Tìm kiếm Blog này

Lê Anh Tuấn (*) - Hạn, mặn ở ĐBSCL: Có nên trông chờ vào thuỷ điện TQ?

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Diện tích lúa bị thiệt hại ở nhiều địa phương tăng lên rất nhanh. Trong ảnh là một ruộng lúa bị ảnh hưởng bởi hạn, mặn ở ĐBSCL. - Ảnh: Trung Chánh
(TBKTSG Online) - Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với trận khô hạn nặng nề nhất trong khoảng 100 năm qua. Nước mặn theo thủy triều từ Biển Đông và Biển Tây đang một ngày tiến sâu hơn vào đất liền làm ít nhất 40% diện tích tự nhiên vùng đồng bằng bị xâm nhập mặn.

Đã có ít nhất 8 tỉnh ở ĐBSCL công bố thiên tai xâm nhập mặn. Nhiều nơi như Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang người dân chưa hề quen với hơi mặn của nước biển, nay bắt đầu nhận thấy vị lờ lợ cuả muối trong nguồn nước. Rất nhiều cuộc họp khẩn trương bàn biện pháp giải cứu hạn – mặn. Các phương tiện truyền thông cả nước gần như hằng ngày đã liên tục cập nhật tình hình khô hạn này. Cũng khá nhiều nhà khoa học tìm cách lý giải nguyên nhân của hiện tượng khô nóng bất thường như năm nay, cả lập luận nghiêng về thiên tai lẫn nhân tai, hoặc cả hai.


Một thông tin mới nhất là ngày 14-3 vừa qua, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Phạm Thu Hằng, cho biết Việt Nam đã đề nghị phía Trung Quốc gia tăng lưu lượng xả nước từ thủy điện Cảnh Hồng (Vân Nam, Trung Quốc) xuống hạ lưu sông Mê Kông để khắc phục tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại một số tỉnh ĐBSCL. Lượng nước xả theo yêu cầu là nhiều đợt từ tháng 3 đến tháng 6, tháng 8, mỗi đợt kéo dài khoảng 7 ngày với lưu lượng tối thiểu là 2.300 m3/s.
Thông tin ngày 16-3 của phát ngôn viên Lục Khảng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, do Xinhua dẫn tin, cho biết họ sẽ xả nước từ hồ chứa Nhà máy Thuỷ điện Cảnh Hồng từ ngày 15-3 tới ngày 10-4. Thông tin không nói rõ là Trung Quốc sẽ xả bao nhiêu nước và có phải xả liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian trên. Thực tế xưa nay, tin tức và số liệu thủy văn từ phía Trung Quốc bao giờ cũng là những con số rời rạc và mơ hồ cho các nước phía hạ nguồn sông Mê Kông như vậy.
Đoạn thượng nguồn sông Mê Kông, theo tên gọi của Trung Quốc là sông Lan Thương (Lancang), đóng góp hằng năm khoảng 21% tổng lượng nước xuống vùng trung và hạ lưu sông Mê Kông, trong đó phân bố xấp xỉ 16% vào mùa mưa và 24,1% vào mùa khô (số liệu của MRC, 2003). Xin lưu ý đến con số 21% này!
Đập nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc là đập thủy điện gần Lào nhất hiện nay, phía trên đó còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập thủy điện mà Trung Quốc có kế hoạch phát triển ở vùng này.
Đập Cảnh Hồng cao 108 mét, có chiều dài 705 mét, ngăn sông Lan Thương. Hồ chứa của nhà máy thủy điện này có diện tích mặt thoáng khoảng 510 km2, dung tích hữu dụng để phát điện là 249 triệu mét khối nước. Nhà máy vận hành với chế độ điều tiết theo mùa, nghĩa là nước sẽ được tích chủ yếu vào mùa mưa và sẽ sử dụng dần vào mùa khô trong năm theo một lịch vận hành dựa vào nhu cầu sử dụng điện của Trung Quốc. Hiện nay, hầu hết các hồ chứa thủy điện ở vùng Vân Nam đang trong tình trạng ít nước do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino hoành hành ở cả khu vực Đông Nam Á và một phần phía Tây Nam Trung Quốc.
Giả sử hồ chứa Cảnh Hồng đang trong tình trạng lý tưởng là đầy nước tối đa với dung tích phát điện là 249 triệu m3 nước, nếu xả theo yêu cầu của Việt nam là tối thiểu 2.300 m3/s thì chỉ sau 30 giờ là cạn hồ. Như vậy chỉ sau hơn một ngày xả nước là hồ hết nước, lấy đâu ra mà xả tiếp mấy ngày sau như yêu cầu xả nước 7 ngày liên tiếp? Lưu lượng đến hồ Cảnh Hồng hiện nay rất ít. Do vậy mong đợi việc xả nước thủy điện từ đập Cảnh Hồng để cứu hạn cho ĐBSCL là rất mong manh.
Việc Bộ Ngoại giao Việt Nam yều cầu Trung Quốc xả lũ cứu hạn mặn ở ĐBSCL, theo tôi, đây là việc "lợi bất cập hại" vì các lý do sau:
1 - Chắc gì Trung Quốc không lợi dụng yêu cầu này để tuyên truyền theo kiểu là thủy điện của họ đã cứu người dân ĐBSCL và các nước hạ lưu Mê Kông? Nếu Trung Quốc xả nước, chắc chắn là họ xả cầm chừng, cho có lệ, vì họ cũng cần nước để phát điện cho các tháng mùa khô kế tiếp.
Và với hơn 4.000 km từ đó xuống ĐBSCL, chẳng lẽ Thái Lan, Lào, Campuchia không "hớt" trước lượng nước chảy qua lãnh thổ của họ trước khi nước đến được vùng ven biển ĐBSCL? Các vùng trũng, dòng nhánh, khu Biển Hồ, các vùng đất ngập nước rất rộng lớn dọc theo lưu vực sẽ tiếp tục gom các nước còn thừa, dòng chảy đến ĐBSCL còn được bao nhiêu?
2 - Hầu hết các vùng canh tác lúa, hoa màu hiện nay ở ven biển đã bị thiệt hại gần hết rồi, đưa một lượng nước ít ỏi như vậy vào chẳng cứu được bao nhiêu và không còn ý nghĩa nữa. Nếu như sau thời gian 10-4, Trung Quốc không xả nước tiếp nữa (vì thời gian này trong khu vực hoàn toàn không còn có giọt mưa nào, ít nhất cho đến đầu tháng 5) thì việc khô hạn sẽ lập lại nặng nề hơn.
Ở nhiều nước khác, kể cả những quốc gia phát triển trên thế giới như Mỹ, Úc, … khi có hiện tượng khô hạn nặng xảy ra, họ đều chấp nhận sự thiệt hại, không dùng mọi biện pháp tốn kém quá mức để chuyển nước từ những khác đến để cứu hạn hán vì lúc đó hiệu quả kinh tế rất thấp, không có ý nghĩa. Các nước này đều có những quỹ phòng tránh thiên tai và cứu trợ khẩn cấp, các quỹ này thực tế là nguồn thuế đóng góp của người dân từ nhiều năm được mùa, làm nên ăn ra, dùng cho những năm khó khăn, thiên tai.
Trong hoàn cảnh Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, khô hạn và xâm nhập mặn năm nay, dù rất nghiêm trọng nhưng cũng là cơ hội, là một thước đo kinh nghiệm để rà soát lại chính xác những phỏng đoán biến đổi khí hậu và nước biển dâng, những đánh giá trước đó về những tác động mọi mặt của chuỗi các đập thủy điện ở thượng nguồn và phân tích tính hiệu quả của những công trình thủy lợi như thoát lũ ra Biển Tây, ngọt hóa vùng ven biển, công trình đê biển, mở rộng đê bao tăng diện tích lúa ba vụ ở hai hồ chứa nước lũ tự nhiên lớn nhất của vùng châu thổ Cửu Long là Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười cũng như việc thu hẹp các vùng đất ngập nước quý giá.
Việc suy nghĩ chuyển đổi chủ trương sản xuất lúa, màu hoặc các phương án sản xuất tiêu thụ nhiều nước qua nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn cũng rất cần nghiêm túc xem xét, cả về chính sách, kinh tế - kỹ thuật và điều kiện xã hội cho người dân.
(*) Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)