Tìm kiếm Blog này

Tam-Ðảo Do-Kỷ-Phu (Mishima Yukio) - Mối Tình của Thầy Tăng Chùa Chí Hạ (Chí Hạ Tự Thượng Nhân chi Luyến)

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Nguyễn Văn Thực dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Ảnh minh họa truyện này, do Plamya Koldovski vẽ.

Lời người dịch: Tam-Ðảo Do-Kỷ-Phu, sinh năm 1925, trong một gia đình công chức. Cha của ông không thích thú gì chuyện văn chương. Ông tốt nghiệp trung học vào hạng ưu. Học đại học Ðông Kinh. Tốt nghiệp, làm việc ở bộ tài chánh, nhưng chỉ một năm sau, ông bỏ hẳn nghề và dành toàn thời cho việc làm văn chương. Ông may gặp nhà văn lớn Xuyên-Ðoan Khang-Thành (Kawataba Yasunari) và được nhà văn này giới thiệu các truyện ngắn của ông cho các tạp chí lớn.Tác phẩm khẳng định tài năng của ông là cuốn ”Lời tự thú của cái mặt nạ”, (1949); nói về chuyện đồng tính luyến ái của chính ông và về những gai góc khi phải sống trong xã hội với tính cách tính dục như thế.Tác phẩm nổi tiếng khác như ”Chùa Kim Các”, viết về một chuyện có thật xảy ra năm 1950: Một sa môn trẻ tu ở chùa Kim Các, vì giận mình quá xấu xí, và để ngăn cho chùa khỏi rơi vào tay ngoại nhân trong thời kỳ Mỹ chiếm đóng nước Nhật, sa môn ấy đã đốt chùa. Ngoài ra còn có bộ tiểu thuyết trường thiên ”Sự giàu có của biển” gồm 4 cuốn. Các tác phẩm khác: ”Tiếng sóng”, ”Khát tình”, ”Sau bữa tiệc”... Tất cả gồm 40 cuốn tiểu thuyết và nhiều truyện ngắn. Ngoài ra, ông còn làm thơ; viết văn nghị luận; viết kịch theo lối Tây, và viết lại các tuồng tích cổ điển lại thành kịch loại mới.Toàn tập của ông gồm 35 tập, mỗi tập dày khoảng 650 trang, Ðông Kinh, 1973. Truyện ngắn sau đây lấy từ Toàn tập này. Tôi cũng thử dùng tiếng nôm na để dịch các thuật ngữ Phật học ông dùng trong truyện, nhưng vẫn ghi phần chữ Hán-Việt cho quí bạn đọc, vì quen dùng hay vì lý do nào đó, thích thuật ngữ Hán-Việt hơn.Văn ông giàu hình ảnh, trau chuốt, hoa mỹ, đôi lúc quá tay, đâm ra tối nghĩa, hoa hoè hoa sói; lại viết văn mà như làm thơ, ít theo qui tắc văn phạm thông thường, nên đòi hỏi những người đọc, người dịch phải đóng góp phần mình khi đọc, khi dịch.
Nhưng thế hệ trẻ lại thích bút pháp như thế của ông. Tới thập niên 60, người Nhật bớt ưa chuộng văn ông, nhưng ở Âu Mỹ người ta vẫn tiếp tục hâm mộ, và người ta vẫn còn bình phẩm nhiều cho tới ngày nay. Ông được kể là một trong những nhà văn hàng đầu của Nhật, và được đề cử tranh giải Nobel văn chương 3 lần.Trong những tác phẩm mang tính tự truyện, người ta thấy ông hoang tưởng nhiều về sức mạnh nam nhi; ông còn đề cập nhiều về thể xác khoẻ, đẹp, về sự tàn tạ của thân thể. Ông tập thể dục để có thân hình đẹp; còn là người giỏi võ Không thủ đạo, và Kiếm đạo. Ông cổ võ lòng yêu nước kiểu thời kỳ quân chủ đế quốc trước Thế chiến thứ hai; muốn phục hồi tinh thần võ sĩ đạo và tác phong hiệp khách (xamưrai). Ông chiêu dụ được 100 thanh niên, lập thành một đội quân tư. Ðội quân này, năm 1970, dưới sự chỉ huy của ông, đã chiếm được một số căn cứ quân sự của Nhật. Nhưng, thất bại, ông mổ bụng tự tử bằng thanh kiếm của chính ông, theo tinh thần võ sĩ đạo mà ông muốn phục hồi.Tuy nhiên, ông lại thích mặc đồ Tây, ở nhà Tây. / NVT.

1.
Dù đây không phải là một bài khảo cứu, tôi vẫn nghĩ là tôi sẽ không tránh khỏi những lời thóa mạ, vu khống. Truyện này viết dựa theo mục Ký thuật truyền thuyết, tập thứ 37, của tác phẩm Thái bình ký. Theo ý kiến chung chung của người đời thì khi so sánh truyện viết về thầy tăng chùa Chí Hạ, người Nhật, nơi tác phẩm này, với truyện kể về Nhất Giác Tín Nhân, người Thiên Trúc, truyện thầy chùa Nhật chỉ là một truyện đơn giản. Dù truyện tình này có vẻ đặc biệt, nhưng cái hay ho lại chính ở diễn biến đơn giản về mặt tâm lý của truyện. Và tình yêu và tôn giáo cũng được đề cập đến trong truyện. Ở phương Tây người ta nói nhiều về những chuyện như thế; không như ở Nhật.  Người đời sau có lẽ sẽ nói về nhiều vấn đề, và những vấn đề này phải có khuôn mặt tình yêu dự vào. Người đời nay và người đời sau không phải sẽ chỉ tranh luận về chuyện thầy chùa, mà còn về chuyện người nữ yêu đương. Xin đại ngôn một chút: Cơ cấu của thế giới sẽ sụp đổ hay không còn tùy vào sự suy nghĩ của người sống trong thế giới ấy. Câu truyện tình này được hình thành theo ý hướng đó. Thực ra, phái Cõi sạch (Tịnh độ tông) (1) cực thịnh từ giữa thời Bình An (2); và nói cho đúng ra, tín ngưỡng là một cái nhìn mới, khá lớn, về thế giới ta nhìn, ta suy nghĩ.
 Theo Vãng sinh yếu tập, trong bộ sách Huệ tín tăng đô, nếu so với Cõi sạch, Mười điều sướng chỉ là một sợi lông của chín con trâu. Mười điều sướng đó là: 1. sướng vì thánh nhân đến đón rước; 2. sướng vì hoa sen nở; 3. sướng vì xác được thông với thần; 4. sướng vì thấy năm cảnh lạ kỳ; 5. sướng vì vui vẻ không dứt; 6. sướng vì có duyên nợ mà được chắp nối với nhau; 7. sướng vì gặp gỡ các thánh; 8. sướng vì thấy được Phật và nghe được Lẽ lớn (Pháp); 9. sướng vì theo Phật tùy thích; 10. sướng vì Ðường của Phật được lớn mạnh.
Nơi Cõi sạch ấy, đất là ngọc lưu ly; đường được phân chia ra bằng những sợi chỉ vàng ròng; mặt đất bằng phẳng, bao la. Trong mỗi vùng lại có 5 triệu cung điện, lầu gác làm bằng các loại đá quí. Có các tấm trải giường lạ lùng trải trên các giường làm bằng bảy món quí: vàng, bạc, ngọc lưu ly, ngọc bì ly, xà cừ, đá mã não, ngọc trai, san hô. Nhiều người nhà trời đánh đàn trên các cung điện, lầu các đó, và vừa hát vừa cười nụ Như lai. Trong vườn của các giảng đường, tịnh xá, cung điện, lầu gác, đều có hồ tắm. Sỏi bạc ròng dưới đáy hồ vàng. Sỏi ngọc thủy xương nơi đáy hồ lưu ly. Ánh sáng trải trên hoa sen rực rỡ nơi mặt hồ. Gió nhẹ thổi qua, hoa linh loạn. Lại còn vịt, chim oanh, công, chim sẻ, vẹt, chim ca-lăng-tầm-già (loại chim có mặt đẹp như mỹ nữ và có giọng hót hay) và các thứ chim màu sặc sỡ  khác. Chúng hót cả ngày cả đêm không ngớt. (Dù giọng hót có êm đềm cỡ nào đi nữa, mà các loại chim đều cùng hót, có lẽ rồi cũng ồn lắm!) Cạnh bờ hồ và nơi những chòm cây ven sông còn có những loại cây qúi; thân vàng, cành bạc, hoa san hô in hình nơi mặt gương hồ. Thinh không giăng giăng sợi quí, và nơi những sợi đó có treo các chuông quí và những nhạc cụ tuyệt vời không đánh mà kêu lên những âm thanh diễn tả Lẽ lớn diệu kỳ.
Còn nếu muốn ăn, bàn thất bảo tự nhiên hiện ra trước mắt, và những thức ăn ngon sẵn đầy trong chén thất bảo. Rồi cũng chẳng phải dùng tay mà ăn; chỉ nhìn thấy sắc, chỉ ngửi mùi thức ăn, xác và lòng trở nên sạch trong, mà bụng no, chất nuôi sống đã nhập vào xác mà chẳng phải làm cái việc ăn. Ăn xong, chén, bàn bỗng biến mất.
Quần áo cũng tự nhiên khoác vào thân mà chẳng phải may, giặt, nhuộm. Ðèn cũng chẳng cần, vì ánh sáng rỡ ràng nơi nơi. Cũng chẳng cần phòng ấm, phòng lạnh mà chi, vì khí hậu ấm áp quanh năm. Hương trăm loài tràn đầy không gian, và cánh sen rơi rơi không ngơi.
Lại nữa, nơi Vãng sinh yếu tập, ở mục Quan sát, có dạy rằng những kẻ suy xét với tấm lòng nguồn cội mà vẫn không thể đi sâu vào cõi lòng được, rồi tưởng tượng lại nổi lên, thì kẻ ấy phải hết sức hết lòng tập trung tư tưởng; và để nhìn được Phật, con đường ngắn nhất là phải dùng sức tưởng tượng hầu thoát ra khỏi những chiều kích của cõi thế này. Sức tưởng tượng quá đỗi lạ lùng đó hướng về và tập trung vào một cành hoa sen, và từ đó, sức tưởng tượng làm cho sen lớn rộng ra. Nếu nhìn dưới kính hiển vi, và nếu dùng kiến thức của thiên văn học mà suy, hoa sen ấy có lẽ sẽ trở thành nền tảng cho những bàn luận về vũ trụ; rồi hoa còn làm kẻ trung gian (cho chúng ta hiểu được chân lý). Nhưng điều phải nói trước tiên ở đây là nơi mỗi cánh hoa có tới 84 ngàn đường gân; ở nơi mỗi gân có 84 ngàn tia sáng. Cũng theo sách trên, hoa dù nhỏ đi nữa, chúng cũng có đường kính tới 250 do-quân, mà mỗi do-quân dài chừng 30 dặm Tàu (128km), như thế đường kính phải dài tới 7500 dặm Tàu (3018 km). 
Mỗi hoa sen lại có 84 ngàn cánh; nơi mỗi cánh có 5 triệu đá quí phát ra ngàn ngàn ánh sáng đủ loại. Rồi nơi đài hoa được tô điểm lộng lẫy ấy còn dựng đứng 4 cột cẩn đá quí. Mỗi cột cao gấp 84 ngàn lần núi Tu-di. Những tấm phướn treo trên những cột ấy có đính 5 triệu hạt ngọc trai; mỗi hạt có tới 84 ngàn loại tia sáng. Mỗi tia sáng lại có 84 ngàn ánh khác nhau; và các ánh lại quyện với nhau.
Kiểu tập trung trí tưởng tượng như thế gọi là ”phép nghĩ về toà hoa”. Những hình ảnh, ý tưởng làm nền cho truyện ngắn này, có tầm cỡ như vừa kể.

2.
Thầy tăng chùa Chí Hạ là một thầy tăng đức độ cao vời. Thầy, mày trắng, thân già yếu phải chống gậy, dáng đi chậm rãi.
  Cái gọi là cõi thế, một khi hiện trong con mắt của bậc thánh nhân tu học nức hương, thời nó chỉ là rác rến. Thời gian thầy ở trong am mà hiện nay thầy đang ở, thầy có trồng một cây thông; cây bây giờ ôm gió lộng trên đỉnh, trong thinh không cao cao. Cho nên, khi tiếp cận với một cõi thế đời đời phù ảo, thầy, với cái tâm của một bậc thánh, lòng vẫn lặng lẽ, cái  lặng lẽ của một đại trượng phu.
Khi thầy thấy những người giàu có, thầy lại cười, nụ cười xót thương; xót vì  tại sao họ không biết là những cái vui, cái sướng của chuyện giàu có chỉ là mộng mị. Khi gặp những người nữ nhan sắc mỹ miều, thầy lại thương những con người của thế giới mê lầm ấy: Họ sẽ còn mãi nổi trôi, vướng vấp muộn phiền.
Nếu người ta không còn đồng cảm với những lực đang vận hành cõi thế, thì trong phút giây đó, cõi thế sẽ chững lại. Trong mắt của thầy tăng, chỉ còn có cái cõi thế đang chững lại ấy. Cái cõi thế ấy chỉ là một bức tranh vẽ trên giấy, một loại bản đồ của một nước nào đó. Và một cõi lòng không còn vướng víu, cõi lòng ấy quên luôn những sợ hãi. Cho nên thầy tự hỏi: Như thế tại sao còn có địa ngục? Rõ ràng là cõi đời này chẳng làm gì được thầy nữa. Nhưng vì thầy không phải là một người kiêu ngạo, thầy không bao giờ nghĩ  thầy được như thế là do đức độ của thầy.
Và nơi thầy, chuyện ham muốn xác thịt hầu như mất hẳn. Những khi trong phòng tắm, thầy vui sướng khi thấy thân xác mình chỉ còn da bọc xương. Vì thân xác đã ra như thế, thầy không còn cần ứng xử gì đối với nó, như trường hợp những người khác. Xác thân đã ra như vậy, thì chỉ có đồ ăn, thức uống của Cõi sạch xem ra mới thích hợp cho thầy.
Mộng mị đêm đêm ư? Thầy chẳng mộng gì khác hơn là mộng về Cõi sạch. Khi mở mắt ra, thầy thấy và thương xót cho con người sống nơi cõi thế này, vướng víu vào giấc mộng không-thường-còn.
Xuân về, khí lành, hoa nở, nhiều khách kinh đô đến thăm làng Chí Hạ. Thầy cũng chẳng vì thế thấy phiền hà gì, vì nay lòng thầy không còn bối rối chuyện loài người. Thầy chống gậy, từ am cỏ đi ra. Thầy đi đến vùng quanh hồ. Vào khoảnh khắc ấy ánh chiều khoan thai rọi vào vùng nắng sau giờ ngọ. Thầy đứng một mình bên hồ sóng lặng tăm. Thầy đang thực hành phép nhìn nghĩ về nước (3). Vào lúc ấy có một chiếc xe của hạng người quyền qúi chạy rảo quanh hồ, rồi ngừng cạnh bờ hồ, chỗ thầy tăng đang đứng. Chủ nhân của xe là quí phi, xuất thân từ Kinh Cực. Nàng đến Chí Hạ để ngắm cảnh. Và để nói lời từ biệt với cảnh vật quanh hồ, nàng vén rèm lên.
Thầy tăng bất giác thấy nàng như thế, và thầy bị choáng váng vì cái nhan sắc đẹp đẽ của nàng. Qúi phi và thầy tăng, bốn mắt một thoáng gặp nhau. Thầy, mắt chẳng rời, và quí phi, mắt cũng không quay đi. Ðó không phải là một người dung tục có cái nhìn vô lễ. Tuy kẻ nhìn đó là một lão tăng rõi theo giáo pháp của Phật, nàng vẫn đâm ngờ ý nghĩa của cái nhìn ngưng đọng trên nàng như vậy.
Nàng ngay lập tức hạ rèm xuống. Xe chuyển bánh rời xa, qua hẻm núi Chí Hạ, xa dần về hướng đường dẫn tới kinh đô, rồi xe theo dọc đường chùa Ngân Các nhập kinh. Xe đã khuất nẻo sau rừng cây mà thầy tăng vẫn còn đứng.
Cõi thế này, với một sức mạnh khủng khiếp, đã quật ngã thầy tăng trong nháy mắt. Cái cảm nghĩ về một đấng trượng phu giờ đã tan tành như ngói vỡ.
Khi về đến am, thầy quay mặt về đấng Thế Tôn và ra sức kêu lên tên Phật. Nhưng hình ảnh nghĩ ngợi lung tung cứ mãi đeo đẳng, quấy quả. Cái nhan sắc ấy là bóng dáng khói sương, là hiện tượng nhất thời của một xác thân sẽ bị tiêu diệt. Nghĩ thế thì cứ nghĩ, nhưng sức mạnh của cái khoảng khắc ấy đã đánh mạnh trái tim thầy, vì khuôn mặt tuyệt đẹp ấy có cái gì đó thật hiếm hoi, thật xa vời. Thầy chẳng còn trẻ mỏ gì, nhưng cái chuyện động lòng ấy, dù có khoác cái danh nghĩa gì đi nữa, nó vẫn là trò quái quỉ của xác thịt bừng bừng. Nhưng xác thịt, dầu gì đi nữa, trong nháy mắt, cũng sẽ biến mất. Nói cho đúng hơn, thầy tăng như bỗng tắm trong thuốc độc, và tinh thần thầy đột nhiên biến chất. Thầy tăng nào có phá giới. Trong thời trai trẻ, thầy đã chống trả với chước cám dỗ đó, và coi người nữ chẳng qua là một cục thịt. Cái  cục thịt ấy, trong trí tưởng của thầy là một cục thịt tinh ròng.  Xác thịt không gì khác hơn là một hiện hữu hoàn toàn nằm trong ý niệm để rồi ta bắt nó khuất phục. Thầy đã dựa trên sức mạnh tinh thần; và thầy đã thành công. Trong những người biết thầy, không một ai nghi ngờ về thành thích của thầy. Nhưng cái dung nhan của người nữ vén rèm ngắm hồ hôm nọ, cái hiện hữu mười phân vẹn mười đượm ánh sáng huy hoàng ấy, thầy không biết lấy tên gì để gọi cục thịt đó cho đúng. Thầy chỉ nghĩ rằng, để đem đến cho thầy giây phút hiếm có đang xảy trước mắt ấy, một cái gì đó bấy nay cứ lừa, cứ giấu quanh thầy, nay bắt đầu lộ hình lộ tướng trong lòng thầy. Cõi đời này chính là cõi đời lâu nay đã bị chững lại, rồi bỗng nhiên như từ trong tranh, nó hiện ra và bắt đầu động đậy. Giống như khi đứng nơi ngã tư đường lớn Kinh Ðô ngựa xe dập dìu, người ta lấy tay bịt tai lại, và bỗng nhiên thả tay ra, thế là tiếng huyên náo lại ào ào xô vào tai.
Va chạm vào giòng chuyển, nghe được những âm thanh ấy, như thế là đã hội nhập vòng tròn đời nầy. Dù người ta có cắt đứt với mọi mối liên hệ, cuối cùng lại vẫn cứ trói mình vào những liên hệ này khác.
Cả khi xem kinh sách, thầy vẫn cứ buông tiếng thở dài nhẫn nhục không biết bao nhiêu lần. Thầy ngẫm nghĩ, liệu cái tự nhiên ấy đang phân mảnh lòng mình hay sao đây. Vời trông mây vắt rặng núi chiều hôm, lòng thầy chỉ làm rối rắm hình tượng mây và lòng mê mải trôi theo giòng mây. Khi nhìn trăng, ý nghĩ thầy lại đi hoang như trước. Thầy quay về với đấng Thế Tôn và đinh ninh mình đang lọc cho trong lòng mình, nhưng khuôn mặt của Phật, khuôn mặt ngài lại thấp thoáng dung nhan nàng quí phi. Cái cõi thế của thầy đã nhập vào vòng tròn nhỏ; ở một điểm đằng này của vòng tròn là thầy tăng, và đằng điểm kia là quí phi.

3.
Nàng quí phi người quê Kinh Cực đó đã quên bẵng chuyện thầy tăng đứng cạnh hồ ngắm nhìn dung nhan của nàng.
Nhưng rồi đã bắt đầu có tin đồn đãi, và nó làm nàng nhớ tới chuyện cũ. Có người dân làng Chí Hạ đã thấy bóng dáng thầy tăng vời theo bóng xe quí phi. Người đó đã kể lại chuyện ấy cho một vị quan trong triều, nhân dịp quan đến làng ngắm hoa; và kẻ ấy còn bảo là từ độ ấy thầy tăng như điên như cuồng. Quí phi làm ra cái vẻ mình chẳng hay biết gì về chuyện người ta đồn đãi. Và vì thầy vốn nức danh đức độ, cái tin đồn ấy lại càng làm cho quí phi thêm kiêu kỳ, bởi nàng đã quá chán chường chuyện ong bướm thế thường. Nàng biết rõ mười mươi về sắc đẹp của mình; nhưng nàng lại bị lôi cuốn bởi những sức mạnh dám coi sắc đẹp là vô giá trị, cho nên chẳng lạ gì nàng đã trở nên một tín nữ nhiệt thành tin vào đạo pháp. Vì có khuynh hướng mãnh liệt xa lánh cõi thế như vậy, nên nàng đã theo phái Cõi sạch. Cái thuyết nhà Phật dạy rằng cõi đời rực rỡ, đẹp đẽ nầy chỉ là đất đai dơ dáy; thuyết ấy đã an ủi lòng nàng vốn chán chuyện vinh hoa mà người ta cứ nghĩ đó là hoa trái đời này.
Trong hàng những kẻ thích chuyện yêu đương, quí phi chính là một hiện thân tao nhã chốn cung đình. Cho nên, nàng đã không khấng ban tình yêu cho bất cứ ai. Nàng cao giá là ở chỗ đó. Ai cũng thấy là nàng chẳng yêu vua hết lòng. Nàng ước mơ có được khối tình si vượt mọi biên cương.
Thầy tăng chùa Chí Hạ đức độ cao với, tuổi trời đã cao. Ai cũng biết là thầy đã hoàn toàn từ bỏ cõi thế này. Và nếu tiếng ong tiếng ve có thật, thì như thế thầy đã quá mê cái nhan sắc của quí phi, và đành cam lòng hi sinh bỏ hết cõi đời sau. Chẳng có một sự hi sinh nào to lớn hơn thế, chẳng có một tặng vật hiến dâng nào vĩ đại như vậy.
Văn nhân tài tử chốn cung đình, chẳng ai rù quyến được nàng; và lòng nàng không mảy may xúc động trước cái vẻ hào hoa phong nhã của bọn vương tôn công tử. Nàng đau đáu tìm kiếm một người nam sẽ yêu nàng mãnh liệt, yêu nàng thâm sâu. Người nữ nào cứ ôm ấp trong lòng mình nỗi đau đáu chờ mong ấy, người nữ ấy là một kẻ đáng sợ. Nếu nàng chỉ là một cung phi tầm thường, phú quí đời này cũng là đủ cho nàng rồi. Nhưng nàng quí phi này tuy đã được mọi phú quí đời này, nàng còn chờ một người sẽ dâng nàng trọn phú quí của cả đời sau.
Nơi chốn cung đình chuyện đồn đãi thầy tăng chùa Chí Hạ mê quí phi càng ngày càng râm ran, và người ta nửa đừa nửa thật tâu cho vua biết.
Dĩ nhiên, nàng chẳng lấy gì làm vui, khi nghe những lời đàm tiếu đó, nhưng nàng vẫn làm mặt lạnh. Nàng biết rằng người ta thoải mái nói về chuyện ấy, hoặc để ca tụng cái nhan sắc đã làm mê muội được cả thầy tăng đức độ, hoặc để trấn an nhau là một mối tình giữa lão tăng và một nường quí phái như thế chẳng làm sao mà xảy ra được.
Riêng nàng, nàng còn nhớ rõ bản mặt của lão tăng khi nàng từ trong xe nhìn ra, nhưng mặt của ông ta không giống bất cứ mặt của người đàn ông nào mà nàng đã từng đem lòng luyến ái.
Thật là lạ lùng tình ái lại nẩy mầm được trong một người không có tư cách để yêu như thầy tăng. Thực ra nơi cung đình, hầu tìm kẻ tri âm, người ta hay đờn ca xướng họa những loại ca trù có tên là ”tình yêu vô vọng”; loại ca trù nầy nếu so với chuyện tình của thầy tăng, chúng chỉ là những bài biểu diễn về chuyện tình khơi khơi cạn kệch.
Ðọc tới đây, bạn đọc cũng đoán ra được đôi phần: Người nữ quyền qúi ấy là hoá thân của tao nhã, và nàng còn là người đàn bà rất thích được yêu vì. Làm quí phi cao trọng, quyền uy mà chẳng được ai yêu, thì mọi sự khác chỉ đáng vứt đi. Trong khi các đấng nam nhi kèn cựa nhau nơi chính trường, quí phi lại ước mơ chinh phục thế giới theo phương pháp của nàng, phương pháp thuần nữ tính. Nàng cười thầm những người đàn bà cạo đầu đi tu. Ðàn bà, người nào cũng vậy, tiếng là bỏ đời, nhưng họ chẳng bỏ gì ráo. Chỉ có bọn đàn ông con trai mới từ bỏ được những cái mình có. Lão tăng ấy ngày nọ đã dứt bỏ cuộc thế nổi trôi; thầy hơn xa những bậc công hầu khanh tướng. Thầy đã bỏ được cõi đời nổi trôi này, và giờ đây thầy lại rắp bỏ luôn cả cõi đời sau. Người nữ quí phái ấy vẫn còn nhớ trong lòng những ý nghĩ về hoa sen. Nàng thích đóa sen rất lớn ấy, lớn tới 250 do-tuần hơn là loài sen nở trước mắt. Rồi ví dụ như khi nghe gió luồn qua cây trong vườn nhà, và so sánh tiếng vàng rơi rụng từ ngàn cây trong Cõi sạch lúc gió thổi, nàng thấy âm thanh vườn mình chẳng hay ho gì. Và những lúc nghĩ tới những nhạc cụ treo lửng lơ giữa trời, chẳng đánh mà kêu, nàng thấy đờn với địch đời này chỉ là những mô phỏng tội nghiệp.

4.
Thầy tăng chùa Chí Hạ đã chiến đấu không ngừng. Thầy đã đấu tranh với xác thịt của tuổi thanh xuân hầu kiếm cho mình cái đời sau, nhưng, khi đã về già, thầy thấy cuộc chiến đầy tuyệt vọng ấy là một sự thất bại không cách gì cứu vãn được.
Cái chuyện yêu nàng quí phi quê Kinh Cực rõ ràng như ban ngày là chuyện chẳng làm được gì. Một khi vướng vào cái tình như thế, chắc chắn không có cách gì vào Cõi sạch được nữa. Thầy tăng đức độ lâu nay sống ung dung mình thiệt là mình, ngay tại cõi đời này, bỗng chốc bị bóng tối che phủ trên đường về. Cái dũng khí trong cuộc chiến đấu lăn lộn thời trai trẻ, vểnh mặt tự cấm mình, không được vướng vào những ham muốn mà nếu chàng thích, chúng vẫn còn đó đợi chàng, cái dũng khí ấy giờ này vẫn còn sống động nơi lão tăng.
Nhưng thầy vẫn lại sợ hãi; đấy là sự tỉnh táo coi chừng cái bóng tối sâu thẳm đời này, ở đấy người ta chẳng làm sao mà biết điều gì sẽ xảy ra ở một bước trước mặt mình. Mãi cho tới cái ngày chiếc xe ấy dừng bên bờ hồ Chí Hạ, thầy luôn tin rằng cái đang chờ đợi thầy không gì khác hơn là cõi Niết-bàn.
Lối suy nghĩ về đài hoa (5), lối suy nghĩ toàn thể (6), lối suy nghĩ từng phần (7), tất cả chỉ là chuyện phù phiếm. Mỗi khi thầy tập trung tư tưởng, dung nhan nàng quí phi lại hiện lên. Thầy nghĩ về nước nơi hồ, nhưng rồi cũng chỉ uổng công, bởi từ đáy nước lăn tăn, dung nhan quí phi lồ lộ hiện lên. Tập trung như thế quả là lợi bất cập hại, nên dù thầy có cố gắng cách mấy đi nữa, lòng thầy vẫn cứ phân tán, đầu thầy vẫn mãi mông lung. Quả thực chuyện tập trung tư tưởng chỉ tổ làm thầy rối rắm u mê. Thầy ngạc nhiên về điều này. Thầy nhận ra rằng có cố gắng tập trung cách mấy, cuối cùng mê muội lại hoàn mê muội. Lòng thầy ủ ê; thầy bèn nghĩ ra cách là cứ tập trung tư tưởng vào dung nhan của quí phi, thay vì  cứ chạy trốn rồi lại trốn chạy; làm như thế hẳn thầy sẽ được vui vẻ hơn.
Thầy cảm thấy sung sướng khi thầy điểm trang, nét này vẻ nọ, cho cái ảo ảnh của nàng quí phi. Làm như thế, thầy tạo được một hiện hữu càng ngày càng rực rỡ, nhưng càng ngày càng xa vời, càng ngày càng vuột ra khỏi tầm tay với. Không hiểu tại sao thầy vẫn cảm thấy sung sướng cho được, bởi chẳng thà mường tượng ra nàng quí phi có một xác thân người nữ là sà rất gần cõi thế, như thế còn tự nhiên hơn. Và dù đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, nhưng làm như thế quả là đỡ khổ gấp bội cho người đang yêu. 
Nghĩ ngợi như thế, và thầy vẽ ra được một hình ảnh của quí phi cho riêng mình, nhưng thầy thấy rằng nơi cái hình ảnh ấy, thịt xương chẳng ra thịt xương, ảo ảnh chẳng ra ảo ảnh. Nói đúng ra, thầy chỉ vẽ ra những nét tượng trưng cho những biểu hiện bên ngoài (8), những nét tượng trưng cho thể xác (9). Cất công đi tìm những nét tượng trưng như thế, thì thật là kỳ cục. Cao tăng đã bị hãm vào tình, vậy mà thầy vẫn không thoát ra khỏi cái khuynh hướng tu luyện hằng này, ấy là truy đuổi thân xác bằng cách trừu tượng hóa nó. Thế là nàng qúi phi ấy trở thành một ảo ảnh hình sen lớn tới 250 do-tuần; khi nghiêng mình trên những cánh hoa sen, nàng to hơn núi Tu-di, lớn hơn cả một nước.
Thực ra, thầy càng tuyệt vọng tạo ra một cõi tình như thế, thầy phản bội Phật càng đậm, vì một khi đã tạo ra tình mà đành bó tay, tình ấy đố gỡ cho ra. Yêu mà không được đáp trả, thời đâm ra nghĩ ngợi lung tung (10), ý bậy bạ (11) càng động đậy tợn. Trái lại, tình mà còn có cơ hi vọng, tình ấy mới dễ buông. Nhưng tình tuyệt vọng lại tựa như hồ nước tù đọng bao phủ mặt đất; và cảnh sắc chẳng còn thấy tuôn chảy tới lui trong hồ ấy nữa. Thầy những ước làm sao gặp lại được nàng quí phi cho thỏa lòng, nhưng rồi thầy lại đâm sợ hãi vì nếu gặp lại quí phi, cái ảo ảnh về hình tượng nàng lớn như đóa sen Cõi sạch sẽ bị vỡ tan mất dấu mất tăm. Nhưng nếu ảo ảnh ấy tan vỡ được, thầy quả thực sẽ được cứu, thầy sẽ được giải thoát khỏi tuồng ảo hóa đã bày ra đấy. Tuy nhiên một viễn tượng như thế vẫn làm thầy hãi hùng. Cái tình yêu đơn côi ấy cuối cùng đã bày ra những trò lừa lọc lạ lùng đến độ tình đánh lừa cả chính mình. Cho nên, khi thầy đi đến quyết định dứt khoát sẽ gặp quí phi, thầy cảm thấy như mình hầu như sắp thôi bệnh, cái loại bệnh thiêu đốt ruột gan. Quyết định ấy làm thầy vui khác thường; thầy cứ ngỡ đấy là niềm vui của một người đã thực sự thoát ra khỏi tình.

5.
Người qua kẻ lại không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy một lão tăng chống gậy-có-đầu-hình-bồ-câu đứng cạnh mép vườn của dinh thự nàng quí phi. Chẳng có gì lạ lùng cảnh mấy ông thầy chùa, những kẻ ăn mày đứng trước nhà quyền quí.
Ðám gái hầu bèn vào báo tin cho quí phi hay. Nàng vừa buồn cười vừa hé rèm nhìn ra hướng đó. Một lão tăng ủ rũ đứng cúi đầu trong bóng lá xanh non. Nàng chỉ nhìn một thoáng. Và khi nàng không còn có thể nghi ngờ gì nữa đấy là thầy tăng mà mình đã thấy dạo nọ bên bờ hồ Chí Hạ, mặt nàng chẳng vì thế mà biến sắc. Nàng ngần ngừ. Rồi chẳng biết mình phải dứt khoát làm gì, nàng ra lệnh cứ để mặc ông ấy đứng đó. Bọn gái hầu cúi đầu, lui ra.
Nàng bắt đầu cảm thấy bất an. Bây giờ lòng nàng mới như thế.
Nàng đã thấy nhiều người già từ bỏ đời này, nhưng cái loại người dám từ bỏ đời sau, giờ này nàng mới thấy. Cảnh tượng ấy thật chẳng lành, và khủng khiếp quá chừng. Nàng mất ngay cái sung sướng khi hoang tưởng về mối tình của thầy tăng, nếu thầy tăng vì nàng mà buông thả đời sau đi nữa. Và cái đời sau ấy nàng không còn chắc như bắp là sẽ lọt vào tay nàng. Nàng nhìn xuống xiêm y lộng lẫy và đôi tay đẹp của mình, rồi nhìn ra áo cà sa luộm thuộm và cái mặt già cỗi của ông thầy chùa xa xa ngoài vườn. Một cái gì đó như nỗi mê hoặc dấy lên từ địa ngục, nhưng cái mê hoặc đó khác với mộng lớn mà nàng đã từng mường tượng. Thầy trông như một người từ địa ngục chui lên. Cái dáng dấp của một con người đức độ cao vời kéo theo sau mình vạt hào quang Cõi sạch, con người ấy giờ này không còn nữa. Luồng ánh sáng từ thầy tỏa ra đã tắt ngấm. Ðúng là thầy tăng chùa Chí Hạ, nhưng dẫu sao ông vẫn giống như những người khác.
Là một người sống nơi cung điện, nàng có khuynh hướng coi chừng những chuyện làm mủi lòng. Những chuyện gây mủi lòng sờ sờ trước mắt, lại càng đặc biệt coi chừng. Thấy thầy tăng giàn trải trước mình mối tình sâu đậm đến mức như thế, dầu đấy là mối tình không có tình nào lớn hơn được nữa, mà mình hằng mơ ước, nàng vẫn thấy lòng mình bị sụp đổ khi hiện ra trước mắt mình một tấm hình hài quá đỗi tầm thường như thế.
Khi thầy từ từ chống gậy lên kinh, thầy quên hẳn nhọc mệt. Thầy rón rén vào dinh nàng quí phi quê Kinh Cực, và khi biết là người đàn bà mình yêu đang ở sau rèm kia, thầy mới tỉnh ra khỏi giấc mơ hoàn toàn giả tưởng.
Khi khối  tình si đang còn chưa ra hình ra dạng, cái đời sau lại bắt đầu mê hoặc thầy một lần nữa. Nhưng thầy vẫn cảm thấy Cõi sạch mà thầy tưởng tượng không hẳn là một cõi có thật. Nỗi khát khao về một Cõi sạch đã nắm bắt lấy những hình tượng của giác quan. Ðể cho tỉnh ra khỏi cái ý tưởng sai lầm cho đời này là một chướng ngại cho đời sau, thầy chỉ còn có nước gặp cho được quí phi và tỏ tình với nàng.  Chỉ có vậy mà thôi.
Thật là cay đắng khi thân già phải tì lên gậy mà đứng đó. Những tia nắng rỡ ràng tháng Năm luồn qua đám lá non đổ lên đầu thầy tăng. Thầy vẫn đứng đó; thầy vẫn mãi trông ngóng. Nếu lát nữa quí phi nhận ra thầy và triệu vời thầy vào, thầy không còn phải chịu đựng thủ tục chờ đợi như thế nầy nữa. Ðược như thế, tất Cõi sạch sẽ mở cửa và chờ đợi thầy trong ấy. Thầy chờ. Thầy chống gậy, để trụ lại cái mệt mã; và đầu óc thầy dường như cũng bắt đầu lùng bùng mông lung. Mây che dần nắng. Hoàng hôn về. Ðã tối rồi mà chẳng nghe âm hao gì từ quí phi.
Phần quí phi, nàng chẳng hề hay biết gì chuyện thầy tăng đang tưởng tượng về Cõi sạch xuyên qua thân nàng. Nàng nhìn thầy qua rèm chẳng biết bao lần mà kể. Thầy đang đứng đó. Nắng đổ nghiêng nghiêng. Thầy vẫn đứng đó.
Nàng sợ, bởi nàng cảm thấy như đang đứng trước một sinh linh đang bám chặt vào hư ảo. Nàng còn sợ phải sa địa ngục. Trù quyến một thầy tăng đức độ cao vời như thế nhất định không thể vào được Cõi sạch. Nàng bị chấn động bởi cái người đời thường sợ: sợ địa ngục sẽ chào đón mình. Cái tình yêu tuyệt đối mà bấy nay nàng mơ mộng, giờ đã vỡ tan. Tình yêu, ấy là địa ngục. Khi nàng đối diện với thầy, nàng thấy, qua thầy, cái cõi địa ngục ấy.
Nhưng người đàn bá quí phái ấy lại giỏi chiến đấu chống lại sợ hãi. Chí khí vùng lên. Nàng sử dụng đến cái tàn nhẫn tự nhiên còn mai phục trong nàng. Ông thầy chùa đến một lúc nào đó có lẽ cũng sẽ sụm, và cho tới khi sụm muốn đứng đó thì cứ đứng, nàng nghĩ trong lòng. Nàng nhìn qua kẽ rèm, và thấy bóng dáng thầy tăng vẫn còn đúng trơ ra đó.
Ðêm đến. Trăng chiếu tràn lan. Bóng dáng thầy chùa vẫn đứng sững đó như một bộ xương trắng. Nàng chẳng cách gì mà nhắm mắt được, vì sợ. Tuy nàng quay lưng không nhìn ra ngoài, nhưng nàng vẫn cảm thấy được cái nhìn đau đáu của thầy tăng; như thế, tình yêu của ông ta nào có phải là một tình yêu dung tục; nhưng nàng vẫn cứ sợ sa phải địa ngục, và cứ phải nghĩ tới Cõi sạch. Nàng nghĩ là cái Cõi sạch duy nhất của nàng, ấy là cái cõi mà ở đó nàng được che chở khỏi những thương tích đớn đau; và Cõi sạch ấy không giống cái Cõi sạch của ông thầy chùa, và chẳng dính dáng gì đến mối tình của ông ta. Nàng cho rằng, nếu bộc bạch cái ý nghĩ đó cho thầy tăng, hẳn cái Cõi sạch mà nàng thầm nguyện sẽ sụp đổ ngay.
Cái tình yêu của thầy tăng, nàng tự nhủ, thiệt chẳng liên quan gì đến nàng, vì ông ta chỉ yêu bản thân mình, cho nên không lý gì nàng lại mất đi cái tư cách vào được Cõi sạch.
  Ðêm khuya dần và trời trở lạnh, thật lạnh. Nàng không còn tin chắc là lỡ thầy tăng chết gục, nàng sẽ chẳng chút động tâm.
  Thầy vẫn đứng. Mây phủ mờ và bóng dáng thầy tăng giờ đây trông thật quái lạ.  ”Mình với lão thầy chùa kia có liên quan gì với nhau đâu, hả trời!” nàng thét lên như thế trong lòng. ”Sao khi không lại có chuyện kỳ cục như vậy, thiệt không hiểu nổi!”
Thật là lạ, trong cái khoảnh khắc nàng thét lên như thế, nàng quên đi cái sắc đẹp của mình, hay nói đúng hơn, nàng đã làm cho mình quên.
Cuối cùng trời ngoài kia sáng dần. Thầy tăng vẫn đứng đó. Quí phi thua cuộc; nàng gọi gái hầu, cho triệu thầy tăng đến trước rèm, vào lúc thầy đang lên cơn sảng sốt, và xác đã tả tơi, hao kiệt. Thầy không còn biết rõ là thầy đang chờ nàng quí phi, hay đang chờ vào Cõi sạch. Dù thấy bọn gái hầu đi ra vườn tiến lại phía thầy, thầy vẫn không cảm thấy cái mình đang chờ đợi đang đến. Bọn gái hầu chuyển lời của nàng quí phi cho thầy. Thầy tăng kêu lúng búng trong miệng, tiếng kêu hãi sợ. Lời gì mà chẳng thành âm.
Bọn gái hầu đưa tay thử dẫn thầy vào, nhưng thầy rụt tay mình lại. Thế rồi, với bước đi vững chãi khác thường, thầy sải bước đi đến trước rèm quí phi.
Phía trong rèm, tối đen; từ phía ngoài, không thể nhìn thấy được quí phi. Thầy tăng quì xuống trước rèm, lấy hai tay che mặt mình, và thầy khóc.
Thầy khóc nức nở, thầy khóc lâu, mà chẳng thốt được lời nào. Và thầy cứ khóc mãi như thế cho thỏa nguồn cơn.
Thế rồi từ trong bóng tối nhập nhòa rạng đông, một bàn tay trắng như tuyết từ trong rèm ren rén đưa ra. Thầy tăng chụp lấy bàn tay ấy, bằng cả hai tay mình. Rồi áp vàp má, rồi áp lên trán.
Quí phi cảm thấy bàn tay lạ, lạnh lẽo đụng vào tay mình, và bàn tay lạ ấy ướt đẫm, và nóng. Và nàng cũng cảm được cái khí vị nhơ nhớp nơi cái bàn tay đẫm nước mắt của người kia. Rồi khi những tia nắng ban mai bắt đầu lọt qua mành, nàng bỗng nhiên bị chấn động mạnh bởi một linh cảm phi phàm, có cội nguồn từ lòng đạo.  Nàng nghĩ bàn tay mà nàng không thấy tỏ tường kia, nào có khác bàn tay đức Phật.
Trong lòng nàng ảo tưởng lại sống dậy. Nào là ngọc lưu ly Cõi sạch, nào là xum vầy lâu đài thất bảo, rồi bóng người nhà trời chơi nhạc, hồ bằng vàng rải sỏi ngọc thủy xương, hoa sen ngời ngời, tiếng hót của loài chim Ca-lăng-tầm-già... , tất cả đều sống lại. Một Cõi sạch như thế sẽ là của nàng, và bây giờ nàng vẫn tin như thế, và nàng vẫn tin chuyện nàng chấp nhận tình yêu của thầy tăng là điều tốt đẹp.
Nàng chờ người đàn ông có bàn tay Phật ấy xin nàng vén rèm hẳn lên; thầy ấy mà xin như thế, có lẽ nàng sẽ vén. Cái dáng dấp tuyệt thế giai nhân của quí phi quê Kinh Cực như độ nọ bên bờ hồ Chí Hạ có lẽ sẽ lai hiện. Và thầy tăng, có lẽ nàng sẽ triệu mời thầy...
Quí phi vẫn đợi.
Nhưng, thầy tăng vẫn câm lặng, và thầy cũng chẳng nguyện ước gì. Cái bàn tay già lão của thầy nắm chặt bàn tay quí phi. Ðôi bàn tay của thầy giờ đã buông xuôi; bàn tay tuyết trắng vẫn còn đọng lại trong nắng ban mai.
Thầy tăng ra đi. Lòng quí phi trở nên giá buốt.
Chỉ nội trong vài ngày có tin đồn tới kinh đô là khi thầy tăng về tới am cỏ, thầy mất.
Còn quí phi quê Kinh Cực, nàng bắt đầu chép kinh, những quyển kinh đẹp. Ðó là kinh Vô lượng thọ, kinh Pháp hoa, kinh Hoa nghiêm, những bản kinh thấm đượm lòng biết ơn.

Chú thích:
(1) Tịnh độ tông, còn gọi là Tịnh thổ tông, do đó tôi mạo muội thử dịch nôm là phái Cõi sạch. (2) Bình an: Heian (794 - 1185) (3) Núi Tu-di: Núi trong kinh Phật. Hòn núi lớn nhất trong trung tâm hoàn cầu, núi của tiên thánh, tinh tú xây quanh, lớn tới 84 ngàn do-tuần. (4) thủy tưởng quán (5) hoa đài chi tưởng (6) tổng tương quán (7) tạp lược quán (8) thực tướng (9) thực thể (10) vọng tưởng (11) tà niệm // Bản dịch này thân tặng con trai út Nguyễn Hiển Vi, 8 tuổi, đã tự ý bưng trà, bánh cho ba Thà nhiều lần, nhờ đó NVT đó có sức dịch xong truyện ngắn khó dịch này.

1 nhận xét

  1. Cảm ơn anh Phạm Phú Minh, anh Trần Minh Triết, BBT và các nhà văn, nhà thơ đã cho độc giả chúng tôi Giai Phẩm Xuân Bính Dần thật lộng lẫy, "hoành tráng", hay ho. Ai dám bảo tiếng Việt ở hải ngoại đang dẫy chết? Có mà tới Tết Công Gô!

    Trả lờiXóa

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)