Tìm kiếm Blog này

PHẠM PHÚ MINH - NHỮNG VÙNG ĐẤT QUẢNG NAM MÀ TÔI ĐÃ ĐI QUA

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016


Trong cuốn Chương Dân Thi Thoại do ông soạn, nhà văn Phan Khôi có trích hai câu này của ông Tú Hoàng Trung:
Lúc lắc đò qua Tý, Sé, Kẽm,
Gập ghềnh chân bước Râm, Ri, Liêu.

Tác giả cho biết ông Tú Hoàng Trung là người Phú Yên, khoảng cuối thập niên 1910 “cũng là người bôn tẩu quốc sự, hay ở tỉnh Quảng Nam, đi cùng khắp cả tỉnh”. Và ông viết tiếp về hai câu trên:
“Tôi là người Quảng Nam mà nghe cũng chẳng hiểu gì. Hỏi ra mới hay rằng Tý, Sé, Kẽm là tên mấy xứ đất ở ngõ nguồn Thu Bồn đi lên, về miệt làng Trung Phước; Râm, Ri, Liêu là tên ba cái đèo.”
Cuốn Chương Dân Thi Thoại xuất bản lần đầu năm 1936, vậy có thể suy ra ông Phan Khôi viết những điều này vào khoảng nửa trước của thập niên 1930. Một trí thức tương đối còn trẻ tuổi của tỉnh Quảng Nam thời ấy, khi nghe những địa danh như thế trong một “bài thơ hành trình” (tiếng của ông Phan Khôi) mà “chẳng hiểu gì”, chứng tỏ giới học thức trong tỉnh lúc đó có khuynh hướng tìm đến những trung tâm văn hóa lớn của đất nước như Huế, Hà Nội, Sài Gòn nhiều hơn là lặn lội thăm thú những vùng đất xa xôi của tỉnh  mình. Công việc ấy chỉ những nhà “bôn tẩu quốc sự”, tức đi hoạt động cách mạng, mới làm, để vận động và kết nạp đồng chí ở khắp nơi.
Nhưng đến thế hệ của tôi, sinh ra vào cuối thập niên 1930 đầu 1940 thì lại có cơ hội biết Quảng Nam nhiều hơn từ khi còn rất trẻ, nhờ cuộc tản cư đầu năm 1947 khi trận chiến tranh với Pháp bùng nổ. Giá dụ không có chiến cuộc ấy, đời sống của tôi phát triển bình thường: sau khi học xong tiểu học ở trường làng (Đông Bàn - Gò Nổi, Điện Bàn), sẽ tiếp tục xuống Hội An hoặc Đà Nẵng theo đuổi bậc trung học, rồi đi Huế hoặc Sài Gòn học lên cao hơn thì chắc tôi cũng giống như ông Phan Khôi, khi nghe đến những địa danh xa xôi của tỉnh nhà cũng sẽ “chẳng hiểu gì”. Nhưng theo thời cuộc tôi đã đi tản cư cùng gia đình, mới lên chín đã dùng đôi chân trần của mình đi đến bao nhiêu vùng đất xa lạ từ đồng bằng đến thượng du của tỉnh Quảng Nam, ít nhất khi mới ngoài mười tuổi thì những địa phương như Tam Kỳ, Khánh Thọ, Tiên Hội, Tiên Phước, Suối Đá, Cây Sanh, Quán Rườn, Chiên Đàn, Trung Phước, Đại Bình, Phú Gia, Tý, Sé, Dùi Chiêng, Phường Rạnh v.v... tôi đã có dịp đặt chân đến rồi. Nhưng hồi ức về những lần di chuyển không ngừng nghỉ trong thời kỳ đi tản cư ấy chỉ cho thấy những vùng đất của thời điểm cuối thập niên 1940, đầu 1950, những hình ảnh của một Quảng Nam cũ, cũng cũ như thời thơ ấu của tôi. Một số nơi tôi đã trở lại sau 1954 thì đã không còn như xưa, và nếu so với bây giờ thì lại càng khác biệt, chẳng khác nào so sánh truyện cổ tích với chuyện tân thời. Vả chăng khi nhớ về những hồi ức xa thì cũng là lặn vào một vùng cổ tích của đời mình vậy.
*
Cuộc hành trình bắt đầu vào một ngày không xa sau Tết Đinh Hợi 1947. Ăn Tết xong, chúng tôi lại đến trường làng để đi học như thường lệ, nhưng không ngờ đó là lần đến trường cuối cùng: trước đám học sinh tập họp ở sân trường, ông hiệu trưởng cho biết kể từ hôm nay trường sẽ đóng cửa vì chiến cuộc đang lan đến. Thời điểm ấy quân Pháp đã chiếm Đà Nẵng, Vĩnh Điện, Hội An, và một hôm, một quả đại bác đột nhiên rơi xuống nổ ầm trong làng tôi, may là ở chỗ vắng bên bờ sông, không ai việc gì, nhưng tiếng nổ đã đánh động mọi người rằng thời an bình đã hết, chiến tranh đang đến gần. Những đoàn người tản cư bắt đầu đi ngang qua làng tôi để đến những vùng xa hơn. Một số gia đình quen biết với gia đình tôi từ Hội An đi tản cư bằng ghe ghé lại ở nhà chúng tôi vài hôm rồi lại tiếp tục ngược dòng Thu Bồn đi lên vùng mạn ngược. Vì những đoàn người ấy, làng tôi vốn yên ả và vắng lặng, bỗng nhộn nhịp hẳn lên, như thúc dục chúng tôi sớm lên đường theo họ.
Và gia đình chúng tôi lên đường vào một buổi chiều, khi nắng đã xế. Sao lại ra đi vào buổi chiều? Hình như trong thời kháng chiến Pháp nhiều nơi cũng bắt đầu cuộc hành trình vào buổi chiều. Trong bài hát Nhớ Người Ra Đi sáng tác năm 1947, Phạm Duy cũng đã viết:
Em tiễn anh ra mãi tận đầu thôn
Một hôm lúc trâu bò về chuồng
Rồi em nhớ em mong...
Lúc trâu bò về chuồng là thời điểm của ngày tàn. Ra đi lúc ấy thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến chăng? Chỉ biết buổi chia tay của chúng tôi với ngôi nhà cũ vừa mang vẻ kích thích mới lạ lại vừa buồn buồn. Nhóm ra đi gồm thầy tôi, chị Ba tôi, anh Hòa, anh Hiệp, anh Hiển và tôi. Nhóm ở lại có ông nội tôi lúc đó đã 84 tuổi, cô Tư tôi và Lợi, em út của tôi bấy giờ mới lên sáu. Lợi ở lại vì lúc đó đang bị đau, sẽ nhờ người mang vào địa điểm tản cư sau.
Chúng tôi ra đi, mỗi người mang một túi quần áo trên vai, băng cánh đồng Đông Bàn đi về phía nam, bóng đoàn người đổ dài trên thảm lúa xanh. Qua làng Nam Dương, qua nhánh sông Thu Bồn phía nam cạn nước, chúng tôi đi mãi cho đến khi gặp đường rầy xe lửa, bây giờ nhớ lại tôi đoán là vùng Trà Kiệu, rồi bắt đầu theo đường sắt đi về hướng nam. Các anh lớn của tôi biểu diễn nhiều kiểu đi, người thì đi thăng bằng trên thanh đường rầy cố được càng xa càng tốt, người thì nhảy từng bước trên mỗi thanh tà-vẹt. Tôi và anh Hiển, mới chín và mười tuổi, cảm thấy thích thú với các trò chơi của các anh, nhưng chưa bắt chước được.
Tối hôm đó có trăng, khi đã hơi khuya thì chúng tôi dừng lại nghỉ tại một rừng dương liễu bên đường. Các anh của tôi đều là hướng đạo sinh nên tỏ ra rất tháo vát trong việc dọn chỗ ngủ cho gia đình, cào cát thành bằng phẳng rồi trải mền cho mọi người ngủ. Đây là lần đầu tiên tôi ngủ ngoài trời, nằm dưới đất nhìn thẳng lên bầu trời sao thưa đầy ánh trăng, chưa kịp có một cảm tưởng gì đã chìm sâu vào giấc ngủ.
Từ cái đêm ngủ ngoài trời ấy, tôi bắt đầu một cuộc chuyển dịch trong một không gian khá rộng lớn đối với một đứa trẻ lên mười, thời gian là từ đầu năm 1947 đến mùa hè năm 1952, là lúc tôi hồi cư về Đông Bàn rồi xuống gia nhập vào cuộc sống thành thị tại Hội An.
*
Trên tất cả các nẻo đường trong tỉnh Quảng Nam mà tôi đã đi qua thời ấy, tôi hoàn toàn dùng đôi chân trần của mình, đó là điều mà bây giờ nhìn lại tôi cũng phải ngạc nhiên. Trừ một vài lần đi đò dọc từ Tam Kỳ đến An Tân (Bến Ván) để từ đây đi tiếp vào Quảng Ngãi, còn lại tất cả các đường đất trong tỉnh Quảng Nam tôi đều đi bộ, với đôi chân không giày dép, từ lúc rời làng ra đi cho đến chuyến về lại làng xưa. Tôi sẽ ghi lại một số các địa phương đáng chú ý mà tôi đã đến và cư ngụ, theo những ký ức có khi không được rõ nét còn lưu lại trong tôi.
Từ đầu năm 1947, tất cả cơ quan “hành chánh kháng chiến” của tỉnh Quảng Nam đều đóng tại Tiên Phước, một huyện nằm trong góc Tây Nam của tỉnh. Từ Tam Kỳ theo tỉnh lộ đi về phía tây 25 cây số là đến huyện lỵ Tiên Phước. Thầy tôi hồi đó là trưởng ty Giáo dục Quảng Nam, gia đình tôi khi đến Tiên Phước cũng bám theo trụ sở của ty. Gọi là trụ sở, thực ra tất cả các cơ quan tỉnh đều đóng rải rác tại nhà dân trong làng Tiên Hội cách huyện lỵ Tiên Phước vài ba cây số. Đây là vùng núi, làng mạc, nhà cửa khác với vùng đồng bằng. Người ta không làm nhà trên những khoảnh ruộng ít ỏi nằm giữa các trái núi, mà san bằng chân núi ra để cất nhà, vì thế phía sau nhà đều nhìn lên một sườn núi. Phía trước nhà người ta xếp những viên đá tròn với đất để làm một bức tường thành cao độ hơn một mét để làm hàng rào.
Có một điều làm tôi vô cùng thích thú là nơi đây vườn nhà nào cũng trồng quế, loại vỏ cây cay cay ngọt ngọt thơm thơm mà trước kia thỉnh thoảng tôi mới có được một mảnh nhỏ xíu để nhấm nháp, thì bây giờ tôi được sống giữa một rừng cây quế. Đó là loại cây thân mộc cao trung bình khoảng ba bốn thước khi bắt đầu có thể khai thác vỏ, nhưng những cây lâu năm thì cao vút và thân khá lớn. Muốn có một miếng vỏ quế tươi, tụi trẻ con chúng tôi dùng dao xắn một hình vuông bằng nửa bàn tay trên cây quế, rồi lột mảnh vỏ đó ra. Quế tươi hăng nồng, không ngon bằng quế khô, thành ra chúng tôi cũng không ham trò lấy vỏ quế này lắm. Có cái lạ là sau khi lột một miếng vỏ quế, người ta lấy đất ướt đắp vào chỗ đó, ít lâu sau vỏ mọc liền lại chỗ bị lột. Ở phố chợ huyện lỵ Tiên Phước bấy giờ có một tiệm thuốc bắc của người Tàu, anh tôi có lần đi hốt thuốc tại đó về kể rằng trong toa có vị “quế chi” (cành quế), ông Tàu chủ tiệm đi ra vườn bẻ một nhánh quế khô vào lấy dao xắt lát bỏ vào thang thuốc, thế là xong.
Đến mùa lột vỏ quế, người thu mua đến từng nhà bàn định giá cả, khi đã thỏa thuận thì toán thợ lột vỏ bắt đầu làm việc. Họ dùng những con dao rất sắc, bắt đầu từ gốc cây, cắt khoanh một vòng quanh thân cây, rồi khoanh một vòng khác cách vòng trước khoảng bốn tấc tây, xong vạch một đường thẳng nối hai đường vừa cắt. Với một dụng cụ khác giống như chiếc đũa bếp một đầu dẹt, người thợ lách vào chỗ vỏ vừa bị cắt xoay một vòng, thế là cả một mảng vỏ nhanh chóng rời khỏi thân cây, mang hình một cái ống. Đó là một “ống quế”, khi đã được phơi khô vẫn giữ hình dạng như vậy.
Cũng tại Tiên Phước lần đầu tiên tôi được thấy cách nuôi ong. Người ta đóng một cái thùng vuông bằng gỗ mỗi bề chừng nửa thước, ở một mặt có cửa nhưng luôn luôn đóng kín, ong ra vào thùng qua những lỗ nhỏ được đục quanh thùng. “Thùng ong” được treo dưới mái hiên đầu nhà, người ta phải tìm cách bắt con ong chúa bỏ vào đó, bầy ong sẽ theo và làm tổ trong thùng. Mỗi ngày ong bay đi hút mật trong rừng núi về xây dựng từng miếng sáp treo lơ lửng trong thùng, mỗi miếng gọi là một “tầng ong” gồm vô số lỗ nhỏ để ấu trùng ong nằm, ong thợ mang mật về bỏ trong các lỗ ấy. Chờ đến thời gian các “tầng” đầy mật thì người nuôi ong sẽ lấy mật. Anh ta trang bị rất kỹ: đội nón, đeo kính, trùm đầu và mặt bằng một miếng vải mùng, đốt một điếu thuốc để khi mở cửa thùng ra thì phà khói thuốc vào thùng để đuổi ong bay đi, rồi nạy các “tầng ong” bỏ vào một cái tô lớn. Sau khi lấy các ấu trùng bỏ riêng ra thì người ta vắt các tầng ong để lấy mật. Ấu trùng được thả vào một nồi cháo đang sôi, sẽ có món cháo ong rất ngon ngọt, còn xác tầng ong sau khi vắt mật là sáp ong.
Thế giới của tôi tại Tiên Phước là ngôi nhà tranh vách đất nhưng khá khang trang của ông bà Ẩn mà gia đình tôi trú ngụ, con đường ngoằn nghèo quanh co men theo những mảnh ruộng nhỏ dẫn tôi đi đến “ngôi trường một lớp” của ông thầy giáo Qua gầy gò ốm yếu nhưng có rất nhiều sách Truyền Bá (sách dành cho trẻ em, do hội Truyền Bá Quốc Ngữ xuất bản tại Hà Nội trước 1945) để cho tôi mượn. Trong thời gian học ở đây tôi đã được đọc quyển Ngọn Cờ Lau kể chuyện Đinh Bộ Lĩnh thời còn nhỏ, chia phe đánh nhau giữa bọn trẻ chăn trâu thuộc Thung Lau, Thung Lũng và Thung Lụi mà niềm say mê câu chuyện hấp dẫn còn đọng lại trong ký ức của tôi cho đến tận tuổi già. Một lần thầy Qua đã dẫn cả lớp đi du ngoạn sông Tranh, tôi nhớ chỉ là một dòng nước nhỏ chảy trên một vùng sỏi đá, mà sau này lớn lên nhìn vào bản đồ tôi mới biết đó là chỗ phát nguyên của con sông Thu Bồn nổi tiếng của Quảng Nam.
Một lần, tôi được thầy (cha) tôi dẫn đi thăm một nhà giàu trong vùng, một cơ ngơi nhà ngói rất lớn, có cổng xây bên ngoài, trong nhà có nuôi cả một bầy chó săn. Tôi nhớ tiếp chúng tôi là một người trẻ tuổi mặc áo dài đen tên là Tuân. Chính người này sau 1954 đã ra Huế thành lập nhà xuất bản Anh Minh chuyên xuất bản những di cảo của cụ Phan Bội Châu.
Các anh tôi đã có dịp đi đến Thạnh Bình là quê của cụ Huỳnh Thúc Kháng, cách Tiên Phước không xa. Hồi đó tuy còn nhỏ, tôi vẫn thấy tiếc mình không được đi đến nơi ấy, mà tôi nghe nói trồng chè rất nhiều, thảo nào cụ Huỳnh có tên hiệu là Mính Viên (vườn chè).
Nhờ chuyến đi tản cư đến Tiên Phước, tôi biết được thế nào là đời sống ở một vùng thượng du, biết một số cây thổ sản của vùng này như cây quế, cây tiêu, cây chè, biết con sông Tranh, được gặp ông Tuân, được biết quê cụ Huỳnh Thúc Kháng không xa nơi mình ở..., đó cũng là những “mở mang” quan trọng cho một cậu bé lên mười là tôi.
*
...
Khoảng đầu năm 1950 thầy tôi đổi vào Bồng Sơn (Bình Định) để làm việc cho ngành giáo dục liên khu 5, tôi được gởi ra Trung Phước cho cậu Mười (em mẹ tôi) coi sóc để đi học lớp bốn (tức lớp nhất). Tại Trung Phước, cậu Mười tôi cũng là dân tản cư (từ Đại Lộc lên), cư ngụ tại nhà ông Cửu Thứ (thân phụ của bác sĩ Bùi Kiện Tín, các anh Bùi Như Sơn, Bùi Như Hải) để dạy học tại trường ở đây, cậu gởi tôi ở trọ tại nhà ông bà Thủ Đáng là thân sinh của nhà thơ Tạ Ký. Khoảng mươi năm trước khi thầy tôi làm hiệu trưởng trường tiểu học Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi thì ông bà Thủ Đáng đã gửi anh Tạ Ký vào trọ học tại nhà thầy mợ tôi. Thời gian qua, thời cuộc đổi thay, giờ đây trên đường tản cư, đến phiên tôi lại trọ học tại nhà ông bà thân sinh anh Tạ Ký, thật là duyên nợ qua lại.
Để đến Trung Phước, tôi đã trải qua một chuyến đi bộ dài nhất đời tôi, kể cho tới nay. Bốn giờ sáng chúng tôi ba người gồm anh Hiệp tôi, anh Tạ Hồng Nguyện là em anh Tạ Ký và tôi khởi hành từ Tam Kỳ, theo quốc lộ 1 ra đến Chiên Đàn thì quẹo trái đi về hướng tây, gặp đường xe lửa đi về hướng Bắc một đoạn dài, rồi rẽ vào một đường đất đi xéo theo hướng Tây Bắc. Đó là con đường vô tận đối với tôi, một cậu bé chân trần, 12 tuổi. Chúng tôi đi mãi, đi mãi, dưới nắng chang chang, mãi đến gần tối thì đến chân một quả núi. Tôi tưởng đoàn lữ hành sẽ dừng lại qua đêm ở đây, vì tôi đã cảm thấy đuối quá rồi, nhưng không, sau một lúc nghỉ ngơi ăn uống, hai anh Hiệp và Nguyện quyết định đi tiếp. Chúng tôi đi qua quả núi trước mặt, chúng tôi vượt đèo Le trong đêm tối. Tôi cố bám các anh, đi như trong một cơn mộng du. Thế mà trong đêm ấy, không những chúng tôi qua khỏi đèo Le mà còn đi một mạch mươi cây số nữa để đến hẳn Trung Phước. Trong ngày hôm đó chúng tôi đã đi 60 cây số. Hôm sau chân tôi sưng vù, đi cà nhắc.
Sau này mỗi lần nghĩ đến đèo Le thì tôi lại nhớ một câu thơ của ông bác tôi, bác Đề Thuần:
Lên đỉnh đèo Le, lưỡi cũng le 
Và mấy câu thơ của anh Tạ Ký:
Trăng sáng đèo Le
Mây che Giảm Thọ
Dù cho mưa gió
Không bỏ được đèo... 
Làng Trung Phước nằm trên hữu ngạn con sông Thu Bồn, thời kháng chiến Pháp là một thị trấn phồn thịnh. Thuộc miền trung du của tỉnh Quảng Nam nhưng Trung Phước có một vùng đồng ruộng bằng phẳng khá rộng được núi bao quanh, về phía đông có núi Phường Rạnh, phía nam bởi dãy núi đèo Le với một đỉnh cao hơi cong trên chỏm gọi là núi Quắp, phía tây với các đồi núi Mộ Long và ngọn Cà Tang. Bên kia sông, làng Đại Bình, lại là một bình nguyên chạy dài mãi vào dãy núi xa xa về hướng bắc. Cũng bên kia sông, xế về phía tây là mỏ than Nông Sơn.
Trong thời kháng chiến, có lẽ Trung Phước vào cuối thập niên 1940, đầu 1950 là nơi phồn thịnh nhất tỉnh Quảng Nam về kinh tế lẫn nhân văn. Và có lẽ về quân sự nữa. Từ địa điểm khá cao này của con sông Thu Bồn, Trung Phước nhìn ngay xuống vùng Pháp chiếm đóng mà địa điểm xa nhất là đồn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc. Phía kháng chiến, tất cả tiếp tế cho chiến trường dưới ấy đều từ Trung Phước. Các đội dân công từ phía nam mang gạo và đạn dược đều dừng lại giao hàng tại Trung Phước để từ đây sẽ được phân phối đến miền dưới. Tôi biết điều ấy vì tôi ở nhà ông Thủ Đáng, tòa nhà ngói rất rộng của ông từng làm kho gạo do các chuyến dân công mang tới, và đôi lần, người ta cũng mang những chuyến hàng toàn là mìn với lựu đạn được chế tạo tại một công binh xưởng nào đó phía nam.
Dân chúng ở đây có một nền kinh tế sung túc, trong vùng có nhiều nhà giàu, nhưng vào thời điểm này Trung Phước biến hẳn thành một thị trấn rộn rịp của thời chiến. Dân tản cư từ vùng dưới đến đây đã mở nhiều quán hàng dọc theo con đường chính, quán cà phê, tiệm ăn, xưởng dệt, nhiều nhà buôn các thổ sản địa phương, và kín đáo hơn, buôn những loại “hàng ngoại hóa” đưa từ “vùng bị chiếm” lên. Cũng vì số cư dân tản cứ ấy cộng với người địa phương mà ở đây có nhu cầu mở trường tới lớp 4, là ngôi trường mà tôi theo học năm ấy. Rõ ràng học sinh gồm hai thành phần rõ rệt: dân địa phương và dân tản cư, tôi nhớ dân tản cư có vẻ đông hơn. Cũng theo con sông Thu Bồn đi ngược lên phía thượng nguồn mươi cây số nữa thì đến Phú Gia, tại đây lại có tổ chức một trường trung học, điều này cho thấy rõ ý đồ xây dựng một loại “hậu phương” vững mạnh của phe kháng chiến tại vùng này.
Tôi chỉ ở Trung Phước đúng một năm học, vào mùa hè năm 1951 tôi từ giã Trung Phước để lại cuốc bộ thẳng vào Quảng Ngãi để theo học năm đầu của bậc trung học. Chỉ một năm nhưng kỷ niệm rất nhiều. Tại đây tôi đã có những người bạn mà tình thân còn mãi cho tới bây giờ, như hai anh Bùi Như Sơn, Bùi Như Hải. Dĩ nhiên đã thân thiết với anh Tạ Ký để sau này sau 1954 vào Sài Gòn lại nối tiếp các sinh hoạt hào hứng, thân thiết hơn nữa. Hồi đó chỉ thỉnh thoảng tôi thấy anh Bùi Giáng, nhưng ông thân sinh của anh là ông Cửu Tý thì tôi lại có dịp gặp luôn, vì ông là bạn của ông Thủ Đáng, thỉnh thoảng ghé chơi, cười nói chòng ghẹo lung tung rất hồn nhiên. Cũng trong năm ấy tôi biết các anh Trần Huỳnh Hội, Trần Huỳnh Châu con cụ Đốc Cảnh là người địa phương tại đây, thường đến chơi với anh Tạ Ký, biết anh Tường Linh sau này là nhà thơ Tường Linh ở Sài Gòn... Tôi cũng gặp một số bà con bên ngoại của tôi từ Quảng Huế (Đại Lộc) tản cư lên đây, có một lần tôi mạo hiểm theo một người anh cô cậu về tận Đại Lộc sát với vùng bị chiếm để nhìn thấy đồn Núi Đất ở xa xa... Tôi cũng được đi ngược sông Thu Bồn để đến Phú Gia, Tý, Sé, Dùi Chiêng, những địa danh mà ông Phan Khôi thời thập niên 1930 nghe tới mà chẳng biết đó là cái gì.
Đối với một thiếu niên, thế đã là nhiều. Với những ký ức rất phong phú vẫn còn sinh động trong tôi, đáng lẽ tôi phải kể thêm nhiều chi tiết thú vị (cũng như không thú vị chút nào, nhưng giờ đây cũng trở thành thú vị) của một năm sống tại Trung Phước, nhưng thôi, xin hẹn một dịp khác. 
Những ngã đường đây đó trong tỉnh Quảng Nam mà tôi đã đi qua trong thời tản cư nếu tính thành chiều dài thì chắc cũng được mấy trăm cây số, nhưng riêng trong tâm hồn tôi thì đó là một vốn liếng giàu có trải dài vô tận với thời gian, tôi còn sống tới đâu thì những hình ảnh ấy còn theo tôi đến đó. Chính đất đai, sông ngòi, núi non, cuộc sống của đồng bào mỗi nơi mà tôi đã có dịp gặp thời còn non dại đã thành những yếu tố gầy dựng nhân cách và bản lĩnh của tôi về sau, mà nhiều khi tôi không ý thức được. Giờ đây, vào tuổi già, tôi cảm thấy phải tri ân tất cả những gì mà quê hương đã đóng góp để làm nên tôi. Với vốn liếng ấy, tôi có thể đi và sống khắp nơi trên thế giới này mà lúc nào tôi cũng vẫn là một người Việt Nam, hoặc chi tiết hơn, lúc nào cũng vẫn là một người dân Quảng Nam. 
PPM 
(Trích đoạn và giản lược bớt chi tiết từ cuốn Hồi Ức của tác giả)


Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét

 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng cũng là một truyện kể đầy nghệ thuật; thể loại viết này tôi cho là rất mới, giúp bạn đọc nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, với tô đậm nét quyến rũ của những tư liệu quý hiếm mà Ngô Thế Vinh có được. -- Phạm Phú Minh

Góp ý


Đây là một cuốn sách về mỹ thuật hiếm có của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Tưởng Niệm
NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN

Tưởng Niệm<br>NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"

HỘI THẢO "TỰ LỰC VĂN ÐOÀN"
Nguồn gốcTự Lực Văn Đoàn là một tổ chức hoạt động để đổi mới văn học Việt Nam từ năm 1932 đến 1945...

Giới thiệu

GIỚI THIỆU

GIỚI THIỆU
Gửi Người yêu và Tin - ... Từ Huy đã viết cuốn tiểu thuyết Gửi Người Yêu Và Tin với một ngòi bút tỉnh táo và sắc bén của một nhà phân tích tâm lý và một nhà phê phán xã hội và, dưới ngòi bút ấy, nhân vật chính trong tác phẩm — một nhân vật hư cấu nhưng đích thực là điển hình của loại người đang làm mục ruỗng xã hội và đạo đức ở Việt Nam hiện nay — tự phơi bày bản chất qua nhiều chặng biến đổi khác nhau từ trang sách đầu tiên cho đến trang sách cuối cùng... (Hoàng Ngọc-Tuấn)