi hoa, hàng rào bằng cây bông ngũ sắc, v.v... Thậm chí gặp hàng rào bằng gỗ con cũng đá. Mẹ sợ chân bé đau, giữ bé lại, ngồi xuống xoa chân bé xem có vết trầy hay không. Thường là có. Con không biết đau. Rồi đứng dậy cùng đi. Bé lại cúi lượm cái này, cái kia, hoặc thuận chân thì đá phất, phất, như người ta phất cờ. Nhìn hai mẹ con chơi với nhau trên lề đường vắng, trên hè phố, người ta tưởng đó là hai người điên.
(Còn tiếp)



Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)