Tìm kiếm Blog này

Ngự Thuyết - Nỗi Buồn Không Tên (1)

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016


Hai người đàn bà ngồi cạnh nhau
chuyện trò mà tay thì thoăn thoắt gọt, cắt cà rốt, khoai tây, su su, su hào, bầu, bí ngô, bí đao, v.v... Họ và một số người khác, phần đông là nữ giới, đang chuẩn bị cho bữa cúng chay nhân dịp vía Quan Âm cùng với lễ thất tuần của những người quá cố. Thật ra, dù không có lễ lạc gì, chùa này cũng, trong mỗi cuối tuần, thứ bảy hoặc chủ nhật, hoặc cả hai, làm các món ăn trưa cho thực khách.
Hai người đàn bà còn trẻ lắm, khá xinh đẹp. Người trẻ hơn khoảng 25 tuổi, người kia trên 30. Họ ngồi ở gần cuối sân chùa có mái che bằng vải bạt được sử dụng làm chỗ nấu bếp. Cuối sân là khu rửa chén bát. Phía trước khu này, chạy song song với hông chùa, là một hàng dài bàn ghế, bên trên cũng có vải bạt che, dành cho khách thập phương đến ngồi tạm nghỉ trước khi vào chánh điện lễ Phật. Hay nói cho đúng hơn, người nào muốn lễ Phật thì vào chánh điện cạnh đó, người nào muốn “thọ trai” thì đến đấy ngồi chờ lấy thức ăn. Tự động lấy. Gần khu nhà bếp có người đứng đấy múc thức ăn cho vào tô, vào dĩa, đặt vào khay, thực khách đến lấy mang đi.

Ngôi chùa nhỏ bé. Sân chùa cũng không rộng, vài ba chục xe đậu là hết chỗ. Cây cối thưa thớt, không có cây lớn. Có lẽ chùa được dựng lên chưa lâu, mới mấy mươi năm chăng sau những đợt vượt biên của người tỵ nạn. Không có lầu chuông, lầu trống, hòn non bộ, cũng không có những cái tháp thờ phụng những vị trụ trì đã nhập diệt. Nó nằm gọn trong khu dân cư đông đúc, xô bồ, thuộc vùng nghèo nàn của Long Beach, Nam California. Đa số cư dân quanh chùa là người gốc Mễ Tây Cơ, hoặc những người từ Trung Mỹ, Nam Mỹ nhập cư. Không thấy, hoặc rất hiếm người Mỹ da trắng. Nhưng khách thập phương tới chùa tuyệt đại là người gốc Việt. Đông đảo, tấp nập lắm.
“Chị ơi,” người trẻ tuổi tiếp tục câu chuyện vừa bị gián đoạn vì cô phải đi đổi con dao, “người ta tới đông quá chừng. Hết chỗ đậu trong sân chùa rồi. Những người đến sau phải làm sao đây? Hay phải bỏ về. Công toi.”
“Chắc là chị chưa rõ. Chị đi chùa này nhiều lần chưa? Hay mới đến đây lần này là lần thứ nhất?”
“Em tới lần đầu.”
“Họ không về đâu. Không đậu được chỗ này thì kiếm chỗ khác mà đậu, phải chịu khó chớ. Đi chùa chứ đâu phải đi chơi, đi du lịch. Trên các con đường nhỏ quanh chùa cũng có chỗ đậu được. Mà không được cứ đậu đại. Không thấy cảnh sát huýt còi thì cứ đậu. Mà cảnh sát thấy người ta đi chùa thì chắc cũng phải thông cảm chứ. Ô, mà cảnh sát Mỹ lạnh như tiền, đã phạt là phạt, sức mấy cảm với thông.” Ngẫm nghĩ một chút rồi nói tiếp. “Nhưng sao xe cứ đậu tùm lum thế kia. Có lẽ cảnh sát tha? Hay chưa thấy? Mà thấy cũng có thể tha. Hết chỗ đậu gần thì đậu xa. Nhiều người đậu xe xa lắc, kéo nhau đi bộ lề rề tới như đoàn người hành hương. Mỏi chân là cái chắc. Thì cũng coi như tập thể thao thôi. Đi bộ là môn thể thao rất tốt, chị đồng ý không.”
Người trẻ tuổi hơi chau mày, thầm nghĩ cái bà này nói năng lăng nhăng, lung tung. Cô mỉm cười đáp:
“Thế sao. Để em xem nào. Nhưng tới thì nhiều mà vô chánh điện lễ Phật thì ít. Tới chỉ cốt ăn thôi, ‘ăn cơm chùa’ theo nghĩa đen của nó. Chùa này không ‘ngon’ mà đồ ăn có lẽ lại ngon.”
Người lớn tuổi phản đối:
“Chùa này không ngon là sao? Theo tôi biết, mấy Thầy ở đây, tôi chưa tìm ra chữ, à, đều đạo cao đức trọng, tu hành tinh tấn. Chùa đất Phật vàng đó. Nghĩa là chùa nghèo nhưng cái tâm không nghèo. Mà cái tâm mới đáng quý. Cho nên người ta mới tới đông như thế.”
“Em xin lỗi. Cái tâm không nghèo nghĩa là gì?”
“Là ... tôi cũng bí. Tôi sẽ hỏi sau. Nhưng cái cách tu hành tại chùa này ...”
Người trẻ tuổi ngắt lời:
“Em nói ‘chùa không ngon’ là nói đùa mà. Đồ ăn ngon thì em nghe tiếng, nên tới thử. Nhưng chị thấy đó chứ, em không giống như những người kia đâu. Trước khi ăn, em tình nguyện đến khu này giúp việc... nấu nướng. Đói, ăn sau. Hết thức ăn, về. Không sao cả.”
Người lớn tuổi cười hiền từ:
“Chị làm thế là phải. Mà trong chánh điện cũng có đông người vào cúng đấy chứ. Tôi đi chùa này đã lâu, thật ra cũng không lâu lắm, không lâu bằng mấy chị bạn của tôi, lâu hơn chị thôi, nên được biết số người đến đây cúng dường Tam Bảo không phải là ít. Nghĩa là cũng nhiều nhiều. Lễ Phật xonghọ tới bỏ tiền vào những thùng ‘donation’, tức là ...thùng phước sương, không cần ai biết. Những thùng đó đặt nhiều nơi, dễ thấy lắm, để ý là thấy ngay. Nhưng chị nói cũng đúng, người đến chỉ để ‘ăn cơm chùa’ đông ghê. Tôi thấy chùa này đông nhất. Các chùa khác đâu có thế. Tôi nhớ hồi sau ba mươi tháng tư, những ngày đầu ...”
“Sau ba mươi tháng tư là cái gì?”
“Là sau khi Miền Nam mất. Lúc đó tôi còn ở Huế. Một ông cách mạng, tôi đoán thế mà đúng đấy, có vẻ đàng hoàng, kính trắng, áo bỏ ra ngoài, nghĩa là không bỏ vô quần, mang dép Nhật, chớ không như những ông dép râu khác. Ổng nói, hơi rụt rè, rằng tôi mới tới chùa này lần đầu, chùa này là chùa Từ Đàm phải không. Trông kìa người ta đang ăn cơm chùa, đúng không chị. Tôi nói đúng. Ông ấy hỏi tiếp tôi tới đó cùng ăn với đồng bào được không, có phải đóng góp, chia sẻ gì không. Tôi nói được, cứ việc, ăn xong khỏi  trả tiền, ăn cơm chùa mà. Ông ta mới đầu có vẻ không tin lời tôi, đứng ngó chần chờ một chốc rồi mới vào bàn. Mà cũng không chịu ăn ngay, nhìn qua bên phải, ngó qua bên trái, lúng ta lúng túng, áp a ấp úng, thấy tội nghiệp ...”
Người trẻ tuổi có vẻ sốt ruột, đổi đề tài:
“Chị ở vùng nào?”
“Tôi ở Anaheim, đi đường trong gần một tiếng nếu không bị kẹt xe. Còn bị kẹt xe thì khỏi nói, có khi một tiếng rưởi, hai tiếng là chuyện thường. Mà đi chùa thì phải chịu khó mà đi. Đã định đi thì sớm trễ gì cũng phải đi. Bỏ về nửa chừng, tội chết.”
“’Đường trong’ là cái gì?”
“Là đường xe chạy trong các thành phố, thị trấn, không được chạy quá tốc độ. Cảnh sát rình, chạy quá tốc độ bị hò lại ngay. Chứ không phải như ‘free way’”.
“’Free way’ là cái gì?”
“Tôi chẳng biết giải thích ra sao đây. Là những con đường tha hồ chạy. Chạy mau, 60, 70 dặm một giờ. Xe chạy chớ không cho người chạy bộ đâu nhé, xe đạp cũng cấm. Không có đèn xanh đèn đỏ, chạy một lèo. Nó nối các thành phố, các tiểu bang với nhau. Có đường chạy qua tới qua Mễ. Hình như qua cả Canada.”
“Em còn phải học hỏi nơi chị nhiều lắm.  Em ở Huntington Beach, cũng gần đây thôi.” Ngẫm nghĩ một chốc. “Sao chùa này không làm như nhiều chùa khác, là cứ tiền trao cháo múc. Có phải tiện việc sổ sách hơn không.”
Một chiếc xe hơi tiến vào sân chùa, không chỗ đậu, vội quẹo ra cổng sau, suýt đụng vào một đứa bé chạy vuột khỏi tay mẹ. May có nhiều tiếng la.
“Đáng đời!”Người trẻ tuổi reo to, dừng tay, đặt con dao lên trên chiếc thau nhựa, ngẩng mặt lên nhìn vào sân chùa tràn ngập xe hơi và khách thập phương. Cô lằm bằm tiếp:
“Sẽ có ngày ...”
“Ủa, cái chuyện gì vậy?” Người kia ngạc nhiên hỏi.
“Thì đấy, chị không thấy đó sao. Lái xe thì chỗ đông lái ẩu, giữ con thì có đứa bé giữ cũng không xong. Án mạng xẩy ra như chơi. Nhưng em muốn trở lại chuyện cũ.” Cô hạ giọng. ”Chùa này làm ăn luộm thuộm. Sao không chịu bắt chước chùa khác tiền trao cháo múc. Trước khi tới chùa này, em đã đi hai ba chùa gần chỗ em ở. Xìa ra năm đồng đô la bợ tô bún, hoặc dĩa cơm, hai, ba đồng khúc bánh mì, chẳng hạn. Lời chán. Còn cái kiểu này lỡ nhiều người chỉ ưa ‘ăn cơm chùa’ thôi, thì có ngày chùa sập tiệm.”
“Nhưng mấy Thầy của chùa này đâu tính chuyện buôn bán, mà lời với lỗ. Cứ cho tha hồ ‘ăn cơm chùa’. Có hai Thầy nấu ăn ngon lắm, chỉ huy ban nhà bếp. Mà hình như nhờ chư Phật gia hộ, nhà chùa chưa hề bị khó khăn về tài chánh. Nghĩa là vẫn có người rộng rãi đóng góp nhiều, rất nhiều. Dư bù thiếu. Như thế người nghèo khổ, thiếu thốn cũng được san sẻ, cũng được ăn xong khỏi trả tiền. Tôi có khi cũng thế. Là vì quên mang ví chứ không phải cố ý. Nhưng ít khi thôi. Lâu lâu quên một lần, xin được từ bi hỷ xả. Hơn nữa ...”
“Tôi đang nghe.”
“Thấy chị chăm chú ngó ngoài kia, tôi tưởng ... Hơn nữa phải có thời gian, phải được huân tập nhiều đời nhiều kiếp, người ta mới làm quen cúng dường, hay nói đúng hơn, người ta mới chịu bỏ tiền đóng góp vào thùng phước sương sau khi ăn no. Cái hay ở đây là thoải mái, không ai canh chừng, dòm ngó. Hơn nữa ...”
Người trẻ tuổi sốt ruột ngắt lời:
“Lại còn hơn nữa cái gì, hả chị?”
“Phật dạy người san sẻ, người cho, còn phải biết ơn người được san sẻ, được cho. Là vì ...”
Người trẻ tuổi cố giấu cái chau mày, ngắt lời, nói lảng sang chuyện khác:
“Chị coi kìa, người ta tới đông quá, hết chỗ ngồi rồi. Có lẽ em phải vào trong kia một chút, ra ngay. Em vào báo cho cho các Thầy biết hết chỗ ngồi.” 
Cái bà này quá lẩm cẩm. Nói năng rề rà, lôi thôi, lạng quạng. Chỉ nhìn cách ăn mặc của bà là đủ, không phải là ni cô mà cũng ưa nâu sồng như ai. Lại có chuyện người cho mà phải mang ơn người nhận, phi lý hết sức. Đã thế còn dám bảo đấy là lời Phật dạy. Nhưng thật ra đâu phải chỉ vì nghèo khổ, thiếu thốn người ta mới thích “ăn cơm chùa”. Ai cũng vậy, ăn xong khỏi phải lôi hầu bao ra, phủi tay, phủi mép thong thả ra về, thì sẽ thấy cuộc đời nhẹ nhàng, dễ dàng, tươi đẹp biết bao. Mình cũng nhiều khi như thế. Nào, thử theo dõi nhóm người này.
Một gia đình, năm người lớn, hai đứa bé, vừa từ cổng trước đi vào. Cái bà lẩm cẩm này e cũng có cái đúng, chắc họ đậu xe xa, kéo nhau hàng một đi bộ tới. Đứng ngó hớt hơ hớt hải làm chi đó? Giống mấy con gà mở cửa mả. À, đúng rồi, chờ bàn trống. Sắp có vài chỗ trống kia kìa, gần khu nhà bếp, gần mình. Mình theo dõi từ đầu tới cuối xem ăn xong họ có chịu bỏ tiền vào thùng phước sương hay không. Thì thầm cái gì vậy? Chắc đang phân công. Đúng, hai người trong nhóm vội vàng ngồi vào chỗ mới có hai người đứng dậy, kéo thêm hai cái ghế của bàn khác, thế là được bốn chỗ ngồi. Hai người khác đi lấy thức ăn. Một người ngồi trên một bậc tam cấp gần đó hai tay nắm chặt tay hai đứa con nít. Coi bộ kinh nghiệm đầy mình. Rụp rụp. Thức ăn mang tới. Thiếu ghế cho một người đang giữ hai đứa bé, xem họ tính sao đây. A, thì ngồi trên bậc tam cấp mà ăn.
Ăn uống nhồm nhoàm, khoái trá, hả hê. Mải miết ăn, không có thì giờ chuyện trò với nhau. Ăn xong chưa chịu đứng dậy cho người khác đến “thế chỗ”, còn ngồi đó chờ gì nữa? Một người trong bọn nhìn dáo dác, rồi chạy lăng quăng tìm tòi. Lại còn tìm cái gì vậy hả? Bị móc túi mất bóp? Bỏ quên cái dù, cái nón? Hay tìm thùng phước sương? Không phải, tìm tăm xỉa răng. Có rồi, mang đến chia mỗi người một cây. Kẻ rung đùi, người chép miệng xuýt xoa. Bị trái ớt cay xé họng hay đang thưởng thức cái hậu vị của những món ăn chay nấu ngon? Chưa hết, một người hỏi chén đũa, tô dĩa ăn xong để tùm lum thế kia thì tính làm sao đây. Một người khác trong bọn trả lời kệ, sẽ có người tới đây dọn dẹp, lau bàn, lau ghế, rồi họ sẽ mang chén đũa tô muỗng đến cuối sân lo việc rửa, lau, gọn gàng, sạch sẽ. Chùa này rất vệ sinh. Mà đồ chay, dễ rửa lắm.
Mà này, cái gia đình đã ăn no bụng kia có chịu dời gót ngọc đi hay không? Để chỗ cho người khác ngồi chứ. Nhiều người đang đứng chờ kia kìa. Bộ đui không thấy sao? Xem nào. Cuối cùng họ cũng “từ tốn”,“thong dong”, “chậm rãi”, nháy mắt nhau đứng dậy đi chen lấn theo hông chánh điện ra về. Người lớn tuổi nhất trong bọn đi nán lại sau cùng, khẽ liếc mắt nhìn vào bàn thờ Phật nằm xa trong chánh điện, đầu khẽ gật gật. Có lẽ muốn lạy Phật giã từ. Rồi rảo bước đi nhanh cho kịp những người kia. 
Đúng như mình đoán, họ “ăn cơm chùa.” 
“Chị đang nghĩ ngợi gì vậy?” Người lớn tuổi hỏi nhỏ.
Người trẻ tuổi hơi giật mình:
“Em đang theo dõi ... em đang lắng nghe thử có tiếng chuông tiếng mõ không.” Cúi mặt, chìa cổ tay trắng nõn ra nhìn đồng hồ. “Đã 12 giờ rồi, đúng ngọ rồi. Các chú tiểu lo việc thỉnh chuông lại quên khuấy hay sao đó.”
Như đề trả lời, một hồi chuông gióng lên, tiếp theo là một hồi trống, và tiếng tụng kinh từ chánh điện văng vẳng đưa tới. Người lớn tuổi ngồi lại ngay ngắn, buông con dao để trên mép bàn, hơi cúi đầu, mắt lim dim, bàn tay chắp lại, miệng lâm râm tụng niệm. Người trẻ tuổi ngồi yên lặng. Chỉ sau một khoảnh khắc ngắn, họ lại cầm dao lên tiếp tục công việc cắt, gọt. Cô lớn tuổi trong bộ nâu sồng rộng thùng thình, mái tóc dài được quấn lại gọn gàng, khuôn mặt trái soan, nước da trắng mịn, đôi mắt trong sâu lắng toát ra một vẻ tín cẩn, dịu dàng. Cô trẻ tuổi áo sơ mi màu hồng nhạt, quần tâymàu xám,mái tóc buông dài phần sau che kín cổ và vai, phần trước rủ xuống phủ một nửa vầng trán để lộ khuôn mặt thật tươi, cặp  mắt sắc, và nụ cười nở ra thật dễ dàng, tự nhiên.
Bỗng nhiên cô lớn tuổi buông tiếng thở dài.
Chuyện gì vậy chị?” người trẻ tuổi ngạc nhiên hỏi.
“Không, không có chuyện gì đâu. Ô, tôi vô ý quá, để chị phải... Vâng, không nghĩ tới thì thôi, khi sực nghĩ tới tôi bấn cả ruột gan, chẳng còn thiết gì nữa.” Mắt rưng rưng. “Cái tánh tôi bất thường, khi buồn khi vui ...”
“Chị đừng ngại. Mới gặp chị hôm nay, em mến ngay. Có chuyện buồn hả chị? Cái buồn san sẻ ra nó sẽ vơi đi. Chị cứ nói em nghe, biết đâu em giải tỏa được đôi điều. Rồi em cũng sẽ tâm sự với chị chuyện của em. Chuyện của em là chuyện vui, dài dòng, khá ly kỳ đấy. Chị nghe sẽ hết buồn ngay. Em tên Trân. Còn chị?”
Người lớn tuổi cười dịu dàng, đưa bàn tay vén mấy sợi tóc lòa xòa vướng vào đôi mắt còn ướt, rồi lấy khăn giấy chặm khô nước mắt, khẽ đáp:
“Tôi tên Diệp. Cám ơn chị. Chẳng qua là tôi phải về Việt Nam ngày mai. Đã mua vé khứ hồi. Mẹ tôi mất hôm qua. Mẹ tôi có một mình bên đó. Nghĩa là ở với bà con, ruột thịt không còn ai. Tôi thì chưa đủ thời gian để bảo lãnh mẹ tôi qua, thì mẹ đã vội ra đi.” Nước mắt cô chảy thành dòng, Trân vội đưa chiếc khăn giấy khác cho Diệp chặm nước mắt. “Hôm nay tôi đến chùa vừa lễ Phật vừa câu siêu cho mẹ. Nhưng cái kẹt của tôi là ...”
Diệp ngập ngừng, không muốn nói tiếp. Trân khuyến khích:
“Là sao hả chị? Chị cứ nói hết đi, em đang nghe.”
“Con tôi còn nhỏ quá, mới hơn một tuổi rưỡi. Còn 18 ngày nữa cháu được một tuổi bảy tháng, tổng cộng 19 tháng 18 ngày. Xem nào, tôi tính lộn rồi, một tui, sáu tháng mười hai ngày mới đúng, tức là 18 tháng, 12 ngày. Nhỏ quá, không Nhà Trẻ nào chịu nhận bé.”
Trân cười, gần như chế giễu:
“Tưởng gì. Dễ ợt.”
“Sao lại dễ?”
“Chị bồng nó theo.”
Diệp ngừng tay, thở dài:
“Tôi cũng định thế, nhưng bà con ở Việt Nam cho hay đang có dịch sốt xuất huyết, trẻ con bị chết khá nhiều. Tôi tính cứ liều bồng nó theo, không lẽ trẻ con ai cũng chết. Nhưng nghĩ lại cứ sợ như thường, lỡ nó trúng vào con mình. Tôi thương nó lắm. Ba nó cũng thương, mà phải đi làm việc. Hai người phải có một người đi làm chứ. Hai mẹ con lúc thúc bên nhau suốt ngày, nay tôi phải đi một mình. Đành để nó ở lại đây, tôi không yên tâm một chút nào cả.”
“Không có chị, ảnh đi làm, thế nó ở với ai?”
“Trong thời gian tôi đi cả tháng trời thì phải gởi nó tại nhà một người em họ. Cái cô này tôi cũng chưa được biết nhiều. Em họ của ảnh, có gia đình con cái. Không có đứa nào nhỏ như bé. Nhà tôi cách nhà cô ấy chừng hơn một tiếng...”
“Là cái gì?” Trân ngắt lời.
Diệp tỏ vẻ không hiểu. Trân tiếp:
“Em mới qua đây thôi, đôi khi không hiểu nổi cái lối nói bên này. Hơn một tiếng là cái trò ... là cái gì gì?”
“À, hồi nãy tôi có nói rồi mà, tức là hơn một tiếng lái xe. Tôi có nói tôi ở Anaheim ...”
Trân vội ngắt lời. Trân thích ngắt lời:
“Ờ, hình như chị có nói như vậy, nhưng em thấy kỳ kỳ nên hỏi lại. Ai lại lấy thời gian đo không gian bao giờ, xa nhau hơn khoảng cách của một giờ! Xa nhau lâu hơn một tiếng còn nghe được. Mà gởi nó luôn một tháng thì... chắc mỗi cuối tuần ảnh sẽ đến thăm cháu một lần, phải không hả chi?”
Diệp nén tiếng thở dài:
“Không phải vậy. Ai lại làm như thế. Anh thương nó lắm, anh nhớ nó chịu sao nổi. Mà không có tôi, nó cũng nhớ chứ. Nhớ bố, nhớ mẹ. Nay không có tôi, phải có anh buổi tối, nó đỡ nhớ phần nào. Chị có hiểu tôi nói cái gì không?”
“Hiểu.”
“Thế này nhé, sáng đưa cháu qua nhà cô ấy, chiều về đón. Kể cũng nhọc nhằn cho ảnh, xa hơn 70 miles. Bên mình là xa hơn một trăm cây số đó. Xa hơn Sài Gòn - Vũng Tàu. Cầu mong bé không khóc đêm cho ba nó ngủ yên, sáng mai có sức đi làm. Ảnh hơi khó ngủ chứ không như tôi. Tôi ôm bé trong lòng là ngủ một giấc cho đến sáng.” Nói như nói một mình. “Mẹ mong con đừng khóc. Mà mẹ thấy con chưa hề khóc. Con chưa biết khóc. Không có mẹ con cũng ngủ thẳng giấc nghe con.”
Trân bĩu môi:
“Chị khỏi lo xa. Con nít lẹ lắm, không phải như chị ... như chị em mình đâu. Chỉ năm bảy hôm là yên ngay. Nghĩa là ... có mợ hay không mợ chợ cũng đông.”
Diệp lại kín đáo nén tiếng thở dài. Dường như biết rằng người đối thoại với mình nhận ra điều đó, nhận ra những cơn xúc động quá đáng của mình, cô liền phân bua, nói một hơi dài như vừa được dịp giải tỏa những gì đè nặng trong lòng:
“Tôi biết tôi tu nhưng chả đến đâu. Thì phải ráng tu nhiều hơn nữa, phải không chị? Chị chắc mau ‘ngộ’ hơn tôi. Tôi thương bé lắm. Đức Phật dạy cuộc đời vô thường, phải buông xả thì mới mong tiêu trừ mọi đau khổ. Mà tôi thì cũng có hiểu lời Phật dạy, mong muốn vâng theo lời Phật, mà vẫn cứ bị dính mắc. Tôi gắn bó với bé quá sức. Không muốn xa cháu nửa bước. Hai mẹ con ở nhà với nhau đeo nhau như sam. Chị biết con sam không? Nắn tay nắn chân nó khi nó ngủ say, nắn từng ngón từng ngón, hôn vô đầu hôn từng sợi tóc chưa mọc dài, hôn vô má thiếu đường muốn cắn nó, nhiều lúc làm nó khóc ré lên. Có lần thay tả cho nó tôi còn ...”
“Vâng, em đang nghe.”
“Tôi ...tôi nếm thử phân của nó.”
Trân giật mình la toáng lên:
“Trời ơi! Chị điên rồi hả? Thật không thể tưởng tượng nổi. Mà để làm chi vậy?”
Diệp tỏ vẻ hổ thẹn:
“Tôi không điên đâu. Tôi chỉ tôi muốn biết, muốn chia sẻ tất cả những gì thuộc về cháu. Người ta nói đồng cam cộng khổ, hình như nghĩa là ngọt bùi cay đắng gì cũng đều chia cho nhau. Cái hay cũng như cái dở, cái thơm tho cũng như cái... không thơm. Tôi biết tôi là người mẹ bất thường, làm nhiều việc sai quấy, cho nên đi chùa tôi mặc bộ nâu sồng này để có thể luôn luôn tự nhắc nhở mình phải ... bớt ham muốn, ... bớt vướng mắc...bớt thương yêu ... dù là thương con ...”
Trân quắc mắt, ngắt lời:
“Dù là thương con, chị nói cái gì vậy?”
“Chẳng biết tôi nói như thế, nghĩ như thế có đúng hay không. Có dịp, tôi sẽ nhờ Thầy giảng cho rõ hơn. Tôi còn mù mờ lắm, mà Phật pháp nhiệm mầu, kinh tạng hàng ngàn cuốn, nhiều vô số kể. Biết tu hành mấy kiếp cho xong. Thôi thì làm được gì thì làm. Gần đây tôi cũng đã cố gắng làm được một việc, là xa cháu nửa ngày mỗi cuối tuần để đi chùa, để có thì giờ cho riêng mình lo việc tu tập. Và cũng để bé quen xa mẹ trước khi tôi đi Việt Nam.” Nghỉ một chốc. “Tôi đã tập lái xe lấy được bằng lái. Thi ba lần mới đậu đó. Lần thứ ba nhờ bà giám khảo người Mễ dễ tính. Tôi đoán là người Mỹ gốc Mễ. Mà cũng có thể gốc Nam Mỹ. Tôi tự lái xe được rồi. Chị có bằng lái xe chưa?”
“Có. Mới qua tới Mỹ, việc làm đầu tiên của em là phải có bằng lái xe dù chưa đủ tiền mua xe. Chị nói tiếp đi.”
“Như trưa hôm nay bé ở nhà với bố. Tôi cũng muốn mang nó theo, nhưng nó phá quá, sợ bị người ta rầy la, tội nghiệp cháu. Hai cha con ở nhà với nhau suốt cả buổi chắc cũng buồn lắm. Xe thì tôi đã lái đi, ảnh đâu có thể bồng cháu đi bộ ra biển, hay đi đây đi đó. Bên này đất rộng, đi đâu cũng phải có xe.”
Trân nhìn đăm đăm người bạn mới quen, làm ra bộ quan tâm.
“Thế mà ngày mai,” Diệp buồn bã nói tiếp, “tôi phải đi. Phải xa cháu cả tháng trời. Trăm lạy ngàn lạy Đức Phật, Đức Cứu Nạn Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin Ngài từ bi gia hộ.” 
*
Mùa thu năm 1976, một năm sau khi Miền Nam mất, Sài Gòn rất buồn. Chợ Lớn càng buồn hơn. Phố xá vắng vẻ, xao xác, tiêu điều.  Như những chiều ba mươi Tết ngày xưa.
Những dòng người đi bộ lầm lũi trên các hè phố rác rến, trên các lề đường thưa người. Đàn ông, ít hẳn đi, áo sơ mi nhàu nhò, quần tây bụi bặm, dép râu; đàn bà, chiếm số đông, áo bà ba nhếch nhác, quần rộng thùng thình, không trang điểm phấn son, thỉnh thoảng mới thấy có người mang dép nhựa kiểu Nhật quai xéo. Mặt người nào người nấy gầy gò, hốc hác, mệt nhọc, lo âu. Nhiều cặp mắt gần như tuyệt vọng. Những dòng xe đạp, xe gắn máy, rất hiếm, chạy miên man trên những con đường lớn trống trải. Họ chạy lăng quăng, loanh quanh. Một nhà văn, Lỗ Tấn, có ví mấy con ruồi hay con ong gì đó, đậu ở một nơi nào đó, bị người ta đưa tay phủi, thì bay đi chờn vờn quanh đấy. Rồi thấy yên yên thì bay trở lại đậu chỗ cũ. Những người khác tìm đường trốn ra khỏi nước bằng mọi cách, nhất là bằng đường thủy, đúng ra trên  những con thuyền vượt biển ọp ẹp. Họ chẳng nề gian nguy, chẳng cần biết sẽ về đâu, miễn là thoát hoặc chết. 
Một nỗi buồn khó tả len lỏi vào mọi sinh hoạt hàng ngày của mỗi người. Buồn miên man, buồn ray rứt, buồn u uất. Và cũng có cái buồn như đứa bé còn nhỏ lắm, chưa nhận thức được gì, hoang mang, ngơ ngác, không hiểu tại sao mẹ nó bỗng bỏ nó mà đi. Nỗi buồn không tên.
Bỗng có một tin được quần chúng hân hoan đón nhận. Nhà cầm quyền sẽ ban lệnh khoan hồng. Các đài truyền thanh, truyền hình, mấy chục tờ báo hàng tuần, hàng ngày, đặc biệt loa phóng thanh phường khóm loan tin rằng Cách Mạng sẽ khoan hồng, nghĩa là sẽ cho phép thân nhân thăm nuôi những người đi “học tập cải tạo”. Mọi người cảm thấy mừng hụt. Tưởng là gì. Tưởng là tất cả tù cải tạo đều được tha về. Có thế mà gọi là khoan hồng hay sao? Tù được cho ăn, được cho thăm viếng, đó là chuyện bình thường. Nay cho thăm, tuy chậm còn hơn không. Nhưng sao lại nuôi? Vì tù đói quá, thiếu chất đạm quá, thiếu chất ngọt quá, và thiếu hẳn các thứ thuốc chữa bệnh thường xẩy ra như kiết lỵ, sốt rét, cảm cúm, ghẻ lở v.v... Và dường như bên ngoài các trại tù người dân thường cũng không có đủ những món cần thiết ấy, thuốc men cũng như thức ăn. Thân nhân vài ba tháng được đi thăm nuôi một lần, mang theo chút đường, chút nước mắm, chút thịt, dăm bảy viên thuốc. Quý giá vô cùng. Để tù có sức đề kháng, để có thể sống sót. 
*
Trân lục lại quá khứ. Nhớ như in. Chỉ mấy năm thôi, mà cứ tưởng như nó đã xẩy ra từ kiếp nào.
Hồi đó, họ gặp nhau tại Trung Tâm Huấn Luyện Hạ Sĩ Quan ở Đồng Đế, gần thành phố Nha Trang. Một Chủ Nhật, mẹ đi thăm Tạo, người cháu gọi mẹ bằng dì ruột, đang làm huấn luyện viên “Tác Xạ Vũ Khí Mìn” tại Trung Tâm nói trên. Cha mẹ Tạo đều qua đời, anh coi người dì như mẹ ruột. Cả tháng nay, vì tình hình chiến sự khẩn trương, Trung Tâm cấm trại, Tạo không được phép ra ngoài. Cho nên mẹ của Trân mua một ít bánh trái, thức ăn, mang vào cho cháu. Trân xin đi theo cho vui. Thì gặp cái anh chàng kỳ cục bạn học thời trung học của Tạo.
Mới gặp, mình ghét hắn ngay. Ghét thật tình. Con người thô bỉ, lì lợm. Mẹ bận hỏi han ông anh họ ngồi bên kia bàn, hắn đã thừa cơ tán tỉnh ráo riết. Gặp lần đầu tiên mà đã gọi người ta là em, xưng anh ngọt xớt! Em đẹp quá, anh chưa thấy ai đẹp bằng, anh giới thiệu đi thi hoa hậu nhé, chắc chắn đoạt giải, tiếp theo sẽ đi đóng phim, minh tinh màn bạc, làm người yêu của lính viết thư tình trên ba lô nặng trĩu. Ăn nói ba hoa, nói cho có nói, chẳng nhằm nhò gì cả, chẳng trúng trật đâu vào đâu. Mẹ chợt ngoảnh mặt chú ý lắng nghe thì cô sắp đi thi rồi hả, tôi có kinh nghiệm cứ tập trung vào mấy môn hệ số 3 là đậu ngay; mẹ vừa quay qua lục lọi trong giỏ mấy món đồ ăn mang ra, thì lại hạ giọng em cười một tiếng đi, đừng bẽn lẽn nữa, hay muốn đóng vai nàng tiên câm. Vừa nói vừa cười mỉm, nhách cái mép qua phía trái một cách đểu đểu. Cứ tưởng bở. Người ta không nói gì không có nghĩa người ta đã “chịu tốt một bề”, hay người ta thích nghe. Nhưng không lẽ mét mẹ. Thôi, mặc kệ nó, cứ việc nói tiếp đi, tai gần miệng thì tự nhiên đón nghe trước hết mọi lời nói của mình, cái thứ tiếng Huế đàn ông trọ trẹ khó nghe, khó lọt được vào tai người khác. Con gái Huế nói còn nghe được. Mỏi miệng chưa, tốp đi, đồ cà chớn.
Cuộc sống tại thành phố biển này luôn luôn mang một dáng dấp êm đềm, hiền hòa, dù đất nước đang có chiến tranh, dù làn sóng đỏ tuồng như đang muốn lăm le tràn đến, dù mọi người đều được thông tin về những trận đánh lớn, đánh nhỏ ở Vùng Một xa xôi, hoặc ở Cao Nguyên tiếp giáp với Lào, Miên, hoặc ở vùng Bình Long, An Lộc, hoặc ngay cả ở khu Đồng Bò cách thành phố không xa. Đứng trên lầu cao, nhìn về phía Đồng Bò, có khi thấy máy bay oanh tạc, khói nổi lên từng đám. Thuận gió có thể nghe tiếng nổ như tiếng sấm xa. Đánh ác liệt rồi đánh lai rai. Rồi thôi đánh. Rồi lại đánh. Quân Miền Bắc chắc chắn đã thuộc lòng câu nói nổi tiếng của người đồng chí lớn của họ, của người thầy của họ, là Mao Trạch Đông, “Địch đánh ta chạy, địch chạy ta đuổi.” Đánh nhau lâu quá, 10 năm, rồi 20 năm, rồi còn thêm bao lâu nữa. Đâm nhàm. Tiền tuyến cứ việc giết nhau, bên nào cũng bảo đối phương thiệt hại nặng, chết vô số kể, chiến tranh sắp chấm dứt, phần thắng tất về bên ta. Hậu phương cứ việc lo bon chen làm ăn kiếm sống, ngày lại ngày. Tưởng cứ vậy cho đến lúc tận thế!
Bỗng dưng cao nguyên mất, miền tuyến đầu tan vỡ, các tỉnh bắc Trung Phần thất thủ. Rồi Nha Trang bỏ ngõ. Nhiều đơn vị trong quân đội rút đi, nhiều đơn vị khác như rắn không đầu. Cộng quân tiến vào Nha Trang như có như không. Như những giấc mộng dữ để mong sáng ngày mai thức dậy thấy cuộc đời vẫn êm trôi, vẫn như xưa. Nhưng không phải thế, không phải mộng mị gì cả, mà là sự thực nằm lù lù ra đó. Đau đớn. Phẫn uất.
Gia đình Trân, khá giả, gồm cha mẹ, người em trai và Trân, đã kịp dọn nhà vào Sài Gòn khá sớm, cùng một lúc với Nhà Hàng Cơm Tây Frégate nổi tiếng của Nha Trang. Nhà hàng này mở lại tại Sài Gòn trong một thời gian ngắn rồi đóng cửa. Tạo và Hưng, tên anh chàng ba hoa đó cùng một số đồng đội cũng đã lánh vào Nam trước khi Nha Trang bị tràn ngập. Thật ra Hưng đã tìm mọi cách đi ngược ra Trung tìm gia đình, nhưng không thể nào kịp. Rồi 30 tháng Tư, mọi thứ sụp đổ.
Tháng Năm, Tạo và Hưng, cùng tất cả sỹ quan cấp úy, hàng trăm ngàn người, được lệnh trình diện học tập cải tạo tại nhiều nơi, thường là những trường trung học ở Sài Gòn được chuyển thành trung tâm tiếp nhận. Hưng vẫn chưa có tin tức gì từ gia đình ngoài Trung, tính toán rằng sau 10 ngày đi “Cải Tạo” như thông cáo của nhà cầm quyền, sẽ trở về quê. Làm lại cuộc đời của người bại trận. Sỹ quan cấp tướng và tá, hoặc những người bị xem là nguy hiểm cho chế độ thì đã phải trình diện cách đấy gần một tháng rồi, và bị đưa đi xa tận ngoài Bắc. Chưa thấy người nào được thả.
Tạo và Hưng rủ nhau đi trình diện cùng một nơi cho có bạn. Hai người bạn cùng một số đông bị lùa lên những xe bịt bùng chạy lên Trảng Lớn thuộc tỉnh Tây Ninh. Những người khác bị đưa đi những nơi khác như Long Thành, Suối Máu, Phước Long... Thân nhân của những người gọi là đi học tập cải tạo hoàn toàn không nhận được tin tức nào cả. Ba bốn tháng sau tù cải tạo được viết thư gởi về nhà. Một năm sau, thăm nuôi.
Tạo không còn gia đình, mẹ Trân đi thăm, kéo theo Trân. Hai mẹ con lặn lội, nào cuốc bộ những quãng đường dài, nào chen nhau lên những chiếc xe lôi xộc xệch cà tàng, nào đáp mấy chuyến xe đò dơ dáy và chật như nêm, chí rận từ những hành khách hôi hám đứng kế, thường không có chỗ ngồi, bò qua tóc, qua cổ hai mẹ con nhột nhạt, ngứa ngáy. Tại nhiều đoạn đường, hai mẹ con bị xô, lấn, chật quá, đứng hỏng cẳng, chân không chạm sàn xe từng quãng dài. Cuối cùng họ cũng tới được Trảng Lớn, Tây Ninh.
Tạo gầy đét, mặt mày hốc hác, áo quần lôi thôi, lếch thếch. Và lầm lì suốt cả buổi thăm viếng. Mới hơn một năm, Trân áng chừng Tạo đã mất đi gần 50 kí lô. Mãi đến khi gần hết giờ thăm nuôi, anh mới mở miệng năn nỉ Dì và Trân giúp đỡ Hưng, người bạn có ơn lớn với Tạo. Hưng không liên lạc được với gia đình, không có ai thăm nuôi cả. Mẹ Trân và Trân đồng ý làm công việc đó.
Kỳ thăm nuôi kế tiếp, mẹ và Trân lỉnh kỉnh mang các thứ cho cả hai người, Tạo và Hưng. Nhưng cuối cùng chỉ được phép mang vào gói quà cho Hưng. Hưng trông còn tệ hơn Tạo nhiều. Anh ốm yếu, xanh xao, buồn bã. Mẹ không thể nào nhận ra Hưng. Anh mất hết những nét liến thoắng, linh động, mất cả những chuỗi nói, tràng cười luôn miệng. Trân phải nhìn chăm chú khá lâu cho đến khi thấy cái nhếch mép sau nụ cười gượng gạo mới nhận ra được những nét quen quen nơi Hưng. Chỉ được phép nói chuyện với nhau trong vòng nửa tiếng theo nội quy, mẹ và Trân phải ra về.
Tại sao không được mang quà cho Tạo? Thì ra họ đã tổ chức trốn trại. Sau này Hưng kể cho Trân nghe về câu chuyện trốn trại của Tạo, Hưng và hai người tù khác. Câu chuyện sống mãi trong trí nhớ của Trân.
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Góp ý

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ

ĐÀNH LÒNG SỐNG TRONG PHÒNG ĐỢI CỦA LỊCH SỬ
Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền - Lý Đợi, Đặng Thơ Thơ, Mặc Lâm thực hiện

Giới thiệu

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN

DƯỚI RẶNG SAN HÔ BỊ CHÔN VÙI, TÔI NHÌN THẤY BIỂN
Thơ Nguyễn Man Nhiên

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)